Header Page 1 of 126.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của tôi.
Không sao chép bất cứ một công trình hay luận văn nào của bất cứ tác giả
nào.
Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực. Các tài liệu trích dẫn nguồn
gốc rõ ràng.
Tác giả luận văn: Nguyễn Như Quỳnh
Footer Page 1 of 126.
Header Page 2 of 126.
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................. 1
I. Lý do lựa chọn đề tài .............................................................................. 1
II. Mục đích nghiên cứu của đề tài ........................................................... 3
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài .................................... 3
IV. Phương pháp nghiên cứu .................................................................... 3
V. Nội dung của đề tài ................................................................................ 3
CHƯƠNG I ĐÓI NGHÈO VÀ CÁC CHƯƠNG TRÌNH XOÁ ĐÓI
GIẢM NGHÈO............................................................................................... 4
1.1 Một số khái niệm và chuẩn mực về đói nghèo.................................. 4
1.1.1 Khái niệm, chỉ tiêu và chuẩn mực về đói nghèo của thế giới ...... 4
1.1.2 Khái niệm, chỉ tiêu và chuẩn mực đói nghèo của Việt Nam ....... 8
1.2 Nguyên nhân của đói nghèo .............................................................. 11
2.2 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội của xã giai đoạn 2006-2010 . 49
2.2.1 Nông nghiệp ................................................................................. 52
2.2.2 Lâm nghiệp .................................................................................. 53
2.2.3 Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ........................................ 54
2.2.4 Chăn nuôi .................................................................................... 55
2.2.5 Thương mại dịch vụ ..................................................................... 56
2.3 Thực trạng hạ tầng kinh tế xã hội xã so với chuẩn các tiêu chí xây
dựng nông thôn mới ................................................................................. 56
2.4 Thực trạng đói nghèo trong những năm gần đây của xã Phương
Trung ......................................................................................................... 63
2.4.1 Khái quát tình hình đói nghèo của huyện Đoan Hùng ............. 63
2.4.2 Tình hình đói nghèo của xã Phương Trung trong những năm
gần đây ................................................................................................... 64
CHƯƠNG III THỰC HIỆN DỰ ÁN TRỒNG CHÈ NHẰM MỤC TIÊU
XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI XÃ PHƯƠNG TRUNG HUYỆN ĐOAN
HÙNG TỈNH PHÚ THỌ ............................................................................. 68
3.1 Căn cứ của đề xuất ............................................................................. 68
3.1.1 Chiến lược tập trung phát triển cây chè của tỉnh Phú Thọ ....... 70
3.1.2 Điều kiện tự nhiên của vùng dự án............................................. 71
3.2 Nội dung dự án đầu tư thâm canh, mở rộng diện tích chè trên địa
bàn huyện Đoan Hùng ............................................................................. 73
3.2.1 Đầu tư thâm canh ........................................................................ 75
3.2.2 Đầu tư mới, mở rộng diện tích .................................................... 75
3.3 Nguồn vốn đầu tư cho dự án ............................................................. 76
3.4 Hiệu quả của dự án đối với công cuộc xoá đói giảm nghèo trên địa
bàn ............................................................................................................. 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................................... 81
KẾT LUẬN CHUNG ................................................................................... 87
TÓM TẮT LUẬN VĂN ............................................................................... 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 89
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
HĐND
: Hội đồng nhân dân
MDG
: Các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ
BHYT
: Bảo hiểm y tế
PCPNN
: Tổ chức phi chính phủ nước ngoài
THCS
: Trung học cơ sở
THPT
: Trung học phổ thông
PTNT
dân cư sống ở khu vực nông thôn và khoảng 70% lực lượng lao động làm
việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Do sự phát triển chậm của lực lượng sản
xuất, sự lạc hậu về kinh tế, xuất phát điểm của chúng ta thấp, lực lượng lao
động chưa qua đào tạo còn nhiều đặc biệt là lao động trong lĩnh vực nông
nghiệp. Do đó mà trình độ phân công lao động xã hội chưa cân đối và mức
tăng trưởng xã hội thấp chưa thực sự bền vững.
