Header Page 1 of 126.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-------------------------------------
VŨ ĐỖ DŨNG
CẢI TIẾN QUY TRÌNH KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
TIÊN PHONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN TIÊN PHONG
HÀ NỘI - 2012
Footer Page 1 of 126.
Header Page 2 of 126.
Mục lục
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ....................................................................................................3
DANH MỤC HÌNH VẼ BẢNG BIỂU......................................................................................5
PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................................................6
1. Tính cấp thiết của Đề tài ....................................................................................................6
2. Mục đích nghiên cứu .........................................................................................................6
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu......................................................................................6
4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................................6
5. Đóng góp của Luận văn .....................................................................................................6
2.2.1 Cơ sở pháp lý của hoạt động KTNB Ngân hàng thương mại Tiên Phong .............39
2.2.2 Mô hình hệ thống kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong
..........................................................................................................................................40
2.2.3Tổ chức thực hiện kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong
54
2.2.4 Các tiêu chí và thang điểm đánh giá chất lượng cuộc kiểm toán............................59
2.3 Đánh giá thực trạng kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong
66
Footer Page 2 of 126.
1
Header Page 3 of 126.
2.3.1 Kết quả đạt được .....................................................................................................66
2.3.2 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân ............................................................................69
GIẢI PHÁP CẢI TIẾN KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ
PHẦN TIÊN PHONG..............................................................................................................77
3.1 Quan điểm, định hướng hoàn thiện kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Tiên Phong ..................................................................................................................77
3.1.1Quan điểm................................................................................................................77
3.1.2Định hướng cải tiến quy trình nghiệp vụ kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng Thương
mại cổ phần Tiên Phong ..................................................................................................79
Nội dung...........................................................................................................................79
3.2 Giải pháp cải tiến quy trình kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần
Tiên Phong ...........................................................................................................................80
3.2.1 Hoàn thiện bộ máy Kiểm toán nội bộ .....................................................................80
3.2.2 Xậy dựng hệ thống kiểm toán nội bộ hoạt động hiệu quả. ...................................81
3.2.3 Mở rộng nội dung và phạm vi hoạt động của Kiểm toán nội bộ ............................83
KTNN
Kiểm toán nhà nước
IIA
Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ
IFAC
Liên đoàn kế toán quốc tế
KSNB
Kiểm soát nội bộ
HĐQT
Hội đồng quản trị
CNTT
Công nghệ thông tin
ALCO
Ủy ban Quản lý Nợ - tài sản Có
TSCĐ
HO
Hội sở chính
PGD
Phòng giao dịch
POS
Hệ thống thanh toán
NHTMCP
Ngân hàng thương mại cổ phần
BKS
Ban Kiểm soát
Footer Page 4 of 126.
3
Header Page 5 of 126.
IT
Footer Page 5 of 126.
Bảng 2.14 Phân loại chất lượng các cuộc kiểm toán:
Bảng 2.15 Trích báo cáo tổng kết đánh giá chất lượng kiểm toán năm 2011
Bảng 2.16 Các nguyên tắc đặt ra khi tổ chức bộ máy KTNB tại NHTM Tiên Phong
Bảng 2.17 Trích Sơ yếu lý lịch các thành viên trong Ban Kiểm toán nội bộ năm 2011
Bảng 2.18 Chi phí kiểm toán Chi nhánh Hải Phòng 2011
Hình 3.1 Cây của hệ thống checklist được sinh tự động theo phân cấp
Hình 3.2 Mô hình quản lý hệ thống kiểm toán trực tuyến
Bảng 3.1 Chi phí cho một đoàn kiểm toán toàn diện chi nhánh Hải Phòng 2011
Bảng 3.2 So sánh giá trị làm lợi khi áp dụng hệ thống kiểm toán trực tuyến
Bảng 3.3 Chi phí xây dựng hệ thống kiểm toán được tính:
Footer Page 6 of 126.
5
Header Page 7 of 126.
Bảng 3.4 Lợi ích sau khi cải tiến so với các hoạt động KTNB hiện tại
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Nếu như hệ thống ngân hàng được ví như “huyết mạch” của nền kinh tế thì cơ
chế kiểm soát được ví như “thần kinh trung ương” của một ngân hàng thương mại.
Trong quá trình tự do hóa và hội nhập quốc tế, sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng
thương mại ngày càng cao nên các Ngân hàng thương mại cần nâng cao khả năng
cạnh tranh để tăng hiệu quả hoạt động và hạn chế rủi ro. Vì vậy, các ngân hàng
thương mại cần phải thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh. Bộ phận kiểm
toán nội bộ là một nhân tố quan trọng trong hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ. Kiểm
toán nội bộ đánh giá độc lập về tính thích hợp và sự tuân thủ các chính sách, thủ tục
Header Page 8 of 126.
trong ngân hàng thương mại.
