VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO THỊ TRÀ
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TẠI MỘT SỐ VIỆN NGHIÊN CỨU TRỰC THUỘC
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số
: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ HOÀI LÊ
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu trích
dẫn nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng. Những kết luận khoa
học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào.
TÊN TÁC GIẢ
ĐÀO THỊ TRÀ
Báo cáo tài chính
BKT VN
Bách khoa thư Việt Nam
ĐVSN
Đơn vị sự nghiệp
KHXH
Khoa học xã hội
KH&CN
Khoa học và công nghệ
NSNN
Ngân sách nhà nước
QLTC
Quản lý tài chính
TSCĐ
Tài sản cố định
52
5
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp nguồn thu tại 6 Viện nghiên cứu từ năm
41
2013-2015
6
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp nguồn chi tại 6 Viện nghiên cứu từ năm
46
2013-2015
7
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp cơ cấu chi tại 6 Viện từ năm 2013-2015
47
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý tài chính là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế xã hội và là
khâu quan trọng mang tính tổng hợp. Quản lý tài chính được coi là hợp lý, có hiệu
quả nếu nó tạo ra được một cơ chế quản lý thích hợp, có tác động tích cực tới các
quá trình kinh tế xã hội theo các phương hướng phát triển đã được hoạch định. Việc
thực trạng quản lý tài chính ở một số Viện nghiên cứu trực thuộc Viện Hàn lâm
KHXH Việt Nam, chỉ ra được những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế
trong công tác quản lý và sử dụng tài chính. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính cho các đơn vị nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế đất nước ngày càng phát triển và hội nhập, việc
quản lý kinh tế nói chung và QLTC trong đơn vị sự nghiệp công lập nói riêng có tác
động tích cực tới các quá trình phát triển kinh tế xã hội theo các phương hướng đã
được hoạch định.
Quản lý tài chính các đơn vị sự nghiệp một cách hiệu quả luôn là vấn đề quan
tâm hàng đầu của Nhà nước và các cấp lãnh đạo đơn vị trong nền kinh tế thị trường.
Trong những năm gần đây, các đơn vị sự nghiệp công lập chuyển sang hoạt động
theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm ngày càng diễn ra mạnh mẽ. Đã có khá
nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, có thể kể đến một số đề tài, công trình
nghiên cứu sau:
- Đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước “Hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính
nhằm huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính trong ứng phó
với tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) tại Việt Nam” do PGS.TS Hoàng Văn
Hoan làm chủ nhiệm, Học viện Chính trị khu vực I làm cơ quan chủ trì. Đề tài đã
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy
động, quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó với BĐKH; Phân tích, đánh
giá thực trạng cơ chế, hệ thống chính sách tài chính huy động, quản lý và sử dụng
nguồn lực tài chính ứng phó với BĐKH ở Việt Nam, từ đó, chỉ ra những ưu điểm và
hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế của cơ chế, hệ thống chính sách
hiện tại; Xác định yêu cầu về nguồn lực tài chính để ứng phó với các kịch bản của
2
biến đổi khí hậu giai đoạn sau 2020, đánh giá nhu cầu cần hoàn thiện, bổ sung các
thu nhập bổ sung tại Viện Khoa học công nghệ Mỏ với mục tiêu đảm bảo nguồn tài
chính phát triển theo hướng bền vững.
- Đề tài“Quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập tại Viện Sốt rét Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương”- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Đức Thiện.
Luận văn đã hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận về quản lý tài chính tại đơn
vị sự nghiệp công lập. Thông qua khảo sát thực tế tác giả đã phân tích thực trạng
công tác quản lý tài chính và đánh giá những mặt được và hạn chế. Cụ thể, công tác
lập và nộp báo cáo hàng quý vẫn chưa kịp thời theo quy định, báo cáo tài chính
chưa phân tích chi tiết và đánh giá các hoạt động. Vẫn còn một số hạn chế trong
quản lý thu và quản lý chi. Trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất quan điểm mang tính
định hướng và giải pháp khoa học có tính khả thi nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác
quản lý tài chính tại Viện Sốt rét - Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương.
