Bài 7: THÔNG TIN - GIÁO DỤC - TRUYỀN THÔNG
VỀ DS- KHHGĐ
HÀNH CHÍNH:
-
Đối tượng: Bác sĩ YHDP
-
Số tiết:
-
Địa điểm giảng dạy: Giảng đường
2 LT/ 2 TH
MỤC TIÊU BÀI HỌC:
Sau khi học xong, học viên có khả năng:
1.
2.
3.
4.
5.
Trình bày được các nội dung và các bước GDSK về DS-KHHGĐ
Thiết kế được công cụ GDSK
Tổ chức được một buổi TT-DS
Hướng dẫn được cho cộng tác viên về PP TT-DS có hiệu quả
Nhận thức được tầm quan trọng của việc TT-GDSK về DS-KHHGĐ
số - kế hoạch hoá gia đình:
2.2.Khái niệm về KHHGĐ:
2.3.Các nội dung cần giáo dục
về dân số - kế hoạch hoá gia đình:
15ph
3.Cách phát triển bài giáo
15ph
15ph
Thuyết trình
Ghi chép, trả lời
Qua trả lời của
phát vấn
câu hỏi
sinh viên
Thuyết trình
Ghi chép, trả lời
Qua trả lời của
câu hỏi
sinh viên
Thực hiện theo
Qua hoạt động
các bước của
của từng nhóm
từng kỹ năng
sinh viên
KHHGĐ phù hợp với văn
hóa địa phương.
4.Cách tiến hành một buổi
TT DS-KHHGĐ
4.1.Kỹ năng dẫn dắt một
cuộc thảo luận nhóm
4.2.Kỹ năng sử dụng tranh
50ph
ảnh, vật mẫu
4.3.Kỹ năng thăm hộ gia
đình
4.4.Kỹ năng tiến hành buổi
Đại học Kinh tế quốc dân.
10. Tống Văn Đường “Giáo trình Dân số học”, Hà Nội: Đại học Kinh tế Quốc dân,1998.
11. Vũ Quý Nhân, “Sổ tay Dân số học”, Hà Nội: Uỷ ban Quốc gia Dân số –
KHHGĐ,1991.
12. Asha A. Bhende & Tara Kanitkar, “Principles of Population Studies” , Bombay:
Himalaya Publishing House, 1996.
13. Population Division of the Department of Economic and Social Affairs of the United
Nations Secretariat, “World Population Prospects”, The 2000 Revision; and “World
Urbanization Prospects”, The 2001 Revision; New York: United Nations.
14. United Nations Fund, “Population and Development Strategies” and “Population,
Poverty and Environment”, New York: United Nations , 2002.
Bài 7: THÔNG TIN - GIÁO DỤC - TRUYỀN THÔNG
VỀ DS- KHHGĐ
MỤC TIÊU
1. Trình bày được các nội dung và các bước GDSK về DS-KHHGĐ
2. Thiết kế được công cụ GDSK
3. Tổ chức được một buổi TT-DS
4. Hướng dẫn được cho cộng tác viên về PP TT-DS có hiệu quả
5. Nhận thức được tầm quan trọng của việc TT-GDSK về DS-KHHGĐ
NỘI DUNG CHÍNH
1. Các khái niệm về truyền DS-KHHGĐ
Thông tin- giáo dục ttruyền thông (TGT) là các khái niệm được sử dụng rộng rãi
trong lĩnh vực Dân số- Kế hoạch hoá gia đình (DS- KHHGĐ ).
Phân biệt rõ ràng khái niệm và định nghĩa cụ thể từng nhóm trong cụm từ này là cần
thiết để hiểu rõ nội dung của từng phần trong cum từ. Từ đó có thể sử dụng một cách hiệu
quả công tác truyền thông vận động, để đạt được mục tiêu của chương trình DS KHHGĐ.