Về mặt thực tiễn, qua mô tả và phân tích thực trạng, nêu ra những kết quả đạt
được và tồn tại, nguyên nhân dẫn đến tồn tại của quy trình kiểm toán nội bộ tại Ngân
hàng thương mại cổ phần Tiên Phong để từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện quy
trình kiểm toán nội bộ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong.
6. Tên và kết cấu của Luận văn
Tên Luận văn: “Cài tiến quy trình kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng thương mại
cổ phần Tiên Phong”
Kết cấu của Luận văn: Ngoài Phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn được kết cấu
theo ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về quy trình kiểm toán nội bộ
Chương 2: Thực trạng kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần
Tiên Phong
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng Thương mại
cổ phần Tiên Phong.
Footer Page 8 of 126.
7
Header Page 9 of 126.
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN NỘI BỘ
1.1 Khái niệm kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ là loại kiểm toán do các kiểm toán viên nội bộ của đơn vị
tiến hành. Phạm vi của kiểm toán nội bộ rất biến động và tùy thuộc vào quy mô, cơ
cấu của doanh nghiệp cũng như yêu cầu của các nhà quản lý đơn vị. Theo quyết định
1.2 Nội dung kiểm toán nội bộ
Tùy theo mục đích của người sử dụng thông tin, một cuộc kiểm toán nội bộ có
thể tiến hành đồng thời hoặc một trong ba loại kiểm toán sau:
a) Kiểm toán hoạt động
Do đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về kiểm toán hoạt động, tùy theo từng
Footer Page 9 of 126.
8
Header Page 10 of 126.
quan điểm của các cơ quan kiểm toán ta có một số định nghĩa như sau:
Theo cơ quan kiểm toán nhà nước Mỹ (The United States General Accounting Office)
định nghĩa: “Kiểm toán hoạt động bao gồm kiểm tính kinh tế, tính hiệu quả và kiểm
toán chương trình”.
+ Kiểm toán tính kinh tế và tính hiệu quả bao gồm việc xác định:
(i)
(ii)
(iii)
Đơn vị có được nguồn lực (nhân viên, tài sản và không gian), bảo vệ và sử
dụng chúng có tình kinh tế và hiệu quả không?
Nguyen nhân của những hoạt đông thiếu hiệu quả và không có tính kinh tế
Đơn vị có tuân thủ theo pháp luật và các quy định liên quan đến những vấn đề
về kinh tế và sự hiệu quả không?
+ Kiểm toán chương trình bao gồm việc xác định:
(i)
(ii)
-
Thu hút sự chú ý của nhà quản lý đến những nhân tố tiêu cực có ảnh hưởng đến
tính kinh tế, tính hiệu quả và sự hữu hiệu của các hoạt động
-
Giúp cho nhà quản lý có cơ hội để hiểu biết sâu sắc về những cái mới nảy sinh
trong hoạt động và quá trình thực hiện của đơn vị
-
Nâng cao nhận thức về khái niệm giá trị của đồng tiền ở những bộ phận trong đơn
Footer Page 10 of 126.
9
Header Page 11 of 126.
vị chưa được kiểm toán
b) Kiểm toán tuân thủ
Kiểm toán tuân thủ là quá trình kiểm toán nhằm xác định xem đơn vị được
kiểm toán trong quá trình hoạt động có tuân theo các nguyên tắc, quy định của cấp
trên và các chế định pháp luật của Nhà nước hay không. Đồng thời kiểm toán tuân thủ
cũng xem xét các quy trình hoạt động có được xác lập và thực hiện không.
c) Kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán báo cáo tài chính là quá trình các kiểm toán viên có thẩm quyền
thực hiện kiểm tra một cách độc lập các thông tin liên quan đến báo cáo tài chính của
tiến hiệu quả của quá trình quản trị rủi ro, kiểm soát và điều hành”
Theo Liên đoàn kế toán quốc tế IFAC: “Kiểm toán nội bộ (KTNB) là một hoạt
động đánh giá được lập ra trong doanh nghiệp như là một loại hình dịch vụ cho doanh
nghiệp đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá, giám sát thích hợp và hiệu quả của hệ
thống kế toán và kiểm soát nội bộ”.
Theo Luật các Tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua ngày 12 tháng 12
năm 1997: “Tổ chức tín dụng phải thiết lập hệ thống kiểm tra, kiểm toán nội bộ thuộc
bộ máy điều hành, giúp Tổng Giám đốc (Giám đốc) điều hành thông suốt, an toàn và
Footer Page 11 of 126.
