Lời cam đoan
Tôi là: Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Tên đề tài: Giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm toán nội bộ tại ngân hàng thơng
mại cổ phần Quân Đội
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học và độc lập
của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ
ràng.
Hà nội, ngày 20 Tháng 10 năm 2011
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Danh mục bảng biểu, sơ đồ
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trởng của Vốn huy động qua các năm từ 2004 đến 2010
Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng trởng của Tổng tài sản qua các năm từ 2004 đến 2010
Biểu đồ 2.3: Tốc độ tăng trởng của Tổng d nợ qua các năm từ 2004 đến 2010
Biểu đồ 2.4: Tốc độ tăng trởng của Lợi nhuận trớc thuế qua các năm từ 2004 đến
2010
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức Ngân hàng Thơng mại Cổ phần Quân đội giai đoạn
2008-2012
Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức của Phòng Kiểm toán nội bộ giai đoạn 2008-2012
Sơ đồ 2.3: Quy trình kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng Thơng mại Cổ phần Quân
đội
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu kết quả hoạt động huy động vốn chi nhánh Hải
Phòng- Ngân hàng Quân Đội năm 2010
Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu về kết quả về hoạt động tín dụng của chi nhánh
Thăng Long- Ngân hàng Quân đội
Bảng 2.3: Tình hình hoạt động kiểm toán nội bộ phòng Kiểm toán nội bộ tại
Ngân hàng TMCP Quân Đội từ năm 2008- 2010
Bảng 2.4: Tổng hợp sai phạm trích khấu hao TSCD hệ thống năm 2009- Ngân
hàng Quân Đội
Bảng 2.5: Tổng hợp sai phạm lãi tiết kiệm các chi nhánh Ngân hàng Quân Đội
năm 2009
Hệ thống ngân hàng trong bất kỳ một nền kinh tế nào cũng luôn giữ vai trò
quan trọng trong quá trình ổn định và phát triển kinh tế, xã hội.Với t cách là định
chế tài chính trung gian, hệ thống ngân hàng không chỉ thực hiện tốt việc huy động,
phân phối lại nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, thanh toán và cung ứng các
dịch vụ ngân hàng cho các tổ chức, cá nhân mà còn thực hiện việc kiểm tra, kiểm
soát các hoạt động sản xuất kinh doanh. Tính hiệu quả trong hoạt động kinh tế, sự
phồn thịnh hay suy thoái của nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào chất lợng hoạch định
hoặc thực thi chính sách tiền tệ một cách linh hoạt, có hiệu quả và chất lợng hoạt
động của hệ thống ngân hàng. Để đánh giá đợc hiệu quả trong hoạt động kinh doanh
hoạt động của hệ thống ngân hàng cần phải thông qua công tác kiểm toán, trong đó
kiểm toán nội bộ có vai trò rất quan trọng.
Là một trong những nhân tố cơ bản trong hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân
hàng, bộ phận kiểm toán nội bộ cung cấp một sự quan sát, đánh giá thờng xuyên về
toàn bộ hoạt động của ngân hàng, bao gồm cả tính hiệu quả của việc thiết kế và vận
hành các chính sách và thủ tục về kiểm soát nội bộ. Cùng chung xu thế phát triển
của kiểm toán nội bộ trên thế giới, thời gian vừa qua Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam
đã ban hành những hớng dẫn cụ thể giúp các tổ chức kiểm toán nội bộ trong các
ngân hàng Việt Nam hình thành và phát triển. Trong quá trình phát triển đó, hệ
thống các ngân hàng Việt Nam đạt đợc những kết quả nhất định trong việc củng cố
hệ thống kiểm soát nội bộ, nâng cao giá trị của kiểm toán nội bộ; tuy nhiên vẫn còn
nhiều tồn tại đang đợc đặt ra cho hệ thống kiểm toán nội bộ của các ngân hàng.
Hoàn thiện tổ chức kiểm toán nội bộ là một yêu cầu cũng nh một nhân tố góp phần
vào sự ổn định và phát triển của các ngân hàng thơng mại.
Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, hệ thống ngân hàng
Việt Nam nói chung và các NHTM nói riêng đang đứng trớc những thách thức mới
đi kèm với nó là những rủi ro mới (rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro tỷ giá,
rủi ro tín dụng ). Do đó, để hạn chế thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra, một nhiệm
vụ không thể thiếu đợc và ngày càng trở nên thiết yếu trong hoạt động của các tổ
chức tín dụng là phải tổ chức tốt công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ trong bản thân
từng ngân hàng. Bởi lẽ, chính hoạt động kiểm tra, kiểm toán nội bộ sẽ phát hiện
Đối tợng nghiên cứu: Tổ chức Kiểm toán nội bộ tại ngân hàng TMCP
Quân Đội.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chủ yếu đi sâu nghiên cứu thực tiễn hoạt
động kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng TMCP Quân Đội trong những năm qua
trên cơ sở số liệu của ngân hàng từ năm 2008 tới nay và các thông tin nội bộ
khác từ ngân hàng.
4. Phơng pháp nghiên cứu.
Luận văn sử dụng phơng pháp luận khoa học duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử, kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, t duy lôgic, phơng pháp phân tích
thống kê, tổng hợp, điều tra, so sánh, đối chiếu để làm sáng tỏ vấn đề cần
nghiên cứu.
5. Đóng góp của luận văn.
Về mặt lý luận: Luận văn đã hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về kiểm
toán nội bộ tại các ngân hàng thơng mại, và đặc biệt đi sâu nghiên cứu, đa ra
các giải pháp để hoàn thiện tổ chức này tại các TCTD tại Việt Nam.
Về mặt thực tiễn: Luận văn đã phân tích đánh giá thực trạng hoạt động
kiểm toán nội bộ tại ngân hàng TMCP Quân Đội, từ đó đa ra những đánh giá
về kết quả đạt đợc và những mặt tồn tại trong hoạt động này. Trên cơ sở đó đa
ra những giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện tổ chức hoạt động kiểm toán nội
bộ tại ngân hàng Quân Đội, giúp cho Ngân hàng có thể chống đỡ và hạn chế
với các loại rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình.
6. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn gồm có 3 chơng:
Chơng 1: Một số vấn về cơ bản về Kiểm toán nội bộ tại ngân hàng thơng
mại.
Ch¬ng 2: Thùc tr¹ng tæ chøc kiÓm to¸n néi bé t¹i Ng©n hµng TMCP Qu©n
§éi.
Ch¬ng 3: Mét sè gi¶i ph¸p hoµn thiÖn tæ chøc kiÓm to¸n néi bé t¹i ng©n
hµng TMCP Qu©n §éi.
phát triển của kỹ thuật, công nghệ hiện đại, việc hình thành và sử dụng các
công cụ tài chính thích ứng với kinh tế thị trờng đã biến ngân hàng trở thành
một ngành công nghiệp quan trọng, ngày càng hoàn thiện và gắn bó chặt chẽ
với thị trờng.
Theo Peter Rose "Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp
một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng tiết
kiệm , dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính với bất kỳ
một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế". Đây có thể coi là khái niệm
tổng quát nhất về ngân hàng khi mà ngày nay hoạt động ngân hàng không
chỉ bó hẹp với sản phẩm dịch vụ truyền thống mà còn mở rộng sang lĩnh vực
hoạt động của các định chế tài chính khác nh bảo hiểm, kinh doanh chứng
khoán, bất động sản
Cùng với sự mở rộng đó, đặc điểm hoạt động kinh doanh ngân hàng ngày
càng phong phú, đa dạng. Dới góc độ kiểm toán hoạt động kinh doanh ngân
hàng có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, hoạt động kinh doanh ngân hàng chịu sự kiểm soát chặt chẽ
của các cơ quan quản lý thông qua rất nhiều các văn bản pháp luật chi phối.
