2
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG BỀN
VỮNG Ở TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY
10
1.1.
Lý luận chung về phát triển nông nghiệp theo hướng
bền vững ở tỉnh Hải Dương
1.2.
10
Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng bền
vững ở tỉnh Hải Dương thời gian qua
25
Chương 2: QUAN ĐIỂM BẢN CƠ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG BỀN
VỮNG Ở TỈNH HẢI DƯƠNG TRONG THỜI GIAN TỚI
2.1.
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển
kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc
phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh
thái của đất nước. Do đó, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn
được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, coi đó không chỉ là nhiệm vụ kinh tế
mà còn là nhiệm vụ chính trị - xã hội có ý nghĩa chiến lược cả trước mắt và
lâu dài.
Tại Đại hội X, Đảng ta xác định: “Hiện nay và trong những năm tới, vấn
đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng.
Phải luôn coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn,
hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng, phát triển
nhanh và bền vững” [18, tr.190-191]. Từ chỗ “Hướng tới”, đến nay Đảng ta chủ
trương phát triển “Nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền
vững” [20, tr.195]. Đây là chủ trương của Đại hội XI, hoàn toàn phù hợp với xu
thế phát triển nông nghiệp công nghệ cao trên thế giới, đồng thời đáp ứng yêu
cầu thay đổi cơ bản toàn diện đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội nông
thôn, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền
núi, giữa phát triển công nghiệp và phát triển nông nghiệp ở nước ta hiện nay.
Hải Dương là một tỉnh ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, nằm trong
vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải
Phòng - Quảng Ninh, có nhiều tiềm năng và lợi thế về phát triển nền nông
nghiệp theo hướng bền vững. Hơn 25 năm đổi mới cùng đất nước, bên cạnh
những thành tựu đạt được, thực tiễn cũng đang đặt ra cho tỉnh rất nhiều thách
thức khi xây dựng một nền nông nghiệp theo hướng bền vững. Hoạt động sản
xuất nông nghiệp vẫn còn phụ thuộc quá nhiều vào tự nhiên. Giá trị gia tăng của
sản phẩm nông nghiệp còn thấp; ruộng đất ở nông thôn bị chia nhỏ, manh mún;
4
việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức trong sản xuất nông nghiệp
cận khác nhau, dưới các hình thức như: Đề tài khoa học các cấp, sách chuyên
khảo, các bài báo trên các tạp chí.v.v...
* Các sách tham khảo và chuyên khảo
Đến nay, đã có nhiều cuốn sách viết về phát triển theo hướng bền
vững trong nông nghiệp đã được xuất bản. Tiêu biểu có các cuốn sau:
“Phát triển nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam, thực trạng và giải
pháp” của Trần Xuân Châu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003;
“Góp phần phát triển bền vững nông thôn Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Xuân Thảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004;
“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Việt
Nam -con đường và bước đi” của GS.TS Nguyễn Kế Tuấn, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2004;
“Ngành nông nghiệp trong phát triển bền vững ở Việt Nam” của
Nguyễn Từ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004;
“Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam- Hôm nay và mai sau”
của Đặng Kim Sơn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008;
“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ lý luận
đến thực tiễn ở Việt Nam hiện nay” của Tiến sĩ Phạm Ngọc Dũng, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2011; v.v...
Những công trình khoa học trên đã đề cập một cách tương đối khái
quát về xây dựng và phát triển một nền nông nghiệp theo hướng bền vững.
Nhưng vì nhiều lý do khác nhau, các công trình trên chỉ mới đề cập đến một
khía cạnh của vấn đề.