10
Header Page 12 of 126.
đúng pháp luật mọi hoạt động nghiệp vụ của tổ chức tín dụng.”
Theo Quy chế KTNB ban hành kèm theo Quyết định số 37/2006/QĐ-NHNN
ngày 01/08/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (áp dụng cho các tổ chức tín
dụng): “Kiểm toán nội bộ là hoạt động kiểm tra, rà soát, đánh giá một cách độc lập,
khách quan đối với hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ; đánh giá độc lập về tính thích
hợp và sự tuân thủ các chính sách, thủ tục quy trình đã được thiết lập trong tổ chức tín
dụng, thông qua đó đơn vị thực hiện kiểm toán nội bộ đưa ra các kiến nghị, tư vấn
nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các hệ thống, các quy trình, quy định,
góp phần đảm bảo tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật ”.
Khái niệm KTNB cho thấy, KTNB trong ngân hàng thương mại không chỉ giới
hạn trong bộ phận kế toán và tài chính của ngân hàng. KTNB là một trong những nhân
tố cơ bản trong hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại, cung cấp một sự
quan sát, đánh giá thường xuyên về toàn bộ hoạt động của ngân hàng thương mại, bao
gồm cả tính hiệu quả của việc thiết kế, vận hành các chính sách và thủ tục về kiểm
soát nội bộ. Bộ phận KTNB hữu hiệu sẽ giúp cho ngân hàng thương mại có được
11
Header Page 13 of 126.
triển hơn, thì các kiểm toán viên nội bộ có thể chuyển trọng tâm sang các hoạt động
sau: đánh giá xem các cấu phần quản trị doanh nghiệp có hoạt động đồng bộ trong
toàn doanh nghiệp như dự kiến hay không; phân tích mức độ minh bạch trong công
tác báo cáo giữa các cấu phần trong cơ cấu quản trị doanh nghiệp; so sánh các thông
lệ thực hành quản trị doanh nghiệp tốt nhất; xác định mức độ tuân thủ với các quy
định quản trị doanh nghiệp được chấp nhận và đang áp dụng.
Cùng với sự phát triển theo qui mô hoạt động của các ngân hàng thương mại
với sự đa dạng các loại hình dịch vụ cung cấp, hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng
được mở rộng và phức tạp hơn. Theo đó, vai trò và yêu cầu đối với KTNB cũng được
nâng dần lên. Ban đầu chỉ là hoạt động của các kiểm soát viên, sau đó được mở rộng
ra và KTNB thực sự trở thành một công cụ kiểm soát sau không thể thiếu của các nhà
quản trị ngân hàng. Đến một mức độ phát triển nhất định, ngoài các vai trò truyền
thống, KTNB có thể tư vấn cho quản trị rủi ro của Ban kiểm soát. Quá trình thay đổi
vai trò của KTNB trong ngân hàng thương mại thể hiện qua biểu đồ sau:
Sơ đồ 1: Quá trình thay đổi vai trò của KTNB trong ngân hàng thương mại
Với các chức năng kiểm tra, xác nhận, đánh giá và tư vấn, nhiệm vụ KTNB trong các
ngân hàng thương mại được quy định trong điều 12, Quy chế Kiểm toán nội bộ của tổ
chức tín dụng, Ban hành kèm theo Quyết định số 37/2006/QĐ-NHNN ngày 01 tháng
8 năm 2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước:
Lập kế hoạch kiểm toán nội bộ hàng năm và thực hiện các hoạt động kiểm toán nội bộ
theo kế hoạch, các chính sách, quy trình và thủ tục kiểm toán nội bộ đã được phê
duyệt, đảm bảo chất lượng và hiệu quả.
Kiểm tra, rà soát, đánh giá một cách độc lập, khách quan đối với tất cả các đơn vị, bộ
bảo năng lực chuyên môn cho kiểm toán viên nội bộ.
Duy trì việc tham vấn, trao đổi thường xuyên với tổ chức kiểm toán độc lập, Thanh tra
Ngân hàng Nhà nước nhằm đảm bảo hợp tác có hiệu quả; là đơn vị điều phối, phối
hợp với các cơ quan bên ngoài đối với những công việc có liên quan đến chức năng,
nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ.
Tư vấn cho Người điều hành, Hội đồng quản trị tổ chức tín dụng và các bộ phận
nghiệp vụ thực hiện các dự án xây dựng, áp dụng mới hay sửa đổi những quy trình
nghiệp vụ quan trọng; cơ chế quản trị, điều hành; quy trình nhận dạng, đo lường đánh
giá rủi ro, quản lý rủi ro, phương pháp đánh giá vốn; hệ thống thông tin, hạch toán, kế
toán; thực hiện các nghiệp vụ, sản phẩm mới với điều kiện không ảnh hưởng tới tính
độc lập của kiểm toán nội bộ”.