Các đặc trưng trên là những mặt, những khâu có quan hệ chặt chẽ với nhau bởi vì:
Có thông tin đầy đủ kịp thời và có hệ thống thì mới có kiến thức
Có kiến thức đúng đắn đầy đủ thì mới xác định được thái độ đúng
Có thái độ đúng thì mới có tình cảm đúng, vì thái độ là biểu hiện của lý, còn tình
cảm là biểu hiện của tình
Có thông tin kiến thức, thái độ, tình cảm đúng đắn thì mới có sự vận dụng một cách
tự giác, từ đó mới tạo ra kỹ năng
Định nghĩa này cũng đặt ra một yêu cầu phải tạo được sự thay đổi trong nhận thức
và hành động.
Qua định nghĩa nêu trên ta thấy rằng truyền thông khác với thông tin. Nếu như thông
tin chỉ cần diễn ra một lần nữa bên truyền và bên nhận còn với truyền thông thì đó là một
yêu cầu bắt buộc. Thông tin chỉ hạn chế trong thông tin và kiến thức, còn truyền thông thì
mở rộng thì mở rộng cả thái độ và tình cảm, kỹ năng. Thông tin chỉ đòi hỏi người ta phải
tăng kiến thức, còn truyền thông thì đòi hỏi về nhận thức và hành động.
Mô hình truyền thông. Tìm hiểu về truyền thông DS/KHHGĐ thông qua việc
nghiên cứu mô hình truyền thông và các thành phần của nó. Mô hình này là một công cụ
để chúng ta tìm hiểu rõ hơn và tự do vận dụng đúng đắn hơn những gì mà lý luận đã nêu
trên. Mô hình truyền thông này có thể được trình bày dưới dạng hình vẽ sau đây:
Nguồ
n
THÔNG
ĐIỆP
(M)
(S )
Phản hồi (F)
Mô hình truyền thông
yêu cầu chuyển biến nhận thức và hành động mới (hiệu quả) thông qua những kênh và
phương tiện truyền thông tôt nhất (kênh truyền thông) và bằng cách nắm được những
phản ứng của đối tượng trước những nội dung truyền tới họ (kênh phản hồi).
Như vậy có thể gọi phương tiện truyền thông bằng những câu vắn tắt sau:
Ai
Nói gì
Cho ai
Nguồn truyền
Thông điệp
Người nhận
Nhằm mục đích gì
Hiệu quả
Bằng con đường nào
Kênh
Làm thế nào để biết
Phản hồi
S
M
R
E
C
F
- Theo định nghĩa của tổ chức y tế thế giới (WHO) thì KHHGĐ bao gồm những
thực hành giúp cho các cá nhân hay các cặp vợ chồng để đạt được những mục tiêu sau
đây:
+ Tránh được những trường hợp sinh không mong muốn
+ Đạt được những trường hợp sinh theo ý muốn
+ Điều hoà khoảng cách giữa các lần sinh
+ Chủ động thời điểm sinh con cho phù hợp với tuổi của bố mẹ
- KHHGĐ là chủ động quyết định số con của mình và khoảng cách giữa các lần
sinh thông qua việc áp dụng các biện pháp tránh thai để có một gia đình ít con, khoẻ
mạnh, hạnh phúc và giàu có
- KHHGĐ là quyền và trách nhiệm của mỗi người, mỗi cặp vợ chồng. Họ được
quyền tự do lquyết định, những với ý thức trách nhiệm đầy đủ về số con của mình trên cơ
sở những thông tin và những hiểu biết cần thiến để thực hiện
2.3. Các nội dung cần giáo dục về dân số - kế hoạch hoá gia đình:
- Bùng nổ dân số và ảnh hưởng của nó tới mọi vấn đề trong xã hội: đất đai, lương
thực, việc làm, y tế, giáo dục và nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Mỗi gia đình chỉ có 1 hoặc 2 con
+ Số con trong mỗi gia đình ít sẽ quyết định sự ổn định dân số và các vấn đề dân số
+ ít con mới có đủ điều kiện chăm sóc chúng phát triển toàn diện, trở thành công
dân có ích
+ Muốn thực hiện mỗi gia đình chỉ có 1 hoặc 2 con mọi người hãy thực hiện: kết
hôn muộn và sinh con muộn (nữ 22 tuổi, nam 25 tuổi); thực hiện kế hoạch hoá gia đình
- 10 quyền của khách hàng
+ Quyền được thông tin
+ Quyền được tiếp cận dịch vụ và thông tin
+ Quyền tự do lựa chọn biện pháp tránh thai và từ chối hoặc chấm dứt biện pháp
tránh thai
+ Quyền được nhận dịch vụ an toàn
video… ; triển khai mô hình truyền thông đặc thù với hình thức tổ chức câu lạc bộ “Gia
đình hạnh phúc”, “Thanh niên với sức khỏe sinh sản”, triển khai chiến dịch, tuyên truyền
vận động DS-KHHGĐ...