- Đề tài “Hoàn thiện quản lý tài chính tại trường đại học công lập tự chủ tài
chính trên địa bàn TP.HCM”- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Tấn Lượng. Luận văn
đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm và cơ chế quản
lý tài chính tại các trường Đại học Công lập hiện nay, khẳng định vai trò của các
nguồn tài chính trong giáo dục. Luận văn đã chỉ ra nguồn NSNN chi thường xuyên
có xu hướng giảm, nguồn thu học phí càng đóng vai trò quan trọng. Luận văn cũng
đã chỉ ra được những tồn tại hạn chế trong quản lý và sử dụng các nguồn lực tài
chính trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp giúp hoàn thiện công tác QLTC tại các
trường, giúp các trường thuận lợi trong việc thực hiện tự chủ, đảm bảo nguồn tài chính.
- Đề tài: “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Viện Khoa học Thủy lợi”Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Mỹ Ngọc. Luận văn tập phân tích cơ sở lý luận về
công tác quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập và các yếu tố ảnh
hưởng. Đồng thời, luận văn cũng đã nêu được thực trạng quản lý tài chính của đơn
vị từ đó đánh giá những mặt được, hạn chế và nguyên nhân hạn chế của công tác
quản lý tài chính tại đơn vị. Luận văn cũng đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện
công tác quản lý tài chính và đề xuất một số kiến nghị tới các cơ quan, ban ngành có
liên quan để hoàn thiện công tác tài chính.
4
Dân tộc học, Viện Nghiên cứu Tôn giáo) trực thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt
5
Nam thực hiện cơ chế tài chính theo quy định của Nghị định 115/2005/NĐ-CP (nay
được thay thế bởi Nghị định 54/2016/NĐ-CP) từ năm 2013 – 2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài thực hiện trên cơ sở phương pháp luận, sử dụng các phương pháp
chung trong nghiên cứu khoa học và các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân
tích tổng hợp, thống kê mô tả, so sánh và tổng kết thực tiễn.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích là nghiên cứu các tài liệu, lý
luận khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc
về đối tượng. Tổng hợp là liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân
tích tạo ra một hệ thông lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng.
- Phương pháp thống kê mô tả: là các phương pháp liên quan đến việc thu
thập số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán và mô tả các đặc trưng khác nhau để phản
ánh một cách tổng quát về công tác quản lý tài chính.
- Phương pháp phân tích tổng kết thực tiễn: Là phương pháp nghiên cứu và
xem xét lại những thành quả thực tiễn trong quá khứ để rút ra kết luận bổ ích cho
thực tiễn và khoa học.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về
quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ công lập. Phân
tích, đánh giá thực trạng về công tác quản lý tài chính, đánh giá được những ưu
điểm cũng như những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế đó, từ đó đưa ra được
những giải pháp hữu ích, phù hợp với các hoạt động đặc thù nhằm hoàn thiện và
nâng cao hiệu quả của công tác quan lý tài chính và sử dụng các nguồn lực tài chính
tại của các Viện nghiên cứu trực thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.
7. Cơ cấu của luận văn
thu thường không lớn và không ổn định hoặc không có thu. Do đó thu nhập của các
đơn vị này chủ yếu do NSNN cấp toàn bộ hoặc phần lớn. Cá biệt, có một số đơn vị
sự nghiệp có thu khá lớn, Nhà nước có thể cho các đơn vị này áp dụng chế độ tài
chính riêng.
Đơn vị sự nghiệp công lập được xác định dựa trên những tiêu chuẩn sau:
- Có văn bản quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có thẩm
quyền ở Trung ương hoặc địa phương.
- Được nhà nước cấp kinh phí và tài sản để hoạt động thực hiện nhiệm vụ
chính trị, chuyên môn và được phép thực hiện một số khoản thu phí, lệ phí theo chế
độ Nhà nước quy định.