Trong công trình nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Kế Tuấn thì phát
triển nông nghiệp theo hướng bền vững được tác giả tiếp cận chủ yếu dưới
góc độ đánh giá tác động của việc phát triển nền nông nghiệp theo hướng bền
vững đối với nền kinh tế . Trong công trình của Nguyễn Xuân Thảo thì phát
triển theo hướng bền vững trong nông nghiệp được tác giả tiếp cận chủ yếu
trên góc độ chính sách của Nhà nước đối với từng ngành, từng địa phương cụ
Luận văn thạc sĩ kinh tế “Phát triển ngành nông nghiệp hàng hóa ở Lạng
7
Sơn” của Nguyễn Thanh Hảo, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002; Luận văn
thạc sĩ kinh tế “Phát triển nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam, thực trạng
và giải pháp” của Đặng Thị Tố Tâm, Đại học khoa học xã hội & nhân
văn, 2010; Luận văn thạc sĩ kinh tế “Vai trò của phát triển nông nghiệp
trong bảo đảm hậu cần tại chỗ cho khu vực phòng thủ tỉnh Hà Nam hiện
nay” của Vũ Văn Khầu, Học viện Chính trị, 2010.... Các đề tài trên trực
tiếp đề cập một cách cơ bản cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nông
nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Trong hệ thống giải pháp mà các tác giả đưa ra, có đề cập tới giải pháp
phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững. Song do nghiên cứu sự phát
triển của nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói
chung hoặc ở phạm vi một vùng kinh tế, nên có giải pháp đưa ra chưa thật
phù hợp với phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững.
* Các bài viết đăng trên các tạp chí đề cập đến sự phát triển nông
nghiệp theo hướng bền vững
Tiêu biểu như: Công nghệ sinh học và vấn đề phát triển nông nghiệp của
Việt Nam, GS.TS. Bùi Chí Bửu, Tạp chí Cộng sản, số 791, 9- 2008. Phát triển
bền vững nông nghiệp, nông thôn và nông dân, PGS.TS. Nguyễn Sinh Cúc, Tạp
chí lý luận chính trị, số 10, 2009. Thúc đẩy sự phát triển khoa học - công nghệ
phục vụ nông nghiệp, nông thôn, TS. Nguyễn Thanh Hà, Tạp chí Cộng sản, số
801, 7 - 2009. Tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến sự phát triển
nông nghiệp Việt Nam hiện nay, PGS.TS. Vũ Đình Hòe, Tạp chí lý luận chính
trị, số 12, 2008. Khuyến nông “Chìa khóa vàng” của nông dân trên con đường
hội nhập, Đinh Phi Hổ, Tạp chí Cộng sản, chuyên đề cơ sở, số 15, 3 - 2008.
Nông nghiệp Việt Nam sau 4 năm thực hiện cam kết WTO, TS. Chu Tiến Quang,
Tạp chí Cộng sản, số 824, 6 - 2011. Phát triển và khai thác hợp lý lực lượng sản
theo hướng bền vững dưới góc độ kinh tế chính trị.
Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở
tỉnh Hải Dương.
9
Đề xuất các quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nông
nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Hải Dương trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Hải Dương.
* Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu sự phát triển nông
nghiệp theo hướng bền vững ở địa bàn tỉnh Hải Dương.
Về thời gian: Luận văn tập trung phân tích, nghiên cứu, khảo sát số
liệu, tư liệu từ năm 2000 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Vận dụng hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt
Nam và thực tiễn phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở nước ta.
Tiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu về phát triển nông
nghiệp, nông thôn; phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững của các
tác giả trong nước, để vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của tỉnh Hải Dương.
Đồng thời, dựa vào các báo cáo tổng kết, số liệu thống kê kinh tế của Ủy
ban nhân dân, Cục Thống kê, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh
Hải Dương đã được công bố từ năm 2000 đến nay.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp biện chứng duy vật, đề tài sử dụng phương
Quan niệm phát triển bền vững xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi
trường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ XX, khi cuộc cách mạng
khoa học công nghệ đã bùng nổ, chất lượng cuộc sống của xã hội loài người đã
có bước tiến bộ rõ rệt do khoa học công nghệ và năng suất lao động mang lại.