- Đa dạng hóa các sản phẩm truyền thông cho phù hợp với từng đối tượng cụ thể; đa
dạng hóa hình thức tuyên truyền, vận động về DS - KHHGĐ như truyền thông đại chúng,
truyền thông trực tiếp của đội ngũ cán bộ tuyên truyền viên, đội ngũ cán bộ chuyên trách
dân số, cán bộ y tế và cộng tác viên dân số.
- Đa dạng hoá mô hình truyền thông cho phù hợp với điều kiện văn hóa xã hội riêng
của từng tỉnh từng dân tộc. Nhiều sản phẩm truyền thông, như tờ rơi, áp phích, băng rôn,
tranh lật, tranh gấp… được sản xuất từ trung ương và chuyển xuống tuyến dưới, nhưng
đáp ứng được yêu cầu. Nội dung thông điệp, ngôn ngữ nhiều khi cũng phải phù hợp với
văn hóa địa phương và đặc điểm các dân tộc.
- Năng lực chuyên môn và nguồn lực của tuyến dưới phải được tăng cường để có
thể điều chỉnh cho phù hợp với đặc thù của địa phương.
- Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền vận động thực hiện DS-KHHGĐ không chỉ
tập trung ở những nơi thuận lợi về giao thông, có đầy đủ phương tiện thông tin mà còn ở
những hộ dân sống ở những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc
biệt khó khăn phải được tuyên truyền vận động.
- Tăng đầu tư kinh phí của Trung ương và địa phương dành cho công tác truyền
thông và huy động được sự tham gia của cả cộng động hay xã hội hóa được công tác DSKHHGĐ.
- Cần sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương từ tỉnh đến cơ sở đối với
công tác DS - KHHGĐ, sự phối hợp chặt chẽ của các cấp lãnh đạo sẽ là một trong những
giải pháp thúc đẩy công tác DS - KHHGĐ để đạt được kết quả cao nhất. Vàcũng cần sự
phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, đoàn thể, các cấp lãnh đạo, nổi bật trong đó là sự
phối hợp nhịp nhàng của các hai lực lượng, đó là cán bộ chuyên trách dân số, các ban
thực hiện các lời khuyên.
4.1.4. Cách dẫn dắt một cuộc thảo luận nhóm:
• Tạo ra một bầu không khí cởi mở và thân mật để mọi người cảm thấy thoải
mái khi đưa ra ý kiến.
• Lấy ý kiến của tất cả các thành viên trong nhóm.
• Tôn trọng ý kiến của mọi người. Không tỏ ý chê bai hay làm cho người phát
biểu phải ngượng ngập về những ý kiến của họ.
• Yêu cầu từng người nói một để tất cả mọi người đều có thể nghe ý kiến của
nhau.
4.1.5. Những vấn đề hay gặp trong cuộc thảo luận nhóm và cách giải quyết:
• Một số thành viên im lặng hơn những người khác. Bạn cần cố gắng lôi kéo
những người ít nói vào cuộc thảo luận bằng cách:
- Nhìn vào họ tỏ ý muốn mời họ phát biểu.
- Mời những người này phát biểu nếu họ tỏ ra quan tâm.