Điều này xuất phát từ chức năng hoạt động của ngân hàng. Là một loại hình
doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng có mối
liên hệ chặt chẽ với hoạt động của tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế và
gắn liền với quyền lợi của các đối tợng mà ngân hàng phục vụ. Vì vậy rủi ro
là điều khó tránh khỏi trong hoạt động của ngân hàng và cần có sự kiểm tra
kiểm soát của các cơ quan chức năng để ngăn ngừa, hạn chế rủi ro ở mức độ
hợp lý.
Thứ hai, là một trung gian tài chính ngân hàng nắm giữ một lợng tài sản
tài chính lớn bao gồm tiền mặt và các giấy tờ có giá. Lợng tiền lớn đặt ra hai
vấn đề ngân hàng cần giải quyết là: an toàn trong cất giữ, vận chuyển và
phòng tránh hiện tợng gian lận, tham ô tài sản. Một hệ thống kiểm soát hiệu
quả là điều hết sức cần thiết.
Thứ ba, trong xu hớng kinh tế hội nhập toàn cầu phạm vi hoạt động của
Ngoài ra xuất phát từ yêu cầu quản lý của Nhà nớc, các NHTM còn chịu
sự kiểm tra của cơ quan Kiểm toán Nhà nớc. Hơn nữa rất nhiều chủ thể khi
thiết lập quan hệ với ngân hàng cũng cần có sự đảm bảo về hiệu quả hoạt
động của đối tác. Vì thế các ngân hàng hiện nay đều buộc phải tiến hành
kiểm toán độc lập trớc khi công bố các thông tin tài chính, để đảm bảo mức
độ trung thực của các thông tin đợc công bố.
Những đặc điểm đa dạng trong hoạt động cùng với rủi ro và hậu quả
nghiêm trọng mà nó gây ra đòi hỏi cần phải có một bộ phận giám sát, kiểm
tra một cách độc lập và hiệu quả trực thuộc ngân hàng. Kiểm toán nói chung,
kiểm toán nội bộ nói riêng và hoạt động của nó là điều không thể thiếu trong
hoạt động kinh doanh ngân hàng ngày nay.
1.1.2 Định nghĩa kiểm toán nội bộ
Cho đến nay trên thế giới, Kiểm toán nội bộ đã có lịch sử tồn tại và phát
triển trên 60 năm và đợc thừa nhận ở trên 165 quốc gia nh một nghề nghiệp
mang tính chuyên nghiệp. Cùng với sự phát triển năng động và ngày một
phức tạp của các nền kinh tế, vai trò và chức năng của kiểm toán nội bộ
trong việc đa ra đảm bảo về việc đơn vị có thể kiểm soát một cách hữu hiệu
rủi ro đã dần đợc công nhận trong tất cả các khu vực kinh tế công, kinh tế t
nhân và cả các tổ chức phi lợi nhuận.