1.3.3 Những đặc trưng của kiểm toán nội bộ trong ngân hàng thương mại
a) Đối tượng của kiểm toán nội bộ
Đối tượng của KTNB trong ngân hàng thương mại là thực trạng tài chính cùng
hiệu quả, hiệu năng của các nghiệp vụ, dự án cụ thể và hệ thống KSNB. Thực trạng tài
chính thể hiện qua các thông tin định lượng về kinh tế tài chính trên các báo cáo tài
chính, báo cáo kế toán quản trị và các báo cáo hoạt động.
Hệ thống KSNB trong ngân hàng thương mại là các quy định và các thủ tục kiểm soát
do ngân hàng xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm cho ngân hàng tuân thủ đúng pháp
luật và các quy định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót;
để lập báo cáo kinh tế tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng
có hiệu quả tài sản của ngân hàng.
Hiệu năng của các nghiệp vụ, dự án cụ thể đề cập đến việc hoàn thành các mục tiêu
trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, trong khi hiệu quả nhắc đến các nguồn lực
dùng để đạt những mục tiêu đó.
Đối tượng KTNB trong ngân hàng thương mại được cụ thể hoá trong từng phần hành
kiểm toán như: nghiệp vụ tín dụng, nghiệp vụ giao dịch – ngân quỹ, nghiệp vụ kế
toán, nghiệp vụ thanh toán quốc tế...
Footer Page 14 of 126.
lận trong quản lý, trong bảo vệ tài sản của ngân hàng, nghiên cứu đề xuất xử lý tố cáo,
đề xuất với lãnh đạo các giải pháp nhằm cải thiện hệ thống quản lý, điều hành của
ngân hàng.
c) Chủ thể kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ do các Kiểm toán viên nội bộ thực hiện, tuân theo các nguyên
tắc, chuẩn mực kiểm toán do Ban lãnh đạo quy định. Đồng thời những nguyên tắc,
chuẩn mực đó phải phù hợp với thông lệ quốc tế về nguyên tắc, chuẩn mực kiểm toán.
Như vậy, chủ thể tiến hành kiểm toán nội bộ trong ngân hàng thương mại là các Kiểm
toán viên nội bộ. Kiểm toán viên nội bộ có nhiệm vụ đi tìm những điểm sai mà hoặc
cán bộ làm nghiệp vụ chuyên môn không đủ trình độ để phát hiện ra, hoặc là người
thực hiện cố tình giấu đi. Vì vậy, trình độ của các kiểm toán viên nội bộ phải cao hơn
các cán bộ khác là điều tất yếu.
d) Các hình thức kiểm toán nội bộ
Chức năng KTNB trong ngân hàng thương mại xác định phạm vi KTNB
được hoạt động: kiểm toán tất cả các hoạt động, các quy trình nghiệp vụ và các đơn vị,
bộ phận của ngân hàng; kiểm toán đặc biệt và tư vấn theo yêu cầu của HĐQT và Ban
Kiểm soát.
Tuỳ theo đối tượng kiểm toán cụ thể, các hình thức KTNB trong ngân hàng thương
Footer Page 15 of 126.
14
Header Page 16 of 126.
mại gồm kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán thông tin trên báo cáo
tài chính và báo cáo quản trị, kiểm toán quá trình điều hành và kiểm toán công nghệ
thông tin. Theo mục tiêu kiểm toán, loại hình KTNB gồm kiểm toán thông tin, kiểm
toán quy tắc, kiểm toán hiệu quả và hiệu năng.
1.4
Nguyên tắc này xuất phát từ chính bản chất và chức năng của kiểm toán. Kiểm toán
nội bộ ra đời là do yêu cầu khách quan kiểm soát trở lại các hoạt động nghiệp vụ được
ghi nhận đã bao hàm hai chức năng phản ánh và giám đốc, kiểm tra. Kiểm toán viên
có quyền được đề nghị các bộ phận có thẩm quyền giám định về mặt chuyên môn
hoặc làm tư vấn khi cần thiết. Nguyên tắc này chỉ ra kiểm toán viên và các cơ quan
kiểm toán phải có trình độ và khả năng đáp ứng yêu cầu để đảm bảo thực hiện một
cách khách quan, công bằng, có hiệu quả các trách nhiệm đối với báo cáo kiểm toán.