Của cải được nhân loại tạo ra ngày càng nhiều và phong phú về chủng loại đã
phần nào thỏa mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người, đã đưa đến
sự phát triển nhanh của nền văn minh nhân loại. Song cũng chính từ sự phát triển
ấy đã làm nẩy sinh một số vấn đề ngày càng nổi cộm như tăng trưởng dân số quá
nhanh, tiêu dùng một cách quá mức của cải, tài nguyên, năng lượng, thiên tai
bão, lũ, ô nhiễm và sự cố môi trường ngày càng gia tăng đã làm ảnh hưởng đến
sự phát triển của xã hội, gây trở ngại đối với phát triển kinh tế và làm giảm sút
chất lượng sống của con người.
Đứng trước áp lực của thực tế khắc nghiệt, con người không còn cách lựa
chọn nào khác là phải xem xét lại những hành vi ứng xử của mình với thiên nhiên,
phương sách phát triển kinh tế - xã hội và tiến trình phát triển của mình. Cách lựa
chọn duy nhất đó là con đường phát triển có sự kết hợp cả về kinh tế, văn hóa, xã
hội và bảo vệ môi trường; đó chính là con đường đảm bảo tái sản xuất xã hội bền
vững, hay nói cách khác đó chính là sự phát triển bền vững.
Phát triển bền vững, cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau, sau
đây là một số quan niệm của khoa học môi trường bàn về phát triển bền vững:
12
Ủy ban quốc tế về phát triển và môi trường (1987) đã đưa ra định
nghĩa: Phát triển bền vững là một quá trình của sự thay đổi, trong đó, việc
khai thác và sử dụng tài nguyên, hướng đầu tư, hướng phát triển của công
nghệ và kỹ thuật và sự thay đổi về tổ chức là thống nhất, làm tăng khả năng
đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của con người [37, tr.15].
Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển tổ chức ở Rio
de Janerio (Braxin) năm 1992 đã đưa ra khái niệm vắn tắt về phát triển bền vững
khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên...) nhìn chung không bị các hoạt động
của con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại. Các nguồn phế thải từ công
nghiệp và sinh hoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được bảo
đảm, con người được sống trong môi trường sạch.
Như vậy, phát triển bền vững có nội dung lớn và phong phú, không chỉ
hàm nghĩa phát triển kinh tế bền vững mà còn bao hàm nội dung phát triển xã
hội bền vững và gắn kết chặt chẽ với bảo vệ môi trường sinh thái. Trong mỗi
nội dung có những thành tố riêng nhưng chúng luôn thống nhất biện chứng và
quan hệ hữu cơ với nhau tạo nên sự phát triển bền vững. Việc quán triệt và
nhận thức đúng đắn nội hàm của phát triển bền vững là phương pháp luận tốt
khi thực hiện phát triển nền nông nghiệp theo hướng bền vững phù hợp với
điều kiện, hoàn cảnh hiện nay.
Quan niệm về nông nghiệp và phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững
Quan niệm về nông nghiệp:
Nông nghiệp theo nghĩa hẹp, bao gồm trồng trọt và chăn nuôi. Trong trồng
trọt được phân ra: trồng cây lương thực, cây công nghiệp, cây thực phẩm, cây ăn
quả, cây thức ăn cho chăn nuôi, cây dược liệu... thoả mãn nhu cầu lương thực cho
con người, thức ăn cho gia súc, gia cầm và nguyên liệu cho công nghiệp. Chăn
nuôi bao gồm: chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi ong, nuôi tằm... thoả mãn nhu cầu
dinh dưỡng trong khẩu phần ăn hàng ngày của con người, nguyên liệu cho công
nghiệp và một phần quan trọng khác đáp ứng nhu cầu mặc, dược liệu để làm
thuốc chữa bệnh, sức kéo, để đáp ứng nhu cầu sản xuất và vận tải... cũng đều do
nông nghiệp đáp ứng. Các ngành trên lại có thể phân thành những ngành nhỏ hơn