Tại Mỹ, ngay từ năm 1914 những t tởng hiện đại về kiểm toán đã xuất
hiện nhng đến sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 cùng với sự phát
triển của kiểm toán nói chung, kiểm toán nội bộ mới có những bớc tiến đáng
kể và đợc đánh dấu chính thức vào năm 1941 với sự ra đời của Học viện
Kiểm toán viên nội bộ Hoa Kỳ (IIA). IIA là một trong những tổ chức đi tiên
phong và có uy tín nhất trên thế giới trong việc định hớng và đặt ra khuôn
khổ hoạt động cho kiểm toán nội bộ. IIA đa ra các chuẩn mực quốc tế về
kiểm toán nội bộ và liên tục cập nhật các chuẩn mực này nh là một thông lệ
tốt nhất về kiểm toán nội bộ. Tất cả các kiểm toán viên nội bộ là thành viên
của IIA bắt buộc phải tuân thủ các chuẩn mực và quy định về kiểm toán nội
bộ của IIA. Có thể minh họa sự thay đổi trọng tâm trong vai trò của KTNB
toán nội bộ hiện đại đầu tiên của Đức đợc thành lập tại Công ty Friendrich
Krupp vào năm 1875. Hoạt động kiểm toán nội bộ phát triển nhanh chóng
tại Đức trong khoảng 60 năm nửa sau thế kỷ XX. Trong giai đoạn đầu, mục
tiêu của kiểm toán nội bộ ở Đức là nhằm kiểm tra sai sót và ngăn chặn các
hành vi vi phạm pháp luật. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, cơ cấu của
các doanh nghiệp kinh doanh trở nên phức tạp hơn, và yêu cầu đặt ra là phải
tăng cờng kiểm soát nội bộ và hoạt động quản lý. Do đó, mục tiêu của kiểm
toán nội bộ đã phải thay đổi để nâng cao lợi ích kinh tế của các doanh
nghiệp. Các kiểm toán viên nội bộ không chỉ là thành viên của ban quản lý
mà còn là những ngời bảo vệ doanh nghiệp. Hiện nay, ở Đức số lợng kiểm
toán viên có chứng chỉ hành nghề trong các bộ phận kiểm toán nội bộ đã lên
tới khoảng 50.000 ngời.
Theo Liên đoàn kế toán Quốc tế (IFAC): Kiểm toán nội bộ là một
hoạt động đánh giá đợc lập ra trong một doanh nghiệp nh là một loại dịch vụ
cho doanh nghiệp đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát thích hợp
và hiệu quả của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ
Tại Việt Nam, hoạt động kiểm toán nội bộ mới triển khai từ năm 1997
theo Nghị định số 59/CP ngày 03/10/1996 của Chính phủ về Quy chế Quản
lý tài chính và Hạch toán kinh doanh và Quyết định 832/TC/QĐ/CĐKT ngày
28/10/1997 của Bộ Tài chính ban hành Quy chế Kiểm toán nội bộ áp dụng
cho các doanh nghiệp nhà nớc cùng với các thông t hớng dẫn: Thông t
52/1998/TT-BTC ngày 16/4/1998 và Thông t 171/1998/TT-BTC ngày
22/12/1998. Riêng đối với các tổ chức tín dụng, Ngân hàng nhà nớc đã ban
hành Quyết định 37/2006/QĐ-NHNN ngày 08/08/2006 về Quy chế Kiểm
toán nội bộ của tổ chức tín dụng. Trong quy chế có quy đinh rõ ngân hàng
phải thờng xuyên tổ chức kiểm toán nội bộ nhằm đánh giá chất lợng tin cậy
của thông tin kế toán, tài chính; về bảo vệ an toàn tài sản của ngân hàng; về
chấp hành pháp luật, chính sách chế độ của nhà nớc cũng nh các quyết định,
nghị quyết của Hội đồng quản trị, của Ban giám đốc ngân hàng đối với hoạt
động của ngân hàng.
toán và hệ thống kiểm tra nội bộ.
Thứ hai: Kiểm tra, đánh giá và xác nhận chất lợng, độ tin cậy của thông
tin kinh tế, tài chính của báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị và hoạt
động của đơn vị.
Thứ ba: Kiểm tra, đánh giá tính kinh tế, tính hiệu quả của các hoạt động
kinh tế, tài chính kể cả hoạt động phi tài chính của đơn vị. Phát hiện những
sơ hở yếu kém và đề xuất các giải pháp cải tiến hoàn thiện.
Thứ t: Kiểm tra, đánh giá tuân thủ pháp luật, các quy định và yêu cầu từ
bên ngoài và chính sách quản lý nội bộ của đơn vị.
1.1.4 Chức năng, nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ là một hoạt động độc lập, đảm bảo khách quan và t vấn
đợc thiết kế trong đơn vị. Kiểm toán nội bộ thông qua cách tiếp cận có hệ
thống và nguyên tắc, cung cấp cho các thành viên của tổ chức những công
việc phân tích, xác minh, kiến nghị, ý kiến t vấn và thông tin thuộc về các
hoạt động đã đợc thẩm tra. Nhờ đó, kiểm toán nội bộ đánh giá và nâng cao sự
thích hợp và hiệu quả của quá trình quản trị rủi ro, kiểm soát và điều hành.