Báo cáo kiểm toán phải được đảm bảo bí mật, chỉ được cung cấp cho người có thẩm
quyền theo quy định. Các kiểm toán viên nội bộ phải đảm bảo không tiết lộ các phát
hiện của mình cho các cơ quan bên ngoài, các bộ phận khác trong đơn vị mà chưa
Footer Page 16 of 126.
15
Header Page 17 of 126.
được sự đồng ý của các cấp lãnh đạo có thẩm quyền.
d) Nguyên tắc không kiêm nhiệm
Nguyên tắc không kiêm nhiệm là một hệ quả của nguyên tắc độc lập, khách
quan. Hoạt động của KTNB muốn độc lập, mọi ý kiến của KTNB phải khách quan thì
hoạt động của KTNB không liên quan hoặc không tham gia trực tiếp vào hoạt động
đang diễn ra tại các đơn vị trong nội bộ ngân hàng. Các KTV không kiêm nhiệm các
chức năng quản lý khác trong nội bộ, không là một phần hay tham gia vào các chốt
chặn của hệ thống kiểm soát nội bộ các hoạt động hàng ngày của ngân hàng.
e)
Kiểm toán nội bộ được quyền tiếp cận các tài liệu, hồ sơ, giao dịch và các tài
Footer Page 17 of 126.
16
Header Page 18 of 126.
được và mục tiêu hoạt động đề ra.
Thực hiện các nội dung khác có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của kiểm toán nội
bộ, theo yêu cầu của Ban Kiểm soát, của Hội đồng quản trị.”
Từ các nội dung công việc của KTNB trong ngân hàng thương mại, KTNB đã
hình thành nên một số loại hình kiểm toán có bản chất, trình tự và phương pháp áp
dụng khác nhau, gồm: kiểm toán hoạt động hay kiểm toán nghiệp vụ, kiểm toán tuân
thủ, kiểm toán thông tin báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị và kiểm toán
công nghệ thông tin (CNTT).
a) Kiểm toán hoạt động (kiểm toán nghiệp vụ)
Kiểm toán hoạt động thực hiện xem xét lại tất cả các thủ tục và phương pháp
hoạt động của ngân hàng nhằm mục đích đánh giá tính hiệu quả và tính hiệu lực. Ở
giai đoạn hoàn tất một cuộc kiểm toán hoạt động, kiểm toán viên thường có những
kiến nghị cải tiến hoạt động của ngân hàng. Mục tiêu của kiểm toán hoạt động là xem
xét tính hiệu quả, hiệu lực hoạt động của ngân hàng và khảo sát đánh giá tính hiệu
quả, hiệu lực của quá trình kiểm soát nội bộ nhằm mục đích trợ giúp cho các đơn vị
vận hành công việc kinh doanh hiệu quả hơn. Nội dung công việc của kiểm toán hoạt
động được cụ thể hóa như sau:
Kiểm toán hoạt động kiểm tra việc huy động, phân phối sử dụng một cách tiết kiệm và
có hiệu quả các nguồn lực (nhân lực, tài sản, nguồn vốn, lợi thế kinh doanh...) của
ngân hàng thương mại.
Kiểm toán hoạt động kiểm tra tính hiệu quả của hoạt động kinh doanh, phân phối và
sử dụng thu nhập; kết quả bảo toàn và phát triển vốn.
Kiểm toán hoạt động kiểm tra và đánh giá tính hiệu quả hoạt động của các bộ phận
Nội dung công việc của kiểm toán báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị gồm:
Kiểm tra và xác nhận tính kịp thời, đầy đủ, khách quan, tính tin cậy của báo cáo tài
chính; báo cáo kế toán quản trị trước khi (Tổng) Giám đốc ký duyệt và công bố;
Kiểm tra và đánh giá các báo cáo tài chính, kế toán quản trị; đưa ra những kiến nghị
và tư vấn cần thiết cho hoạt động kinh doanh nhằm đảm bảo sự hợp lý và hiệu quả.
d) Kiểm toán công nghệ thông tin
Kiểm toán CNTT hướng tới việc xem xét lại về mặt kỹ thuật các trang thiết bị
phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu, hệ thống mạng phục vụ cho một hoặc nhiều hoạt
động kỹ thuật, nghiệp vụ; đánh giá hệ thống xử lý thông tin và kiểm soát để đảm bảo
các chương trình phần mềm ứng dụng trong ngân hàng chứa đựng các chức năng thích
hợp để kiểm soát hệ thống và đảm bảo được tính hoàn chỉnh cao của các dữ liệu.