- Trực tiếp mời họ phát biểu.
• Một số người nói quá nhiều và thường xuyên. Bạn cần hạn chế những người
này để những thành viên khác có cơ hội phát biểu. Hãy cám ơn sự đóng góp người này
vào buổi thảo luận và mời một thành viên khác phát biểu. Ví dụ: ‘ Cám ơn anh Hải đã
phát biểu ý kiến. Trong nhóm ta còn ai có ý kiến khác không? Xin mời anh Tùng’.
4.2. Kỹ năng sử dụng tranh ảnh, vật mẫu
4.2.1. Tranh lật:
Một quyển tranh lật gồm có nhiều tranh đóng với nhau theo một trât tự nhất
định. Mặt trước là tranh, mặt sau có ghi một số gợi ý sử dụng tranh
Tranh lật có nhiều chủ đề như vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, dinh dưỡng
cho trẻ em và phụ nữ có thai, khi truyền thông chủ đề nào ta sử dụng tranh phù hợp với
chủ đề đó.
Tranh lật sử dụng rất tốt trong khuyên bảo (tư vấn) hoặc thảo luận nhóm. Khi
thảo luận bạn không nên nói quá nhiều mà nên đặt các câu hỏi gợi để mọi người thảo
Thăm hộ gia đình còn giúp thường xuyên giữ mối quan hệ tốt với các gia đình
4.3.2. Các nguyên tắc khi đến thăm hộ gia đình:
• Tôn trọng các quy tắc xã giao và phong tục địa phương.
• Tạo không khí vui vẻ, cởi mở, tránh phê bình chỉ trích.
• Không nên nói dài dòng những điều không cần thiết. Gia đình đó có thể bận nhiều
việc khác.
4.3.3. Các bước trong thăm hộ gia đình:
•
Chào hỏi, giới thiệu bản thân.
•
Nêu mục đích của cuộc thăm.
• Quan sát và hỏi thăm sức khoẻ của mọi người trong gia đình: Bắt đầu từ người già,
bà mẹ, trẻ em. Chú ý phát hiện người ốm đau hoặc có vấn đề sức khoẻ.
• Kiểm tra việc thực hiện các lời khuyên được đưa ra trước đó.
• Quan sát và hỏi về các vấn đề vệ sinh như nước sạch, nhà vệ sinh.
• Tiến hành khuyên bảo nếu thấy cần thiết.
• Chào và cảm ơn gia đình; hẹn lần sau.
4.4. Kỹ năng tiến hành buổi nói chuyện sức khoẻ:
4.4.1. Chọn chủ đề thích hợp:
Chủ đề phải thích hợp với người nghe:
Đối với nhóm người: nên chọn chủ đề chung phù hợp với cả nhóm. Ví dụ: nếu nhóm
người gồm cả nam giới, phụ nữ, người già, người trẻ thì có thể chọn các chủ đề phòng
bệnh tiêu hoá, vệ sinh gia đình, làng xóm, phòng chống sốt rét, bướu cổ, tệ nạn xã hội…
Tốt hơn là tổ chức một buổi nói chuyện cho nhóm người có đặc điểm chung về tuổi, giới
hoặc hoàn cảnh.
Ví dụ:
Với nhóm phụ nữ ở tuổ sinh đẻ 15-49 tuổi: chủ đề có thể chọn là chăm sóc sức khoẻ
BMTE-KHHGĐ, làm mẹ an tàn, nuôi con bằng sữa mẹ, sử dụng Oresol…
Mô tả những điều nên làm, sử dụng tranh ảnh, vật mẫu nếu cần.
Thảo luận về khó khăn khi thực hiện những điều bạn khuyên và tìm ra giải
pháp.
Đưa ra những thí dụ cụ thể gần gũi với cộng đồng.
Sử dụng từ ngữ và câu nói đơn giản, dễ hiểu.
Nói rõ ràng, đủ to, dễ nghe.
Sử dụng hình vẽ, vật mẫu để minh hoạ.