Có thể thấy tổ chức kiểm toán nội bộ có vai trò là một công cụ quản lý của
các nhà quản lý đơn vị, phục vụ đắc lực cho quản lý hoạt động của chính đơn
vị.
Chức năng chủ yếu của tổ chức này là thực hiện việc kiểm tra và đánh giá
đối với các hoạt động trong bản thân đơn vị, với những nội dung cụ thể nh đã
trình bày trên kiểm toán nội bộ có các chức năng sau đây:
Chức năng kiểm tra: Là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật để xem xét,
đối chiếu mức độ trung thực của các thông tin, tài liệu và tính hợp pháp của
việc thực hiện các nghiệp vụ hay lập các bản khai tài chính.
Chức năng đánh giá: Thông qua kiểm tra, kiểm toán nội bộ thực hiện
đánh giá tính đúng đắn, trung thực và hợp pháp của các số liệu, thông tin tài
liệu đợc kiểm tra.
Chức năng xác nhận: Thông qua kiểm tra, đánh giá, kiểm toán nội bộ
xác nhận thực trạng của thông tin đã kiểm tra về tính đúng đắn, trung thực và
viên nội bộ không bị chi phối bởi các điều kiện đe doạ, tính khách quan và
công bằng trong các nhận xét của họ.
- Tính chuyên trách: Kiểm toán viên nội bộ không kiêm nhiệm các cơng
vị, các công việc chuyên môn khác trong bộ máy điều hành của NHTM.
- Tính liên tục: Bất cứ ngân hàng nào cũng phải đảm bảo luôn tồn tại bộ
phận kiểm toán nội bộ chính thức và hoạt động lâu dài trong quá trình hoạt
động kinh doanh của mình. Nhà quản trị luôn luôn phải thực hiện các biện
pháp cần thiết để tạo nguồn lực để hoạt động kiểm toán nội bộ đợc thực hiện,
giúp nâng cao hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ.
1.1.6 Cơ cấu tổ chức của bộ phận kiểm toán nội bộ trong ngân hàng thơng mại
Bộ máy kiểm toán nội bộ là hệ thống tổ chức của các kiểm toán viên do
đơn vị tự lập ra theo yêu cầu quản trị nội bộ và thực hiện nề nếp, kỷ cơng
quản lý.
Theo ủy ban Basel (Uỷ ban Basel về giám sát nghiệp vụ ngân hàng là
một Uỷ ban bao gồm các chuyên gia giám sát hoạt động ngân hàng đợc thành
lập bởi các Thống đốc Ngân hàng Trung ơng của nhóm G10, năm 1975), mỗi
ngân hàng nên có một bộ phận kiểm toán nội bộ thờng trực và độc lập và đảm
bảo cung cấp cho bộ phận kiểm toán nội bộ đầy đủ các nguồn lực và nhân lực
cần thiết.
ủy ban Basel cũng nhấn mạnh về sự quan trọng của nguyên tắc độc lập
trong bộ máy kiểm toán nội bộ. Chức năng kiểm toán nội bộ của ngân hàng
phải đợc độc lập với các hoạt động đợc kiểm toán và phải độc lập với quá
trình kiểm soát hàng ngày của ngân hàng. ủy ban Basel khuyến khích các
ngân hàng thành lập một uỷ ban kiểm toán thờng trực. ủy ban kiểm toán đóng
vai trò tích cực trong việc giúp ngân hàng đảm bảo tính hiện hữu và hữu hiệu
của hệ thống kiểm soát. Hơn nữa, ủy ban kiểm toán còn tăng cờng hiệu quả
của hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ, đặc biệt tại các ngân hàng
có quy mô lớn với nhiều mảng hoạt động phức tạp.