Các lĩnh vực kiểm toán công nghệ thông tin quan tâm khi tiến hành kiểm toán bao
gồm: quản lý an ninh theo logic; quản lý an ninh vật chất; phân tách nhiệm vụ; lưu giữ
giao dịch để kiểm toán; kiểm soát được các thay đổi; quản lý an ninh vật chất; mã
nhận diện cán bộ quản lý mạng, các tiện ích hệ thống và các thuộc tính của người sử
dụng mạng; hệ thống back up dữ liệu; mã hóa dữ liệu; làm sạch hệ thống; duy trì bộ
phận hỗ trợ và giải đáp thắc mắc.
1.4.3 Quy trình kiểm toán nội bộ Ngân hàng thương mại
Hoạt động KTNB trong ngân hàng thương mại có thể tiến hành dưới nhiều
hình thức khác nhau gồm: kiểm toán toàn diện và kiểm toán đặc biệt, kiểm toán
thường xuyên và kiểm toán định kỳ, kiểm toán phòng ngừa (tiền kiểm) và kiểm toán
sau hoạt động (hậu kiểm). Mỗi hình thức kiểm toán mang lại những kết quả nhất định
và thoả mãn những yêu cầu khác nhau. Tuỳ từng điều kiện, hoàn cảnh và trong từng
thời điểm, cần và có thể vận dụng các hình thức kiểm toán linh hoạt và hiệu quả.
Tùy thuộc vào loại hình kiểm toán, đối tượng kiểm toán khác nhau, trình tự kiểm toán
khác nhau nhưng các cuộc KTNB trong ngân hàng thương mại đều tuân thủ theo một
qui trình chung với bốn bước cơ bản:
Bước 1: Chuẩn bị cho đợt kiểm toán nội bộ
Thứ nhất, Thiết lập các mục tiêu kiểm toán. Mục tiêu cụ thể của từng đợt kiểm
toán có thể chia thành ba nhóm:
thiết cho một đợt kiểm toán rất khác nhau. Các yếu tố ảnh hưởng đến kế hoạch về thời
hạn kiểm toán bao gồm: quá trình đào tạo và kinh nghiệm của KTV, kiến thức về hoạt
động đang kiểm toán, loại hình kiểm toán thực hiện…
Thứ tư, Xác định các nguồn lực cần thiết và phân công công việc để thực hiện
đợt kiểm toán.
Đội ngũ kiểm toán gồm: Trưởng nhóm, KTV chính và các KTV phụ. Trưởng
nhóm có thể là Trưởng/Phó ban KTNB hay KTV chính. Điều này tùy thuộc vào quy
mô và tính chất phức tạp của đợt kiểm toán. Sau khi đã xác định được đội ngũ kiểm
toán, Trưởng nhóm kiểm toán tiến hành phân công công việc cụ thể cho từng thành
viên trong đoàn.
Chuẩn bị các phương tiện hỗ trợ: máy tính, máy ghi âm, các biểu mẫu phụ lục.
Ngoài ra, KTNB cũng xem xét sử dụng các nguồn lực bên ngoài trong trường hợp cần
thiết
Thứ năm, Khảo sát và thu thập thông tin về đối tượng được kiểm toán.
Mục đích của khảo sát là thu thập thêm thông tin về đối tượng được kiểm toán
và có được một số bằng chứng ban đầu cũng như tạo mối quan hệ với đối tượng được
kiểm toán. Công tác thu thập thông tin được thực hiện như sau:
KTV nội bộ nghiên cứu và tổng hợp thông tin từ các văn bản, tài liệu liên quan đến
tình hình hoạt động kinh doanh của bộ phận, đối tượng được kiểm toán; xem xét sơ bộ
các chính sách, biện pháp quy định của đơn vị trong kỳ kinh doanh, đánh giá sơ bộ
những thay đổi về điều kiện và môi trường hoạt động kinh doanh ảnh hưởng các mặt
hoạt động của đơn vị.
KTV nội bộ tìm hiểu chính sách, quy định mới và các chủ trương, biện pháp phát sinh
trong kiểm toán.
Footer Page 20 of 126.
19
tiên. Các đối tượng kiểm toán có mức rủi ro cao hơn sẽ được kiểm toán trước. Tuy
nhiên, đó là mức rủi ro đánh giá trên những thông tin hạn chế mà KTV có được. Do
đó, sau khi tìm hiểu và thu thập bằng chứng, KTV phải đánh giá lại mức độ rủi ro
trong hệ thống KSNB tại đối tượng được kiểm toán.
Đánh giá sự đầy đủ của bằng chứng: KTV cần kiểm tra lại chương trình kiểm toán để
đảm bảo rằng mọi công việc đã được hoàn thành đúng đắn và giấy tờ làm việc đã
được lập đầy đủ.
Bước 3: Lập báo cáo kiểm toán nội bộ và đưa ra những kiến nghị.
Các nguyên tắc lập một báo cáo kiểm toán
KTV thảo luận về các kết luận và kiến nghị với các cấp quản lý thích hợp của đối
tượng được kiểm toán trước khi phát hành báo cáo kiểm toán cuối cùng bằng văn bản.
Báo cáo kiểm toán cần khách quan, rõ ràng, súc tích, có tính xây dựng và kịp thời.
Báo cáo phải trình bày mục đích, phạm vi và kết quả của đợt kiểm toán.
Footer Page 21 of 126.
20
Header Page 22 of 126.
Báo cáo đưa ra kiến nghị về các cải tiến có khả năng thực hiện và thừa nhận các thành
quả hoặc các sửa đổi thỏa đáng.
Quan điểm của các đối tượng được kiểm toán về các kết luận và kiến nghị có thể được
đưa vào báo cáo kiểm toán.
Trưởng ban KTNB hoặc người được ủy quyền phải rà soát lại và phê chuẩn báo cáo
kiểm toán trước khi phát hành
Ý kiến của KTV
Đối với một vấn đề được phát hiện trong quá trình kiểm toán khi đưa lên báo cáo phải
thể hiện rõ:
Thực trạng: là những vấn đề KTV phát hiện được trong thực tế. Thực trạng có thể là:
Footer Page 22 of 126.
21
Header Page 23 of 126.
chức từng đợt kiểm tra. Vì vậy, những vấn đề phát hiện thường là những sai phạm đã
phát sinh, do đó hạn chế tác dụng trong việc phát hiện, ngăn ngừa và quản lý rủi ro.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng (được Quốc hội thông
qua ngày 15/6/2004) đã tách bạch hai chức năng kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ.
Cụ thể, Khoản 2 Điều 38 quy định nhiệm vụ kiểm toán nội bộ thuộc về Ban kiểm soát
và Điều 41 quy định “Tổ chức tín dụng phải lập hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ
thuộc bộ máy điều hành, giúp Tổng Giám đốc (Giám đốc) điều hành, thông suốt an
toàn và đúng pháp luật mọi hoạt động nghiệp vụ của tổ chức tín dụng”.
Mô hình Kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị. Theo thông lệ quốc tế, không
có hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ riêng biệt, trực thuộc Ban điều hành mà hoạt
động kiểm soát là thường xuyên đã được đưa vào từng quy trình về nghiệp vụ và quản
lý, công tác kiểm soát nội bộ gắn liền với trách nhiệm của từng thành viên trong ngân
hàng. Còn việc kiểm tra, đánh giá, xác nhận, tư vấn phải do bộ phận kiểm toán nội bộ
thuộc HĐQT thực hiện, có vậy với đảm bảo được tính độc lập và khách quan.
Quy chế KTNB của tổ chức tín dụng (Ban hành kèm theo Quyết định số 37/2006/QĐNHNN ngày 01 tháng 8 năm 2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) quy định rõ:
“ Kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng được tổ chức thành hệ thống thống nhất theo
ngành dọc, trực thuộc và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Kiểm soát. Căn cứ quy mô,
mức độ và đặc điểm hoạt động của tổ chức tín dụng và trên cơ sở đề nghị của Ban
Kiểm soát, Hội đồng quản trị quyết định về tổ chức bộ máy của kiểm toán nội bộ, chế
độ lượng, thưởng, phụ cấp trách nhiệm của người làm công tác kiểm toán nội bộ. Tổ
chức tín dụng được thuê các chuyên gia, tổ chức bên ngoài có đủ khả năng, năng lực,
trình độ để thực hiện một phần công việc kiểm toán nội bộ đối với những hoạt động
mà bộ phận kiểm toán nội bộ chưa đủ khả năng thực hiện kiểm toán với điều kiện đảm
giao công tác KTNB.
Chất lượng cán bộ: Chất lượng này bao gồm việc bố trí đào tạo và cập nhật các quy
trình, quy định hàng ngày. Chất lượng cán bộ còn được phản ánh qua yếu tố năng lực,
tính cách của từng cán bộ cụ thể.
1.5.2
Nhân tố khách quan
Nhân tố khách quan ảnh hưởng tới kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
gồm có môi trường pháp lý, đối tượng được kiểm toán nội bộ và các nhân tố khác.
Môi trường pháp lý: Hệ thống các văn bản quy phạm nội bộ và tầm quan trọng của
KTNB đối với Hội đồng quản trị, Ban điều hành là những nhân tố quan trọng ảnh
hưởng tới KTNB. Hệ thống các văn bản tốt là cơ sở để KTNB thực hiện các nghiệp vụ
theo đúng quy chuẩn. KTNB càng có vai trò quan trọng đối với Hội đồng quản trị thì
quyền lực của KTNB càng nhiều, vị trí của KTNB càng độc lập so với các bộ phận
nghiệp vụ và vì thế KTNB hoạt động hiệu quả hơn rất nhiều.