Với chủ trương phát triển một nền kinh tế thị trường theo định hướng
XHCN có sự điều tiết của nhà nước. Đây vừa là nhiệm vụ chiến lược của
công cuộc phát triển kinh tế xã hội đồng thời là phương tiện để đạt được mục
tiêu "dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh" mà muốn đạt
được mục tiêu đó thì trước hết phải xoá bỏ được đói nghèo và lạc hậu. Bởi
nhà nước không chỉ đảm bảo nhu cầu tối thiểu cho nhân dân mà còn phải xoá
Footer Page 5 of 126.
1
Header Page 6 of 126.
bỏ tận gốc các nguyên nhân gây ra đói nghèo. Để tập trung được các nguồn
lực và triển khai đồng bộ thống nhất và hiệu quả các giải pháp thì chính sách
xoá đói giảm nghèo phải trở thành chương trình mục tiêu quốc gia phù hợp
với định hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước nhằm hỗ trợ trực tiếp
cho các xã nghèo, hộ nghèo. Các điều kiện cần thiết để phát triển sản xuất
tăng thu nhập, ổn định đời sống, tự vươn lên thoát khỏi đói nghèo.
Chủ trương của Đảng là tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn
hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từ đó mà
xác định chương trình mục tiêu xoá đói giảm nghèo vừa có tính cấp bách
trước mắt vừa có tính lâu dài. Cũng như các tỉnh khác trong cả nước- Phú
Thọ là một tỉnh có tỷ lệ nghèo đói khá cao và đang từng bước thực hiện
trong huyện Đoan Hùng. Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp để tổ chức thực
hiện thành công một số giải pháp phát triển kinh tế xã hội nhằm mục tiêu xoá
đói giảm nghèo.
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng đói nghèo của xã Phương Trung và các
giải pháp phát triển kinh tế xã hội nhằm mục tiêu xoá đói giảm nghèo trên địa
bàn xã
Phạm vi nghiên cứu: Tại xã Phương Trung- huyện Đoan Hùng- Tỉnh Phú
Thọ
IV. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu
dựa trên cơ sở lý luận về khoa học quản lý, lãnh đạo và quản lý, vận dụng lý
thuyết vào thực tế tại đơn vị hành chính nhà nước UBND xã Phương TrungHuyện Đoan Hùng- Tỉnh Phú Thọ
V. Nội dung của đề tài
Luận văn gồm ba chương
Chương I: Đói nghèo và các chương trình xoá đói giảm nghèo
Chương II: Thực trạng đói nghèo trong những năm qua của xã Phương Trung
huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ
Chương III: Thực hiện dự án trồng chè nhằm mục tiêu xoá đói giảm nghèo tại
xã Phương Trung huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ
Kết luận
Footer Page 7 of 126.
3
Header Page 8 of 126.
CHƯƠNG I
- Về thời gian: Phần lớn người nghèo khổ là những người có mức sống dưới
mức chuẩn trong một thời gian dài để phân biệt với số người nghèo khổ tình
thế chẳng hạn như những người thất nghiệp, những người mới nghèo do thiên
tai, dịch bệnh, rủi ro.
- Về không gian: Nghèo đói chủ yếu diễn ra ở nông thôn nơi có đông dân
sinh sống. Bên cạnh đó tình trạng đói nghèo ở thành thị cũng có xu hướng
tăng.
- Về giới: Người nghèo là phụ nữ đông hơn nam giới, những hộ gia đình
nghèo nhất là những hộ do phụ nữ làm chủ. Trong những hộ nghèo đói do
đàn ông làm chủ hộ thì phụ nữ khổ hơn nam giới.