Mỗi ngân hàng nên có điều lệ về kiểm toán nội bộ nhằm nâng cao vị trí
và quyền hạn của bộ phận kiểm toán nội bộ. Điều lệ kiểm toán nội bộ của
ngân hàng tại 13 quốc gia khác nhau thuộc ủy ban Basel nh Bỉ, Pháp, Đức, ý,
Nhật Bản, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Mỹ Theo cuộc điều tra, các
ngân hàng thờng tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ theo mô hình tập trung. ở
các ngân hàng lớn, các chi nhánh ở nớc ngoài có thể có bộ phận kiểm toán
nội bộ nhng phải kết hợp với bộ phận kiểm toán nội bộ tại trụ sở chính. Tại
các ngân hàng nhỏ hơn và là một bộ phận của một tập đoàn, kiểm toán nội bộ
có thể đợc thuê ngoài bởi kiểm toán nội bộ của cả tập đoàn. Với các tổ chức
tín dụng lớn trong mẫu điều tra, bộ phận kiểm toán nội bộ thờng đợc tổ chức
dọc theo bộ phận kinh doanh. Trởng bộ phận kiểm toán nội bộ của những bộ
phận kinh doanh này có trách nhiệm báo cáo cho trởng bộ phận kiểm toán nội
bộ của cả ngân hàng. Trởng bộ phận kiểm toán nội bộ của ngân hàng cũng là
ngời có trách nhiệm đảm bảo sự tuân thủ các nguyên tắc kiểm toán nội bộ
của bộ phận mình.
1.2 Phơng pháp kiểm toán nội bộ
1.2.1 Phơng pháp kiểm toán tuân thủ
Phơng pháp kiểm toán tuân thủ là các thủ tục và kỹ thuật kiểm toán đợc
thiết lập để thu thập các bằng chứng về tính đầy đủ và hiệu quả của hệ thống
kiểm soát nội bộ đơn vị.
Đặc trng của phơng pháp kiểm toán tuân thủ: Các thử nghiệm và kiểm
tra đều dựa vào các quy chế kiểm soát trong hệ thống kiểm soát nội bộ đơn
vị. Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ đợc đánh giá là mạnh, là hiệu quả và kiểm
soát viên có thể tin tởng thì công việc kiểm toán cần dựa vào các quy chế
kiểm soát. Công việc kiểm toán đợc dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ nên
phơng pháp kiểm toán tuân thủ còn đợc gọi là bớc kiểm nghiệm dựa vào
kiểm soát.
- Phơng pháp thực nghiệm (trắc nghiệm): Đây là phơng pháp tái diễn các
hoạt động hay nghiệp vụ để xác minh lại kết quả của một quá trình, một sự
việc đã qua, hoặc sử dụng thủ pháp kỹ thuật nghiệp vụ để tiến hành các phép
thử nhằm xác định một cách khách quan chất lợng công việc, mức độ chi
phí
viên kiểm toán nội bộ thông qua việc trao đổi, phỏng vấn những ngời trong
và ngoài đơn vị kiểm toán có liên quan nội dung kiểm toán. Việc phỏng vấn
có thể đợc thực hiện dới dạng vấn đáp hoặc văn bản kỹ thuật.
- Phơng pháp tính toán: Là việc kiểm tra tính chính xác về mặt toán học
của số liệu chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính và các tài liệu liên quan
khác hay việc thực hiện các tính toán độc lập của nhân viên kiểm toán nội bộ.
1.2.2 Phơng pháp kiểm toán cơ bản
Phơng pháp kiểm toán cơ bản là các phơng pháp đợc thiết kế và sử dụng
nhằm mục đích thu thập các bằng chứng có liên quan đến các dữ liệu do hệ
thống kế toán xử lý và cung cấp.
Đặc trng cơ bản của phơng pháp này là việc tiến hành các thử nghiệm,
các đánh giá đều đợc dựa vào các số liệu, các thông tin trong báo cáo tài
chính và hệ thống kế toán của đơn vị. Vì vậy phơng pháp kiểm toán cơ bản
còn đợc gọi là các bớc kiểm nghiệm theo số liệu.