(phân ngành), chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau. Trồng trọt cung cấp thức
14
ăn cho chăn nuôi và làm cho chăn nuôi phát triển. Ngược lại chăn nuôi cung cấp
phân bón, sức kéo để tăng sức sản xuất, kết hợp với trồng trọt tạo ra nền nông
nghiệp bền vững. Đó chính là hai bộ phận căn bản của nền nông nghiệp theo
Hai là, giải quyết có hiệu quả các vấn đề về mặt xã hội trong khu vực
nông nghiệp, nông thôn
Tuyên bố tại Hội nghị Rio de Ranerio đã khẳng định: Xóa bỏ nghèo nàn là
yêu cầu không thể thiếu của phát triển bền vững. Đây là một đỉnh của tam giác
phát triển theo hướng bền vững: Kinh tế, xã hội, môi trường. Do vậy, có rất nhiều
vấn đề xã hội trong khu vực nông thôn cần giải quyết, như nghèo đói, thất nghiệp,
sự phân hóa giàu nghèo...Trên thực tế hiện nay, tình trạng nghèo đói tồn tại chủ
yếu ở vùng nông thôn. Chiếm phần lớn trong số những người thuộc diện nghèo
đói là những người tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp. Đối với nền
nông nghiệp truyền thống lạc hậu, tốc độ tăng trưởng thấp rất khó có thể giải
quyết được vấn đề đói nghèo. Trong khi đó, việc phát triển một nền nông nghiệp
theo hướng bền vững sẽ đảm bảo được các mục tiêu tăng trưởng ổn định và hiệu
quả. Thực hiện các mục tiêu trên sẽ là cơ sở giải quyết vấn đề thất nghiệp trong
khu vực nông thôn. Khi các mục tiêu trên được thực hiện sẽ là cơ sở, tiền đề vật
chất góp phần thúc đẩy nhanh quá trình xóa đói giảm nghèo.
Ba là, phát triển nền nông nghiệp theo hướng bền vững là phát triển nền
nông nghiệp sinh thái.
Trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân, thì nông nghiệp là
ngành liên quan trực tiếp tới các điều kiện tài nguyên thiên nhiên và môi
trường sinh thái.
Nền nông nghiệp truyền thống là nền nông nghiệp lạc hậu, trình độ kỹ
thuật kém, phương thức canh tác thủ công, độc canh, khai thác, sử dụng bừa bãi
tài nguyên đất, tài nguyên nước. Điều đó đã làm cho môi trường thiên nhiên bị
tàn phá nghiêm trọng, tất cả đều do sự khai thác quá mức của con người. Hậu
quả của những vấn đề trên sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của những người
lao động trong nông nghiệp và cư dân nông thôn, họ có nguy cơ rơi vào tình
trạng "Nghèo đi tương đối”. Đứng trước những vấn đề đó, nhận thức về phát
triển bền vững nền nông nghiệp theo hướng nền nông nghiệp sinh thái có ý
nghĩa vô cùng quan trọng. Tập trung vào ba nội dung sau:
trưởng cao. Giai đoạn 2001 - 2005, nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình quân là
20
10,8%/năm; giai đoạn 2006 -2010 tăng trưởng bình quân là 9,8%/năm. Quy mô
kinh tế của tỉnh được tăng lên, tổng sản phẩm năm 2010 gấp 2,3 lần so với năm
2005. Thu nhập GDP bình quân đầu người đạt 17,9 triệu đồng, tương đương 964
USD [15, tr.12]. Dân số toàn tỉnh theo số liệu điều tra năm 2009 là 1.703.492
người; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của toàn tỉnh năm 2010 là 0,96% [15, tr.21]. Quy
mô, tốc độ tăng tăng dân số và mức sống của nhân dân trong tỉnh ngày một nâng
cao đang là những nhân tố làm cho nhu cầu về lương thực, thực phẩm ngày càng
tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại. Nếu không bảo đảm an ninh lương
thực thì khó có sự ổn định về chính trị và xã hội trên địa bàn. Điều kiện tiên quyết
để phát triển và nâng cao đời sống nhân dân là phát triển nông nghiệp theo hướng
bền vững đảm bảo cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm cho nhân dân.
Hai là, phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững tạo ra việc làm,
tăng thu nhập, cải thiện đời sống dân cư nông thôn.
Ở Hải Dương hiện nay, nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chính đóng
góp vào nền kinh tế và ổn định đời sống nhân dân trong tỉnh. Dân số sống ở khu
vực nông thôn Hải Dương là 1.378.562 người (chiếm 80,93%) với gần 364.275
hộ nông dân. Theo đó, số người làm việc thường xuyên trong ngành nông
nghiệp chiếm tỷ lệ lớn. Vì vậy, hiện nay phần lớn việc làm và thu nhập của
người lao động ở Hải Dương vẫn phụ thuộc vào ngành nông nghiệp. Do đó, sự
phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững góp phần tạo ra nhiều việc làm cho
người lao động trong các hoạt động công nghiệp, dịch vụ phục vụ nông nghiệp
như cơ khí, hóa chất, chế biến nông sản. Điều đó khẳng định, phát triển nông
nghiệp theo hướng bền vững ngày càng có vai trò to lớn trong tạo việc làm, tăng
thu nhập cho dân cư, góp phần quan trọng bảo đảm ổn định chính trị - xã hội trên
địa bàn tỉnh.
Ba là, phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở Hải Dương có
sinh. Do đó, phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở Hải Dương sẽ
khắc phục được những tác động xấu tới môi trường tự nhiên, tạo ra các sản
phẩm sạch có chất lượng cao cho xã hội.
22
Năm là, phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững sẽ tạo điều kiện
để củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh.
V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Muốn phòng thủ phải có một đội quân kiên
cường, một hậu phương vững chắc, mà muốn có hậu phương kiên cường
vững mạnh thì trước hết phải tổ chức thật vững chắc công tác lương thực”
[33, tr.423]. Nông nghiệp không chỉ có vai trò quan trọng đối với đời sống
kinh tế - xã hội nói chung mà còn có vai trò lớn đối với sự nghiệp củng cố
quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang.
Hải Dương có vị trí địa lý thuận lợi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía
Bắc và trục tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, hệ
thống giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt thuận lợi. Hải Dương là cửa ngõ
phía Đông của Thủ đô Hà Nội, có vị trí địa quân sự, quốc phòng đặc biệt quan
trọng. Vì thế trong củng cố quốc phòng, việc quan trọng hàng đầu là phải
chuẩn bị đáp ứng cũng như dự trữ được lương thực, thực phẩm, hậu cần cho
hoạt động vũ trang. Thực trạng yếu kém, khuyết điểm trong qúa trình phát
triển kinh tế thời gian qua là nguyên nhân cơ bản cản trở phát triển kinh tế
- xã hội và chưa đáp ứng được yêu cầu củng cố quốc phòng trên địa bàn
tỉnh. Đất nông nghiệp đang bị thu hẹp, khai thác sử dụng tùy tiện. Vì thế
phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững đang đặt ra rất cấp bách, chỉ
có như vậy mới tạo sự tăng trưởng kinh tế ổn định và tạo được điều kiện
thuận lợi cho xây dựng sức mạnh khu vực phòng thủ, củng cố quốc phòng
trên địa bàn tỉnh cũng như đảm bảo nhu cầu tại chỗ cho hoạt động của các
lực lượng vũ trang. Mặt khác, phát triển nông nghiệp theo hướng bền
vững bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trong tỉnh không
tỉnh Hải Dương thời gian qua
1.2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến sự phát triển
nông nghiệp theo hướng bền vững ở Hải Dương
* Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
Về vị trí địa lý: Hải Dương là tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp
với 6 tỉnh: Phía Bắc và đông Bắc giáp Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh; phía
nam giáp Thái Bình; phía tây giáp Hưng Yên và phía đông giáp Hải Phòng.
24
Là tỉnh nằm giữa vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và trục tam giác tăng
trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Trên địa bàn, có các tuyến đường
bộ, đường sắt quan trọng của quốc gia chạy qua, với chất lượng tốt như đường 5A,
18A, đường 183. Với vị trí này, Hải Dương rất thuận lợi trong giao lưu, trao đổi
thương mại với Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và các tỉnh khác cũng như giao
lưu với nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế của tỉnh.
Về khí hậu: Hải Dương nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, với khí hậu ôn
hòa, ít chịu ảnh hưởng của thiên tai; có 4 mùa rõ rệt. Giờ nắng trung bình hàng
năm là 1.600 - 1.700 giờ; lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.300 - 1.700mm; độ
ẩm không khí trung bình là 85 - 87%. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,30C.
Nhìn chung, khí hậu của tỉnh Hải Dương thuận lợi cho sự phát triển hệ sinh
thái động, thực vật cũng như các hoạt động sản xuất nông nghiệp bao gồm cây
lương thực, thực phẩm và cây ăn quả. Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển
một nền nông nghiệp theo hướng bền vững.
Về tài nguyên đất: Hải Dương có 166.220 ha diện tích đất tự nhiên,
với hai nhóm chính là đất đồi núi và đất đồng bằng.
Đất đồi núi, diện tích 18.320 ha, bằng 11% diện tích đất tự nhiên, nằm
gọn ở phía Đông Bắc của tỉnh, gồm thị xã Chí Linh và huyện Kinh Môn. Đây
là vùng đồi núi thấp, nhóm đất này nghèo dinh dưỡng, tầng đất mỏng, độ phì
thấp, tưới tiêu tự chảy bằng hồ đập nước, chủ yếu phù hợp trồng các loại cây
có biểu hiện nhiễm bẩn: Khu công nghiệp Việt Trì đã sử dụng nước sông Hồng
200.000m3/ngày đêm, thải ra sông trên 100.000 m3. Khu công nghiệp Thái
Nguyên sử dụng nước sông Cầu 260.000 m3/ngày đêm, thải ra sông 192.000
m3/ngày đêm. Khu công nghiệp Sài Đồng, Phố Nối đổ vào hệ thống thủy nông
Bắc Hưng Hải. Trong chất thải đều có chứa sắt, một số kim loại nặng khác và
các chất gây bẩn cần được xử lý triệt để[48, tr.9].
Nguồn nước phong phú tạo điều kiện thuận lợi, đáp ứng yêu cầu cho
phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững của tỉnh. Song cũng đặt ra nhiều
vấn đề phải xử lý trong sản xuất về nguồn nước, về an toàn thực phẩm.
Với vị trí địa - kinh tế và địa - chính trị thuận lợi, nằm giữa vùng kinh tế
trọng điểm Bắc Bộ, Hải Dương có nhiều tiềm năng đóng góp vào phát triển
kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng, đặc biệt là cho phát triển vùng kinh tế
trọng điểm Bắc Bộ. Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho Hải Dương phát triển
26
nông nghiệp; vấn đề đặt ra hiện nay là để đánh thức, khơi dậy những tiềm năng
to lớn mà điều kiện tự nhiên đã ưu đãi cho Hải Dương cần phải phát triển nông
nghiệp theo hướng bền vững.
* Đặc điểm về kinh tế- xã hội
Về dân số và nguồn lực lao động
Theo số liệu thống kê điều tra dân số năm 2009, dân số Hải Dương
hơn 1.703.492 người; tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn (1.378.562
người, chiếm 80,93%). Hiện nay, Hải Dương có nguồn lao động dồi dào, lực
lượng lao động trong độ tuổi có 1.097.967 người (chiếm 64,45%), trong đó
lao động nông thôn có 579.219 người (chiếm 52,7%). Lực lượng lao động
hùng hậu sẵn sàng tham gia vào phát triển nền nông nghiệp theo hướng bền
vững của tỉnh.
Về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn
Sau khi tách tỉnh tháng 1/1997, Hải Dương đã quan tâm coi trọng phát