- Về môi trường: Phần lớn những người đều sống ở vùng sinh thái khắc
nghiệt, ở đó tình trạng đói nghèo và sự xuống cấp về môi trường đang ngày
càng trầm trọng hơn. Tổ chức liên hiệp quốc không trực tiếp đưa ra khái niệm
đói nghèo của dân cư mà đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối như sau:"Nghèo
tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng những nhu cầu
cơ bản tối thiểu. Nhu cầu cơ bản tối thiểu cho cuộc sống là những đảm bảo về
cuộc sống ở mức tối thiểu về ăn, mặc, ở, đi lại, giao tiếp xã hội, vệ sinh, y tế
và giáo dục."
Tổ chức ESCAP ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đưa ra khái niệm về
đói nghèo như sau: "Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được
hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu
này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và
phong tục tập quán của địa phương. Con người dù có sống ở chế độ xã hội
nào thì cũng cần có những nhu cầu tối thiểu cần thiết. Trong số các nhu cầu
đó thì nhu cầu về ăn, ở, mặc và đi lại được coi là những nhu cầu thiết yếu
nhất để đảm bảo cuộc sống. Tuỳ theo mức độ đảm bảo nhu cầu tối thiểu mà
nghèo đói của dân cư được chia thành nghèo hoặc rất nghèo. Sự thoả mãn
những nhu cầu cơ bản trên tuỳ thuộc vào sự thừa nhận của xã hội, trình độ
phát triển kinh tế và phong tục quán của từng địa phương.
Footer Page 9 of 126.
của Liên hiệp quốc trong cuộc họp thượng đỉnh thiên niên kỷ năm 2000 đã
nhất trí với mục tiêu cho đến năm 2015 giảm một nửa số những người có ít
hơn 1 đô la Mỹ. Điểm 1 của những mục đích phát triển thiên niên kỷ. Theo
thông tin của Ngân hàng thế giới vào tháng 4 năm 2004 thì có thể đạt được
mục đích này nhưng không phải ở tất cả các nước. Trong khi nhờ vào tăng
Footer Page 10 of 126.
6
Header Page 11 of 126.
trưởng kinh tế tại nhiều vùng của Châu Á, tỷ lệ người nghèo giảm xuống rõ
rệt từ 58% xuống còn 16% tại Đông Á thì còn số những người nghèo nhất lại
tăng lên ở Châu Phi (gần gấp đôi từ năm 1981 đến 2001 phía Nam sa mạc
Sahara). Tại Đông Âu và Trung Á con số những người nghèo nhất đã tăng
lên đến 6% dân số. Nếu như đặt ranh giới nghèo là 2 đô la Mỹ mỗi ngày thì
có tổng cộng là 2,7 tỷ người nghèo, gần một nửa dân số thế giới.
Nếu xếp theo thu nhập bình quân đầu người thì các nước sau có tỷ lệ người
nghèo cao nhất: Malawi, Tanzania, Guine-Bissau, Burundi và Yemen.
Bên cạnh nguyên nhân chính trị, nghèo đói cũng là một nguyên nhân lớn của
hiện tượng dân di cư từ vùng núi về đồng bằng, từ nông thôn về thành thị, từ
các nước thứ ba về các nước phát triển .
Để xác định được rõ hiện trạng đói nghèo cần phải thông qua các tiêu chuẩn
nhất định. Do đó xác định đói nghèo có 3 căn cứ làm chuẩn mực sau đây:
- Căn cứ nhu cầu cơ bản đây là nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống tối thiểu
những người đói nghèo thường chưa vượt qua được ngưỡng tối thiểu này.
Thông thường ở các quốc gia kém phát triển nhu cầu thiết yếu được quan tâm
hơn trong việc xác định đói nghèo.
- Căn cứ vào mức thu nhập thực tế của hộ gia đình so với mức thu nhập
tăng phẩm lượng (sống dưới 60 tuổi, tỷ lệ người đi học, tiện nghi tính theo tỷ
lệ người dân có hơn phân nửa lợi tức đồng niên trung bình) và thêm một yếu
tố thứ tư là tỷ lệ người thất nghiệp dài hạn (không có việc làm ít nhất 12
tháng)
1.1.2 Khái niệm, chỉ tiêu và chuẩn mực đói nghèo của Việt Nam
Nước ta vốn là một nước nghèo, kém phát triển thu nhập bình quân đầu
người hàng năm thấp nên vấn đề đói nghèo cần được xem xét một cách cụ
thể. Chính vì vậy nước ta thống nhất khái niệm và tách riêng thành hai khái
niệm đói, nghèo.
- Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần
các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống trung bình của cộng đồng trên
mọi phương diện . Nghèo bao gồm hai loại là nghèo tuyệt đối và nghèo tương
đối.
+ Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng
thoả mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống. Đó là các nhu cầu về
ăn, ở mặc, đi lại, văn hoá giáo dục, y tế và giao tiếp xã hội.
Footer Page 12 of 126.
8
Header Page 13 of 126.
+ Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới
mức sống trung bình của cộng đồng tại địa phương.
- Đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức sống tối thiểu
và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó
là những hộ dân cư mà hàng năm thiếu ăn dứt bữa dẫn đến đói nghèo, đói
giáp hạt, đói gay gắt, thường xuyên phải vay nợ cộng đồng nhưng không có
- Vùng thành thị là 150.000 đồng/người/tháng bằng 1.800.000 đồng/người
/năm trở xuống.
Chuẩn nghèo Việt Nam là một tiêu chuẩn để đo lường mức độ nghèo của
các hộ dân tại Việt Nam. Chuẩn này khác với chuẩn nghèo bình quân trên thế
giới. Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam 170/205/QĐ-TTg
ký ngày 08/7/2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn
2006-2010
- Khu vực nông thôn: Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000
đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
- Khu vực thành thị: Những hộ có mức thu nhập bình quân từ
260.000/đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ
nghèo.
Mực thu nhập bình
Mức thu nhập bình
quân
quân
Khu vực nông thôn
Khu vực thành thị
(đồng/người/tháng)
(đồng/người/tháng)
1993
200.000
260.000
STT
Trong suốt những năm 1990, chuẩn nghèo là số thu nhập tương đương
sức mua 15,20,25 kg gạo mỗi tháng áp dụng cho tất cả các miền của Việt
Nam. Từ năm 1998 số kg gạo được chuyển thành tiền. Tính theo tiêu chuẩn
nghèo Bộ Lao động công bố tỷ lệ người nghèo vào năm 2001 là 17%, năm
2004 là 3.33% ở thành thị và 8.13% ở nông thôn. Theo tiêu chuẩn mới của
giai đoạn 2006-2010 tỷ lệ người nghèo sẽ tăng lên 26%.
Footer Page 14 of 126.
10
Header Page 15 of 126.
Cho đến năm 2009 theo chuẩn nghèo trên cả nước Việt Nam hiện có 2 triệu
hộ nghèo, đạt tỷ lệ 11% dân số.
Theo kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới chuẩn mực đói nghèo
sẽ được thay đổi theo thời gian từ 2 đến 3 năm một lần. Điều này chủ yếu phụ
thuộc vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Ngoài chuẩn mực về
hộ đói nghèo còn quy định về xã nghèo. Theo văn kiện chương trình quốc gia
về xoá đói giảm nghèo thì xã nghèo là xã thiếu hoặc yếu 6 công trình hạ tầng
cơ sở là điện lưới phục vụ sinh hoạt, đường giao thông, trường học, trạm y tế,
chợ mua bán và nước sinh hoạt tỷ lệ đói nghèo và tỷ lệ mù chữ cao
1.2 Nguyên nhân của đói nghèo
Con người sinh ra ai cũng có mong muốn có cơm ăn, áo mặc được học
ta thấp, tập quán canh tác lạc hậu, chiến tranh kéo dài, cơ chế quan liêu bao
cấp tồn tại quá lâu đã kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. Việc áp dụng
chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước và tập thể của các tư liệu sản xuất
chủ yếu trong một thời gian dài đã làm thui chột động lực sản xuất. Hệ thống
cơ sở hạ tầng yếu kém, trình độ dân trí chưa cao. Đây là những nguyên nhân
liên quan đến việc giải quyết tận gốc rễ vấn đề đói nghèo.