Phơng pháp kiểm toán cơ bản bao gồm:
- Phơng pháp phân tích đánh giá tổng quát: Phân tích so sánh về lợng
trên cùng một chỉ tiêu (còn gọi là phân tích ngang) phơng pháp này đơn giản
nhng không thể hiện mối quan hệ giữa các chỉ tiêu. Ví dụ nh:
+ So sánh số liệu kỳ này với kỳ trớc hoặc giữa các kỳ với nhau.
+ So sánh số liệu thực tế với số liệu kế hoạch, số liệu dự toán
+ Phân tích một số liệu kỳ này thành các số liệu chi tiết để so sánh
Phân tích đánh giá tổng quát là phơng pháp kiểm toán có hiệu quả cao vì
thời gian ít, chi phí thấp mà nhiều tác dụng. Kỹ thuật phân tích thờng đợc
các nhân viên kiểm toán nội bộ cấp cao tiến hành và thờng là kỹ thuật đợc áp
dụng đầu tiên cho mọi cuộc kiểm toán. Trong một số trờng hợp, nhân viên
kiểm toán nội bộ có thể chỉ cần áp dụng phơng pháp phân tích là đã có thể
rút ra những nhận xét cần thiết mà không cần áp dụng thêm thủ tục kiểm
toán nào khác.
- Phân tích tỷ suất (còn gọi là phân tích dọc) bằng cách so sánh, xác định
tỷ lệ tơng quan giữa các chỉ tiêu, các khoản mục khác nhau. Tuỳ theo kiến
b. Khảo sát ban đầu:
Đây là giai đoạn quan trọng trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán.
Kiểm toán nội bộ phải thu thập tất cả những thông tin có thể thu thập đợc
một cách xâu chuỗi.
- Mục tiêu và kế hoạch của cuộc kiểm toán.
- Quy định và chính sách liên quan: Các quy định hiện hành của pháp luật,
các quy định nội bộ của NHTM, những thông tin phục vụ cho việc rà soát
môi trờng hoạt động bên ngoài có liên quan.
- Thông tin về đơn vị đợc kiểm toán: Khảo sát và thu thập thông tin đơn vị đ-
ợc kiểm toán làm cơ sở cho việc đánh giá rủi ro kiểm toán và tính trọng yếu,
từ đó xác định những nội dung quan trọng cần tập trung kiểm toán làm cơ sở
để lập kế hoạch kiểm toán thích hợp, giảm thiểu rủi ro kiểm toán.
- Thông tin tài chính: Kiểm toán về vấn đề nào sẽ thu thập thông tin về vấn đề
đó (Ví dụ về tỷ lệ nợ xấu, nếu kiểm tra về vấn đề này )
- Giấy tờ làm việc và báo cáo kiểm toán năm trớc (nếu có).
c. Xác định rủi ro và đánh giá môi trờng kiểm soát nội bộ
- Xác định rủi ro: Yếu tố xác định rủi ro:
+ Tính hoàn thiện của dữ liệu
+ Việc xử lý lại những giao dịch bị từ chối
+ Khả năng lỗi hệ thống ảnh hởng đến sự chính xác của việc tính toán dữ liệu
+ Khả năng phê duyệt vợt thẩm quyền hoặc kiểm soát bị vô hiệu hóa bởi
những ngời có thẩm quyền.
+ Tính phức tạp của quy trình
+ Số lợng các sai sót xảy ra và không bị phát hiện trong quy trình
+ Các giao dịch có đợc phê duyệt một cách thích hợp
+ Phân tách trách nhiệm
+ Bảo quản tài sản
+ Kiểm kê tài sản thực tế so với số liệu sổ sách
- Xác định và tìm hiểu các chốt kiểm soát: Các chốt kiểm soát có hiệu quả
hay không hiệu quả. Thông tin cần thiết về các chốt kiểm soát: