Nghiên cứu hiệu quả một số mô hình nông lâm kết hợp tại xã Cát Thịnh huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái - Pdf 42

Header Page 1 of 133.

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ VUI

NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ MỘT SỐ MÔ HÌNH NÔNG LÂM
KẾT HỢP TẠI XÃ CÁT THỊNH, HUYỆN VĂN CHẤN,
TỈNH YÊN BÁI

Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Khoá học

: Chính quy
: Quản lý tài nguyên rừng
: Lâm nghiệp
: 2011 - 2015

Thái Nguyên, năm 2015

Footer Page 1 of 133.


Header Page 2 of 133.

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


Thái Nguyên. Em thực tập tại xã Cát Thịnh - huyện Văn Chấn - tỉnh
Yên Bái với đề tài: “Nghiên cứu hiệu quả một số mô hình nông lâm
kết hợp tại xã Cát Thịnh - huyện Văn Chấn - tỉnh Yên Bái”.
Trong quá trình thực hiện chuyên đề, ngoài sự nỗ lực của bản thân em
còn nhận được nhiều sự giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường Đại học Nông
lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp và sự tận tình giảng dạy
của các thầy cô giáo suốt 4 năm học vừa qua.
Với lòng biết ơn sâu sắc em xin cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm
khoa cùng toàn thể các thầy cô giáo. Đặc biệt, em xin cảm ơn thầy giáo phó
giáo sư tiến sĩ Trần Quốc Hưng người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt
thời gian thực hiện chuyên đề.
Em cũng chân thành cảm ơn các cô, chú tại Uỷ ban nhân dân xã Cát
Thịnh đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ em trong thời gian thực tập tại xã.
Em cũng xin gửi lời biết ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã động
viên, giúp đỡ em suốt thời gian học tập vừa qua.
Do thời gian thực tập và điều kiện có hạn cho nên chuyên đề của em
khó tránh khỏi những thiếu sót, kính mong thầy cô giáo và các bạn sinh viên
đóng góp ý kiến để chuyên đề của em hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày

tháng

Sinh viên

Nguyễn Thị Vui

Footer Page 3 of 133.

năm 2015


Header Page 5 of 133.

iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang

Hình 1: Sơ đồ lát cắt hệ thống R – Rg- Ao- C...........................................................44
Hình 2: Sơ đồ lát cắt hệ thống R – Rg – C ................................................................47
Hình 3: Sơ đồ lát cắt mô hình R- Rg- Ao ..................................................................50
Hình 4: Sơ đồ Venn thể hiện mối quan hệ giữa các tổ chức với phát triển các mô
hình NLKH ...................................................................................................................54

Footer Page 5 of 133.


Header Page 6 of 133.

iv

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
NLKH

: Nông lâm kết hợp

ICRAF

: Trung tâm Quốc tế về nghiên cứu Nông lâm kết hợp

PRA

: Rừng - Ruộng

Footer Page 6 of 133.


Header Page 7 of 133.

v

MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU......................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề ................................................................................................................ 1
1.2. Mục đích .................................................................................................................. 3
1. 3. Mục tiêu .................................................................................................................. 3
1.4. Ý nghĩa của đề tài ................................................................................................... 3
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học ................................................ 3
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn sản xuất .................................................................................. 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ............................ 5
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu ................................................................ 5
2.1.1. Các khái niệm ...................................................................................................... 5
2.1.2. Đặc điểm các mô hình Nông lâm kết hợp ......................................................... 6
2.2. Tình hình nghiên cứu về NLKH trên thế giới ...................................................... 6
2.3. Tình hình nghiên cứu trong nước .......................................................................... 9
2.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu ...........................................................................12
2.4.1. Điều kiện tự nhiên .............................................................................................12
2.4.2. Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.................................................................18
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ................................................................................................................ 21
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ...........................................................................21

5.2. Tồn tại ....................................................................................................................61
5.3. Kiến nghị ...............................................................................................................61
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 63

Footer Page 8 of 133.


Header Page 9 of 133.

1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam với tổng số diện tích đất tự nhiên là 330.000km2, trong đó
trên 70% diện tích là đất dốc, chính vì vậy hiện tượng xói mòn, rửa trôi và
thoái hoá đất ở vùng đất dốc xảy ra thường xuyên và ngày càng có tính chất
nghiêm trọng. Đặc biệt trong giai đoạn gần đây dưới sức ép của dân số, nguồn
đất dự trữ ở đồng bằng đã sử dụng hết, bình quân diện tích đất tự nhiên trên
đầu người chỉ 0,46 ha (Nguyễn Văn Bích, 1983) [1], để đảm bảo nhu cầu về
lương thực người dân đã mở rộng diện tích đất canh tác bằng việc khai phá
rừng, cho nên nạn chặt phá rừng ngày càng xảy ra mạnh mẽ, dẫn đến suy
thoái tài nguyên rừng và môi trường như: Độ che phủ rừng cả nước giảm từ
40,7% (1940) xuống chỉ còn 27,7% (1993) (NXB chính trị quốc gia, 2005)
[2], các diện tích rừng còn lại phần lớn là rừng nghèo kiệt, trữ lượng gỗ thấp
và ít loài cây có giá trị kinh tế. Mất rừng kéo theo nhiều hậu quả nghiêm
trọng, gây lũ lụt hạn hán, mất đi sự đa dạnh sinh học.....
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
thành phần hàng đầu của môi trường sống, là một trong những điều kiện
không thể thiếu cho hoạt động sản xuất và đời sống của con người. Việc xây
dựng kế hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa vô cùng to lớn không chỉ trước mắt

đấtnhằm sử dụng đất một cách bền vững. Do vậy, để có thể nâng cao hiệu quả
sử dụng đất đai, góp phần nâng cao năng suất cây trồng . Việc quy hoạch sử
dụng đất khu vực miền núi là việc làm cần thiết góp phần cải thiện và nâng
cao đời sống nhân dân khi vực miền núi.
Cát Thịnh là xã miền núi, vùng cao. Cát Thịnh là xã vùng ngoài huyện
Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Cách trung tâm huyện lỵ Văn Chấn khoảng 20km,
cách thành phố Yên Bái khoảng 50km. Có tổng diện tích theo ranh giới hành
chính là 16.912,28 ha.Trong đó diện tích đất nông nghiệp: 15883,13 ha chiếm
93,9% diện tích đất tự nhiên của toàn xã, diện tích đất phi nông
nghiệp:160,6ha chiếm 1% diện tích đất toàn xã. Diện tích đất chưa sử dụng:
868,54ha, chiếm 5,1% diện tích đất toàn xã.Với 26 xóm và có 11 dân tộc anh

Footer Page 10 of 133.


Header Page 11 of 133.

3
em cùng sinh sống đó là: Kinh, Tày, Nùng, H Mông,… Do trình độ đân trí
chưa cao nên sản xuất còn manh mún, đời sống nhan dân còn gặp nhiều khó
khăn, cơ sở hạ tầng còn kém phát triển. Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn
trên nên tôi đã chọn xã Cát Thịnh để thực hiện đề tài này:” Nghiên cứu một
số mô hình nông lâm kết hợp điển hình tại xã Cát Thịnh huyện Văn Chấn”
đề tài này sẽ góp phần cho xã có thêm tài liệu để phát triển các mô hình nông
lâm kết hợp có tiềm năng và bền vững, môi trường sinh thái sẽ được cải thiện,
sức khỏe cộng đồng sẽ được đảm bảo.
1.2. Mục đích
Đánh giá hiệu quả một số mô hình NLKH điển hình tại xã Cát ThịnhHuyện Văn Chấn- Tỉnh Yên Bái.
1. 3. Mục tiêu
Đánh giá được hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của một số mô

Footer Page 12 of 133.