Do cơ chế chính sách sau khi thống nhất đất nước việc áp dụng chính
sách tập thể hoá nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp và chính sách giá
lương tiền đã đem lại kết quả xấu cho nền kinh tế vốn đã ốm yếu của Việt
Nam. Làm suy kiệt toàn bộ nguồn lực của đất nước và hộ gia đình ở nông
thôn cũng như thành thị, lạm phát tăng cao có lúc lên đến 700% năm.
Cơ chế chính sách có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến mức sống và
thu nhập của dân cư. Vì cơ chế chính sách tác động đến việc kiểm soát khả
năng các nguồn lực. Việc để kéo dài quá lâu cơ chế kinh tế quan liêu bao cấp
đã kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Kinh tế chậm phát triển
kéo theo các hệ luỵ xã hội mà đói nghèo là hệ luỵ nổi cộm, gây nhức nhối
bức xúc nhất cho xã hội.
Khi đất nước đổi mới, cơ chế kinh tế quan liêu bao cấp được chuyển
sang cơ chế của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN có sự điều tiết
của nhà nước. Trong điều kiện một nước nghèo chậm phát triển xuất phát
điểm thấp nên tiềm lực kinh tế của đất nước rất hạn chế, khó khăn. Do vậy
mà chính sách xoá đói giảm nghèo ngay lập tức chưa đáp ứng thoả mãn được
các yêu cầu xoá đói giảm nghèo. Nguồn lực đầu tư chưa đủ để chuyển dịch
Footer Page 16 of 126.
12
Header Page 17 of 126.
Footer Page 17 of 126.
13
Header Page 18 of 126.
thay đổi kịp thời, vẫn còn ưu tiên cho vay các doanh nghiệp nhà nước có hiệu
quả còn hạn chế, số lượng lao động được đào tạo đáp ứng nhu cầu thị trường
còn thấp, nông dân khó tiếp cận tín dụng ngân hàng nhà nước.
Do bản thân người nghèo thiếu kiến thức, bản thân gia đình nghèo cho
nên không có tiền để đầu tư cho việc học tập nâng cao sự hiểu biết. Không có
khả năng am hiểu kiến thức một cách sâu sắc cụ thể. Từ đó việc tiếp cận với
các thành tựu khoa học mới bị hạn chế nên người nghèo không nắm bắt được
các thông tin thay đổi trong sản xuất và trong cuộc sống.
- Thiếu kinh nghiệm làm ăn đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn
đến nghèo đói. Người nghèo đã thiếu kiến thức lại thiếu thêm cả kinh nghiệm
làm ăn thì việc sản xuất và phát triển kinh tế vì thế dẫn đến đói nghèo.
- Thiếu vốn và thiếu lao động là nguyên nhân cơ bản xuyên suốt đối với các
hộ nghèo.
Bên cạnh những nguyên nhân cơ bản trên còn có các nguyên nhân khác
dẫn đến đói nghèo như thiếu đất canh tác, gia đình đông con nhiều người ăn
theo, gặp tai nạn rủi ro, gia đình có người mắc tai tệ nạn xã hội, lười lao động
cũng dẫn đến tình trạng đói nghèo.
Có thể nói rằng để xoá đói giảm nghèo đạt được hiểu quả thực sự cần phải
xác định rõ được nguyên nhân dẫn đến đói nghèo. Phân chia các nguyên nhân
đó thành các nhóm nguyên nhân cụ thể để từ đó đưa ra các biện pháp đúng
đắn phù hợp cho mỗi loại nguyên nhân
1.3 Ảnh hưởng của đói nghèo và sự cần thiết phải xoá đói giảm nghèo
1.3.1 Ảnh hưởng của đói nghèo
động đó là lao động giản đơn hay lao động phức tạp là lao động chân tay hay
lao động trí óc thì con người đều phải tiêu hao một năng lượng nhất định.