Đối tượng được kiểm toán nội bộ: Đây là nhân tố thường xuyên có tác động ngược tới
KTNB. Tác động này được tách ra làm hai loại: Thứ nhất, những tác động tích cực
nhằm cải tổ hệ thống KTNB cho tốt hơn như hỗ trợ cập nhật kiến thức mới, các kỹ
năng mới, đặt ra các yêu cầu mới nhằm nâng cao chất lượng KTNB, áp dụng các công
nghệ phục vụ KTNB nhanh hơn; Thứ hai, những tác động tiêu cực như các tác động
ngược ảnh hưởng về mặt quyền lợi, các hoạt động giấu diếm số liệu, cố ý làm sai lệch
nhận định về tình hình hoạt động của đơn vị được KTNB hoặc làm sai hướng KTNB.
Các nhân tố khác không phải là đối tượng được kiểm toán nội bộ: Những nhân tố ngày
đa dạng và ít có ảnh hưởng. Đó có thể là các bộ phận nghiệp vụ khác trong việc phối
hợp nghiên cứu quy trình, có thể là lãnh đạo cấp trên với các yêu cầu về tổ chức các
đoàn KTNB, có thể là các cấp bộ ngành với các văn bản chỉ đạo hoạt động KTNB của
cấp dưới.
1.6
Mô hình tổ chức quy trình kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại ở một số
một kiểm toán viên nội bộ.
Tại một số nước châu Á: Hoạt động KTNB ở một số nước châu Á ra đời muộn
hơn Mỹ và các nước châu Âu, nhưng phát triển nhanh và cuối những năm 80 đầu
những năm 90 của thế kỷ 20, tuy nhiên mức độ phổ biến chưa cao. Một số nước chú
trọng vào xây dựng hệ thống KTNB như Mỹ (Singapore, Thái Lan…), nhưng cũng có
nước chú trọng tới hệ thống kiểm soát nội bộ (trong đó có chức năng KTNB) như
Nhật Bản, khuyến khích các doanh nghiệp của mình xây dựng và phát triển bởi hệ
thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp, và phải tuân thủ các quy định pháp lý khá
chặt chẽ của Nhà nước. Trong thời gian gần đây, nhất là từ sau cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ năm 1997, Chính phủ của các nước Đông Nam Á đã nhận thấy sự yếu
kém của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các ngân hang, các công ty tài chính và các
tập đoàn kinh tế lớn, do đó việc bắt buộc phải tổ chức và phát triển hệ thống kiểm soát
nội bộ có hiệu quả trong các đơn vị này là cần thiết.
1.6.2 Bài học đối với Việt Nam
Như chúng ta đã thấy, KTNB xuất hiện cùng với sự phát triển kinh tế, sự phức
tạp của hệ thống pháp luật, của các hoạt động kinh doanh như một nhu cầu của nhà
quản lý nhằm nâng cao tính an toàn và hiệu quả của hoạt động quản lý. Trong quá
trình phát triển từ đơn giản đến phức tạp, từ tự phát tới có tổ chức, từ nhỏ tới lớn thì
kinh nghiệm từ các tập đoàn kinh tế hàng đầu tới các doanh nghiệp nhỏ, từ các nước
phát triển tới các nước đang phát triển đều cho thấy để đảm bảo hiệu quả hoạt động
của hệ thống KTNB qua kinh nghiệm của các nước, ta có thể rút ra những bài học sau:
Bài học thứ nhất là: Tính độc lập về lợi ích
KTNB trước hết phải đạt tính độc lập về trách nhiệm, quyền lợi để từ đó đảm
bảo chất lượng các kết luận kiểm toán của mình. Cho dù ở quốc gia nào, việc áp đặt
gánh nặng quyền lợi lên cán bộ KTNB cũng sẽ dẫn đến kết luận kiểm toán thiếu khách
quan và trung thực.
Tính độc lập thể hiện ở việc không chịu sức ép của chính các đơn vị chịu sự kiểm tra,
các đơn vị phối hợp và lãnh đạo trực tiếp. KTNB cũng phải tránh sự hấp dẫn về lợi ích
có liên quan như việc chính cán bộ kiểm toán nội bộ có lợi ích liên quan với đơn vị
được kiểm toán. Nếu yếu tố này bị vi phạm thì cho dù cố gắng tới đâu hiệu quả KTNB