Kiểm tra xem mọi người có hiểu đúng những điều bạn nói không và giải
đáp thắc mắc nếu có.
Nhấn mạnh những điểm quan trọng và chúc mọi người thành công.
4.5. Kỹ năng đóng vai
4.5.1. Khái niệm đóng vai:
Là hình thức mô phỏng theo các tình huống và các vấn đề xảy ra trong đời sống
thực tế có liên quan tới TT-GDSK. Đây là một trong những phương pháp truyền thông
trực tiếp hay được sử dụng trong TT-GDSK.
4.5.2. Mục đích đóng vai:
Giúp người quan sát thấy được rõ hơn:
- Nguyên nhân của vấn đề cần được truyền thông trực tiếp
- Cách giải quyết vấn đề bằng truyền thông trực tiếp
- Cách tăng cường quan hệ của người truyền thông với đối tượng
- Kinh nghiệm xử lý các tình huống trong truyền thông trực tiếp
- Tính hiệu quả cao của phương pháp này trong TT-GDSK
4.5.3. Tổ chức đóng vai:
Bước 1: Chuẩn bị trước kịch bản cho các vai đóng
Bước 2: Chuẩn bị thời gian và địa điểm: đủ rộng, có đủ chỗ ngồi, thuận lợi để quan
sát…
Bước 3: Tiến hành đóng vai:
• Số người tham gia đóng vai:
xác theo ngôn ngữ mà khách hàng có thể hiểu được. Những thông tin ứng dụng cho cá
nhân sẽ là cầu nối lấp khoảng trống giữa kiến thức của người cung cấp dịch vụ và hiểu
biết của khách hàng.
• Tránh cung cấp quá nhiều thông tin: Quá nhiều thông tin thì gây ra tình trạng rất
khó nhớ được các thông tin quan trọng. Điều này gọi là “quá tải thông tin”. Mặt khác khi
dành thời gian quá nhiều cho việc cung cấp thông tin sẽ còn ít thời gian đẻ giành cho thảo
luận và để cho khách hàng đặt câu hỏi, những băn khoăn và ý kiến của họ.
• Cung cấp giải pháp khách hàng thích: người tư vấn giúp khách hàng tự lựa chọn
các giải pháp chăm sóc sức khoẻ cho họ. Nếu không có các yếu tố gây hại, khách hàng
cần phải được nhận giải pháp chăm sóc sức khoẻ mà họ thích. Khi khách hàng được
quyền tự chọn, họ sẽ thực hiện giải pháp đó lâu hơn và hiệu quả hơn.
• Giúp khách hàng hiểu và nhớ hơn. Người tư vấn cho khách hàng xem xét một số
tài liệu, khuyến khích họ xem tài liệu và chỉ cho họ cách sử dụng tài liệu như thế nào.
Người tư vấn cũng có thể dùng tranh vẽ, tranh tuyên truyền hoặc tranh lật… để giải thích
cho khách hàng. Nếu có một số tài liệu thì có thể phát cho khách hàng mang về nhà. Họ
có thể chia sẻ tài liệu với những người khác.
4.6.2. Các bước của quá trỉnh tư vấn:
- Chào đón khách hàng một cách thân mật, cởi mở và lễ độ
- Hỏi về bản thân và nhu cầu của khách hàng về vấn đề chăm sóc sức khoẻ
- Giới thiệu cho khách hàng các thông tin y tế, biện pháp chăm sóc sức khoẻ có
thể đáp ứng được đối với khách hàng
- Chỉ cho khách hàng cách chọn biện pháp chăm sóc sức khoẻ sau khi đã có đủ
thông tin về các biện pháp này
- Giải thích cặn kẽ cách thực hiện biện pháp chăm sóc sức khoẻ mà khách hàng
đã lựa chọn
Hẹn khách hàng quay lại nếu trong quá trình thực hiện họ cần được tư vấn thêm về
biện pháp chăm sóc sức khoẻ mà họ đang thực hiện.
Poverty and Environment”, New York: United Nations , 2002.