Tính chất lao động càng phức tạp, cường độ lao động càng cao bao nhiêu thì
đòi hỏi càng phải tiêu hao nhiều năng lượng bấy nhiêu. Có như vậy mới đảm
bảo được chất lượng của các hoạt động lao động đó. Do vậy mà đối với
người nghèo đói về mặt dinh dưỡng họ đã không đủ đảm bảo thì làm sao họ
có đủ thể lực và trí lực để thực hiện các hoạt động lao động có hiệu suất cao.
Một mặt khác người nghèo đói lại không có khả năng điều kiện học tập,
đào tạo do đó họ thiếu kiến thức, thiếu hiểu biết cho nên họ không thể đáp
ứng được các kỹ năng hoạt động và lao động ngày càng hiện đại của xã hội.
Vì thế cho nên đói nghèo ảnh hưởng lớn tới chất lượng nguồn nhân lực.
Footer Page 19 of 126.
15
Header Page 20 of 126.
- Thứ tư : Đối với xã hội đói nghèo về kinh tế luôn dẫn tới sức ép về xã
hội.
Khó khăn về kinh tế làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong xã hội làm
giảm lòng tin của dân chúng. Đói nghèo kéo theo sự gia tăng các tệ nạn xã
hội làm gay gắt thêm những bất bình đẳng về xã hội.
1.3.2 Sự cần thiết phải xoá đói giảm nghèo
Hệ luỵ của đói nghèo gây ảnh hưởng rất xấu đến mọi mặt của đời sống
kinh tế xã hội nó làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo trong xã hội. Ảnh
hưởng xấu đến nguồn nhân lực, làm gia tăng các mâu thuẫn và các tệ nạn xã
hội. Nó làm hạn chế khả năng tăng trưởng của nền kinh tế.
Mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta là xây dựng một nước Việt Nam" dân
mức thấp nhất. Đó vừa là mục tiêu đồng thời là phương tiện để xây dựng một
nước Việt Nam dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh.
Trong những năm qua, được sự chỉ đạo của các cấp uỷ, chính quyền và
sự hỗ trợ của các đoàn thể, phong trào xoá đói giảm nghèo phát triển sâu
rộng, động viên được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân đã giúp cho nhiều hộ
vượt qua đói nghèo, một số vươn lên khá giả. Từ thực tiễn phong trào xoá đói
giảm nghèo, Nghị quyết trung ương 5 khoá VII đã nêu lên một nhiệm vụ của
ý nghĩa kinh tế- chính trị xã hội to lớn: “Tăng thêm diện giàu và đủ ăn, xoá
đói giảm nghèo nhất là ở vùng cao, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng
sâu, vùng trước đây là căn cứ cách mạng”. Thực hiện chủ trương của Đảng
và Chính Phủ, phong trào xoá đói giảm nghèo đang trở thành cuộc vận động
lớn, có tác dụng thiết thực làm giảm đáng kể số hộ nghèo đói, giúp cho các
hộ còn nghèo, đói giảm bớt được khó khăn. Tuy nhiên đến nay cả nước vẫn
còn trên 20% số hộ đói nghèo, nhiều vùng còn nghèo, 90% hộ nghèo tập
trung chủ yếu ở nông thôn. Sự phân hoá giàu nghèo vẫn đang có xu hướng
tăng lên giữa các tầng lớp dân cư và các vùng của đất nước. Ngoài nguyên
nhân khách quan do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, hậu quả nặng nề của
chiến tranh, thiếu đất canh tác, thiếu vốn, thiếu việc làm còn có các nguyên
nhân chủ quan như năng lực sản xuất kinh doanh thấp, đông con, có nơi có
lúc các ngành, các cấp chưa quan tâm đúng mức đến việc chỉ đạo thực hiện
công tác xoá đói, giảm nghèo, tổ chức khám chữa bệnh, tạo điều kiện học
hành cho người nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng cho vùng sâu, vùng xa, vùng
đồng bào dân tộc ít người.
Đại hội Đảng VIII đề ra mục tiêu “giảm tỷ lệ nghèo, đói trong tổng số
hộ của cả nước từ 20-25% hiện nay xuống còn không 10% vào năm 2000,
bình quân giảm 300.000 hộ/ năm. Trong 2-3 năm đầu của kế hoạch 5 năm,
tập trung xoá về cơ bản nạn đói kinh niên”. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu
này, Bộ chính trị yêu cầu các tỉnh uỷ, thành uỷ, các ban cán sự Đảng, Đảng
cho các hộ nghèo vay vốn với cơ chế phù hợp thủ tục đơn giản. Vận động
nhân dân tiết kiệm trong tiêu dùng, khuyến khích các hình thức tạo vốn do
dân tự lập theo từng nhóm nhỏ dưới sự hỗ trợ giúp đỡ của các đoàn thể quần
chúng để giúp nhau vốn sản xuất kinh doanh.
Có chính sách và cơ chế khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền
thống ở nông thôn, mở mang tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ. Dành một phần
Footer Page 23 of 126.
19
Header Page 24 of 126.
quỹ xoá đói giảm nghèo để hướng dẫn cách làm ăn, dạy nghề thích hợp với
từng vùng, từng địa phương. Đưa công nghiệp nhỏ vào nông thôn trước hết là
công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ hải sản, sản xuất hàng tiêu dùng và
hàng xuất khẩu để tạo thêm việc làm và thu nhập cho các hộ nghèo.
Tăng cường hoạt động của thương nghiệp quốc doanh ở thị trường nông
thôn, đẩy mạnh xây dựng kinh tế hợp tác và hợp tác xã. Thực hiện liên minh
kinh tế giữa Nhà nước và nông dân, tổ chức trực tiếp mua sản phẩm của nông
dân và bán vật tư, hàng hóa cho nông dân. Không để cho tư thương chèn ép,
bóc lột nông dân, không thả nổi nông dân cho thị trường tự do chống đầu cơ
ép giá gây thiệt hại cho nông dân.
Đổi mới, củng cố mở rộng các nông thôn, lâm trường quốc doanh vùng sâu,
vùng xa, vùng căn cứ cách mạng để các cơ cở này thực sự trở thành trung
tâm kinh tế tài chính thương mại, khoa học công nghệ, văn hoá, tạo điều kiện
để các hộ nông dân nói chung nhất là nông dân nghèo trở thành những vệ tinh
để phát triển kinh tế xã hội đảm bảo an ninh quốc phòng trong vùng.
Từng bước thực hiện chính sách miễn giảm học phí và cấp học bổng cho
con em các hộ nghèo nhất là con em đồng bào dân tộc ít người, đào tạo dạy
Tỉnh uỷ, thành uỷ cần chỉ đạo sát sao các hoạt động của Ban chỉ đạo xoá
đói giảm nghèo của tỉnh, thành phố. Định kỳ nghe ban chỉ đạo báo cáo và cho
chủ trương giải quyết, chương trình xoá đói giảm nghèo phải được Hội đồng
nhân dân các cấp thông qua.
1.4.1 Chương trình 134-135
Chương trình 134-135 là cốt lõi của công cuộc xoá đói giảm nghèo đây là
sự nghiệp to lớn, bền bỉ và lâu dài. Vì vậy cần phát huy những mặt đã làm
tốt, khắc phục nhược điểm, từ đó tiếp tục tập trung triển khai chương trình để
đạt được những kết quản bền vững hơn. Chương trình 134-135 đã khẳng định
tính đúng đắn của đường lối chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước và
Chính phủ là không ngừng chăm lo, cải thiện đời sống của đồng bào các dân
tộc phù hợp với điều kiện của đất nước. Đây được coi là những chính sách
hợp lòng dân được các tổ chức quốc tế đánh giá cao và quan tâm hỗ trợ vốn.
Sau bốn năm tổ chức triển khai thực hiện ở 53 tỉnh, thành phố trên cả
nước đã đáp ứng được niềm mong đợi của một bộ phận đồng bào dân tộc và
tháo gỡ cho nhiều địa phương những khó khăn bức bách về đất sản xuất, đất
ở, nhà ở và nước sinh hoạt.
Footer Page 25 of 126.
21