Header Page 13 of 133.

5
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
2.1.1. Các khái niệm
Nông lâm kết hợp là một lĩnh vực khoa học mới được đề xuất vào thập
niên 1960 bởi Keng (1969). Lịch sử phát triển về khái niệm mô hình NLKH
được các nhà nghiên cứu diễn tả và phát triển nó:
Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai vững bền làm gia
tăng sức sản xuất tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất các loại hoa màu (kể
cả cây trồng lâu năm), cây rừng hay với gia súc cùng lúc hay kế tiếp nhau trên
một diện tích đất và áp dụng các kỹ thuật canh tác tương ứng với các điều
kiện văn hoá xã hội của dân cư địa phương (Benn và các cộng sự, 1977).
Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai trong đó các sản
phẩm rừng và trồng trọt được sản xuất cùng lúc hay kế tiếp nhau trên các diện
tích thích hợp để tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồng
dân cư tại địa phương (PCARRD, 1979).
Nông lâm kết hợp là một hệ thống sử dụng đất trong đó phối hợp cây
lâu năm với hoa màu và/hay vật nuôi một cách thích hợp với điều kiện sinh
thái và xã hội, theo hình thức phối hợp không gian và thời gian, để tăng sức
sản xuất tổng thể của thực vật trồng và vật nuôi một cách bền vững trên một
đơn vị diện tích đất, đặc biệt trong các tình huống có kỹ thuật thấp và trên các
vùng đất khó khăn (Nan, 1987).
Nông lâm kết hợp là tên chung của những hệ thống sử dụng đất trong
đó các cây lâu năm (cây gỗ, cây bụi, cọ, tre, hay cây ăn quả, cây công

2.2. Tình hình nghiên cứu về NLKH trên thế giới
Canh tác cây thân gỗ cùng với cây trồng nông nghiệp trên cùng một
diện tích là một tập quán sản xuất lâu đời của nông dân ở nhiều nơi trên thế
giới. Theo King (1987), cho đến thởi Trung cổ ở châu Âu vẫn tồn tại một tập
quán phổ biến là “chặt và đốt” rồi sau đó tiếp tục trồng cây thân gỗ cùng với
cây nông nghiệp sau khi thu hoạch nông nghiệp. Hệ thống canh tác này vẫn

Footer Page 14 of 133.


Header Page 15 of 133.

7
tồn tại ở Phần Lan cho đến cuối thế kỷ XIX và vẫn còn ở một số vùng của
Đức đến tận những năm 1920.
Cuối thế kỷ XIX, hệ thống Taungya bắt đầu phát triển rộng rãi ở
Myanmar dưới sự bảo hộ của thực dân Anh. Trong các đồn điền trồng cây gỗ
tếch người lao động được phép trồng cây lương thực giữa các hàng cây tếch
chưa khép tán để giải quyết nhu cầu lương thực hàng năm. Phương thức này
sau đó được áp dụng rộng rãi ở Ấn Độ và Nam Phi.
Nông lâm kết hợp hạn chế sự suy giảm tài nguyên rừng, bảo vệ và nâng
cao độ phì của đất. Chính vì vậy mà ngay từ các kỳ họp vào năm 1967 và
1969 của Tổ chức nông lương thế giới (FAO) đã quan tâm đến vấn đề này và
đi đến một sự thống nhất đúng đắn là: “Áp dụng các biện pháp nông lâm kết
hợp là phương thức tốt nhất để sử dụng đất rừng nhiệt đới một cách hợp lý,
tổng hợp nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm và sử dụng lao động
dư thừa đồng thời thiết lập lại cân bằng môi trường sinh thái”
Năm 1977, hội đồng quốc tế về nghiên cứu NLKH được thành lập, năm
1991 đổi thành trung tâm quốc tế nghiên cứu NLKH (ICRAF). Nhờ có sự
quan tâm đầu tư nghiên cứu và tuyên truyền phổ biến thông tin của các tổ

dựa trên cơ sở kết hợp trồng rừng quy mô nhỏ với sản xuất cây lương thực, thực
phẩm. Bố trí diện tích canh tác của hệ thống: 40% nông nghiệp + 60% lâm
nghiệp. Hệ thống này đòi hỏi đầu tư rất cao về nguồn lực. Trong đó người dân sử
dụng vùng đất thấp ở dưới chân đồi để trồng cây lương thực và những cây cố định
đạm, phần đất cao ở bên trên từ sườn đến đỉnh tiến hành trồng rừng.
- Hệ thống SALT 4 (hệ thống sản xuất cây ăn quả với quy mô nhỏ ): Hệ
thống này là sự phát triển sau của các hệ thống SALT ở trên, kỹ thuật canh tác
của hệ thống như sau: 60% cây lâm nghiệp + 15% cây nông nghiệp + 25%
cây ăn quả, kỹ thuật này được xây dựng và hoàn thiện vào năm 1992. Trong
hệ thống này, ngoài đất đai để trồng cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp, cây
băng chắn người dân còn dùng một phần đất để trồng cây ăn quả và một số
loài cây công nghiệp khác. Đây là hệ thống cần đầu tư nhiều về tài chính,
công chăm sóc và đòi hỏi kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm.

Footer Page 16 of 133.


Header Page 17 of 133.

9
Tháng 5-1990, Hội thảo quốc tế về NLKH khu vực châu Á Thái Bình
Dương đã được tổ chức, có 12 nước tham gia trong đó có Việt Nam được tổ
chức tại Bangkok, Thái Lan. Hội nghị đưa ra một số nguyên nhân cần thiết
phải mở rộng và phát triển NLKH trong khu vực do đây là khu vực có dân số
chiếm 69% dân số thế giới, trong khi đó diện tích đất sản xuất lại không lớn.
Von Uc Kill bsg Bosshart (1998) sau khi nghiên cứu về sự phát triển
nông lâm nghiệp ở vùng nhiệt đới đã rút ra kết luận: “Cây lâu năm là những
cây trồng có khả năng sản xuất lâu bền và thích hợp với điều kiện khắc
nghiệt. Những thí nghiệm ở Pêru chỉ rõ cần tính toán đến các nhân tố: khí
hậu, đất đai và gắn với môi trường của hệ thống canh tác. Bởi canh tác đồi núi

xuất của các nhà khoa học trong nước. Kết quả thu được đã góp phần đáng kể
vào sự nghiệp phát triển kinh tế vùng đồi núi của Việt Nam.
Nông lâm kết hợp là hệ thống canh tác đã được nhiều dân tộc ít người
ở Trung du miền núi nước ta tiến hành từ lâu đời, như: các hệ thống canh tác
nương rẫy truyền thống của đồng bào các dân tộc ít người, hệ sinh thái vườn
nhà ở nhiều vùng địa lý sinh thái trên khắp cả nước.
Tuỳ theo từng địa phương mang phương thức canh tác, cơ cấu luân
canh cây trồng được thay đổi khác nhau. Ở Miền Bắc hệ thống Vườn - ao chuồng (VAC) đã được phát triển mạnh mẽ và lan rộng trong những thập niên
60. Sau đó là hệ thống Rừng - vườn - ao - chuồng (RVAC) và vườn đồi được
phát triển mạnh ở các khu vực miền núi. Các hệ thống rừng ngập mặn phát
triển ở các khu vực miền Trung. Nhiều dự án đã bắt đầu quan tâm tới vấn đề
về kinh tế - xã hội - môi trường và đã giới thiệu về các mô hình canh tác trên
đất dốc theo đường đồng mức (SALT) ở một số khu vực miền núi, như: Hệ
thống canh tác xen theo băng (SALT 1), hệ thống nông lâm đồng cỏ (SALT
2), hệ thống canh tác nông lâm bền vững (SALT 3) và hệ thống nông lâm
nghiệp với cây ăn quả quy mô nhỏ (SALT 4).
Đặc điểm của mô hình NLKH là thành phần cây trồng đa dạng, tận
dụng được không gian gieo trồng, tạo ra nhiều tầng tán che nên có tác dụng
bảo vệ tốt (Trần Quốc Hưng, 2010) [3].

Footer Page 18 of 133.


Header Page 19 of 133.

11
Kỹ thuật và mô hình NLKH tại Việt Nam phát triển không ngừng. Có
một số mô hình NLKH thành công và hiệu quả như:
- Mô hình hồi - trám - rừng tái sinh (Văn Quan - Lạng Sơn): Rừng tái
sinh + trám + hồi.


12
chính trên cơ phân vùng tự nhiên, để xác định khả năng thực hiện ở các vùng,
đó là: Vùng ven biển với các loài cây ngập mặn, chịu phèn, chống cát di động,
vùng đồng bằng các hệ thống VAC (vườn - ao - chuồng), trồng cây phân tán,
đai xanh phòng hộ; vùng đồi núi và trung du các hệ thống vườn rừng (VR),
VAC, rừng - vườn - chuồng (R-V-C), trồng rừng kết hợp nuôi ong lấy bằng
(R-O)… chống xói mòn và bảo vệ đất, vùng đồi núi cao, chăn thả dưới tán
rừng, làm ruộng bậc thang NLKH gồm: cây gỗ sống lâu năm + cây thân
thảo+vật nuôi (Đặng Thị Thái, 2008) [5].
2.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.4.1. Điều kiện tự nhiên
2.4.1.1. Vị trí địa lý
Cát Thịnh là xã vùng ngoài huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Cách trung
tâm huyện lỵ Văn Chấn khoảng 20km, cách thành phố Yên Bái khoảng 50km.
Có tổng diện tích theo ranh giới hành chính là 16.912,28 ha, có vị trí địa lý
như sau:
Phía Bắc giáp xã Suối Bu huyện Văn Chấn.
Phía Nam giáp xã Mường Thải huyện Phù Yên.
Phía Đông giáp xã TTNT Trần Phú, huyện Văn chấn.
Phía Tây giáp xã Tà xi Láng, huyện Trạm Tấu.
Đường giao thông liên thôn trong xã ngày một phát triển, mặt khác xã
nằm trên đường giao thông nối liền thị trấn Nghĩa Lộ và thành phố Yên Bái
nên đây là một thuận lợi lớn cho việc buôn bán trao đổi hàng hoá.
2.4.1.2. Đặc điểm địa hình
Địa hình của xã Cát Thịnh chủ yếu là đồi núi, có nhiều núi cao và suối
lớn chia cắt, độ dốc cao. Độ cao trung bình so với mặt nước biển 400 m. Đồi
gò chiếm khoảng 80% diện tích tự nhiên, có độ dốc tương đối, trên diện tích
đất dốc chủ yếu trồng các loài cây lâm nghiệp như: Bồ đề, keo và quế. Nơi
đây có điều kiện rất thuận lợi cho cây quế phát triển, đây là điều kiện rất

năm đạt 45%.
- Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm là mùa
mưa nhiều, lượng mưa chiếm gần 80% lượng mưa cả năm, các tháng mưa
nhiều là tháng 7,8,9. Do lượng mưa quá lớn, lại tập trung vào một thời gian

Footer Page 21 of 133.


Header Page 22 of 133.

14
nhất định nên hiện tượng sụt lở đất thường xuyên xảy ra từ đó gây ảnh hưởng
rất lớn đến việc thông thương, vận chuyển sản phẩm từ các thôn, xóm trong
xã ra ngoài thành phố và vào trong thị trấn.
- Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chiếm
khoảng 20% lượng mưa cả năm. Các tháng ít mưa nhất là tháng 12, 1, 2, có
tháng hầu như không có mưa. Trong mùa khô thường thiếu nước nghiêm
trọng do vậy gây khó khăn lớn cho sản xuất và hiệu quả không cao, đây là
một thách thức không nhỏ đối với hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt
của người dân địa phương.
- Gió: Do đặc điểm địa hình lòng máng chảy theo hướng Đông Nam –Tây
Bắc nên hướng gió chủ yếu thổi theo độ mở của thung lũng. Gió khô và nóng
thường xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 9 hàng năm (tập trung nhất vào tháng 5
đến tháng 7), ngày gió nóng nhiệt độ lên tới 35 đến 380 C, bình quân mỗi năm
có 20 ngày gió nóng .
- Bão: Do nằm trong vùng Tây Bắc nên hàng năm thường chịu ảnh hưởng
của bão hoặc áp thấp nhiệt đới gây ra lũ quét, bình quân từ 4 – 6 trận/ năm.
Hàng năm về mùa mưa thường xảy ra các đợt lũ quét phá hoại đường sá,
hoa màu và diện tích lúa nước ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, sinh hoạt
của người dân.


15883,13

93,9

2

Đất phi nông nghiệp

160,6

1

3

Đất chưa sử dụng
Tổng

868,54

5,1

16912,28

100

( Nguồn UBND xã Cát Thịnh năm 2014)
Diện tích đất nông nghiệp chiếm rất lớn trong tổng diện tích tự nhiên
của toàn xã với 15883,13 ha chiếm 93,9%, đây là tiềm năng rất lớn để người
dân phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, nó sẽ góp phần không nhỏ vào việc


100

Đất nông lâm nghiệp

15883,13

93,91

13615,4

80,5

1.1.1 Đất rừng tự nhiên phòng hộ

2631,4

15,56

1.1.2 Đất rừng sản xuất

10984

64,95

1
1.1

Đất lâm nghiệp



2.2

Đất nghĩa trang, nghĩa địa

15,52

0,0918

2.3

Đất chuyên dụng

0,16

0,000946

2.4

Đất phi nông nghiệp khác

70,54

0,4171

Đất chưa sử dụng

3

868,54

đời sống của nhân dân trong xã có hai dòng suối chính là suối Lao và suối Phà
chảy qua, cùng với một hệ thống các khe suối nhỏ khá dày đặc như khe Kẹn,
khe Căng, khe Rịa,...
- Nguồn nước ngầm: Hiện tại chưa có số liệu điều tra chính về trữ
lượng nước ngầm trên địa bàn xã, song qua điều tra, khảo sát sơ bộ ở một số
khu vực người dân đã đào giếng và sử dụng nước ngầm phục vụ cho sinh
hoạt, chất lượng nước tốt, không mùi. Tuy nhiên do địa hình cao nên khả
năng giữ nước hạn chế và ở tầng sâu, theo cấu trúc địa chất của toàn vùng cho
thấy mức độ chứa nước ngầm không nhiều.
Do địa hình cao và chia cắt nên hệ thống suối và ngòi phân bố không
đều, độ dốc lớn, mặt nước thấp hơn so với mặt đất canh tác và các điểm dân
cư. Do vậy khả năng khai thác cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân
dân còn rất hạn chế, đặc biệt là vào mùa khô.
- Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 6,01 ha
2.4.1.7. Đặc điểm tài nguyên rừng
Diện tích đất lâm nghiệp của xã là 13.615,4 ha. Trong đó đất rừng tái sản
xuất là 11.126,5 ha chiếm 81,7%, đất rừng phòng hộ là 2488 ha chiếm 18,3%. .
Độ che phủ rừng đạt 70%, rừng có thảm thực vật đa dạng và phong
phú, giữ và tạo môi trường cảnh quan trong sạch, phát triển nghề rừng còn là
tiềm năng và thế mạnh của xã trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình.

Footer Page 25 of 133.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status