- Có tổ chức bộ máy biên chế và bộ máy quản lý kế toán theo chế độ nhà nước
quy định.
- Có mở tài khoản tại kho bạc nhà nước để kiểm soát các khoản thu, chi tài chính.
8
b) Đặc điểm
Đơn vị sự nghiệp công lập là các tổ chức thực hiện cung cấp các dịch vụ xã
hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành
kinh tế quốc dân. Do đó, đơn vị sự nghiệp công lập dù hoạt động ở các lĩnh vực
khác nhau nhưng đều mang những đặc điểm cơ bản sau:
Một là, hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập không nhằm mục đích lợi
nhuận trực tiếp. Trong nền kinh tế thị trường, các sản phẩm, dịch vụ do đơn vị sự
nghiệp tạo ra đều có thể trở thành hàng hóa cung ứng cho mọi thành phần trong xã
hội. Tuy nhiên, việc cung ứng những hàng hóa này cho thị trường chủ yếu không vì
mục đích lợi nhuận như doanh nghiệp. Nhà nước tổ chức, duy trì và tài trợ cho hoạt
động sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm dịch vụ cho người dân nhằm thể hiện
vai trò của Nhà nước khi can thiệp vào thị trường. Thông qua đó Nhà nước hỗ trợ
các ngành kinh tế hoạt động bình thường, tạo điều kiện nâng cao dân trí bồi dưỡng
nghiệp bao gồm:
- Đơn vị sự nghiệp thực hiện cung cấp dịch vụ xã hội liên quan đến nhu cầu và
quyền lợi cơ bản đối với sự phát triển của con người về thể lực, trí lực như các đơn
vị sự nghiệp y tế, giáo dục, văn hóa thông tin…
- Đơn vị sự nghiệp thực hiện cung cấp dịch vụ kinh tế kỹ thuật liên quan đến các
nhu cầu vật chất phục vụ lợi ích chung của xã hội như đơn vị cung ứng điện, nước, giao
thông vận tải, bưu chính viễn thông, vệ sinh môi trường…
Căn cứ theo lĩnh vực hoạt động thì đơn vị sự nghiệp được phân chia thành:
- Đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực y tế: các cơ sở khám chữa bệnh như các bệnh
viện, phòng khám, trung tâm y tế thuộc các Bộ, ngành, địa phương, cơ sở khám chữa
bệnh thuộc các viện nghiên cứu, trường đào tạo y dược, cơ sở điều dưỡng, phục hồi
chức năng, các trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe, các đơn vị chức năng kiểm
định vacxin, sinh phẩm y tế, trang thiết bị y tế…
- Đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo: cơ sở giáo dục công lập
thuộc hệ thống giáo dục quốc dân như trường mầm non, tiểu học, trung học, trung
tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên, các trường
dạy nghề, trường trung học chuyên nghiệp, trường cao đẳng, đại học, học viện…
- Đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực văn hóa thông tin nghệ thuật: các đoàn nghệ
thuật, trung tâm chiếu phim, nhà văn hóa thông tin, thư viện công cộng, bảo tàng,
10
trung tâm thông tin triển lãm, đài phát thanh truyền hình…
- Đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực thể dục thể thao: trung tâm huấn luyện thể
dục thể thao, các câu lạc bộ thể dục thể thao…
- Đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực khoa học công nghệ (KHCN): các trung
tâm, viện nghiên cứu thực hiện nghiên cứu khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng,
chuyển giao công nghệ và cung cấp các dịch vụ khoa học kỹ thuật.
- Đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực kinh tế: các viện tư vấn, thiết kế, quy hoạch
Nhà nước. Nguồn thu của hoạt động sự nghiệp là một nội dung thu của ngân sách
nhà nước và được quy định trong Luật ngân sách. Mục đích của các khoản thu này
là nhằm xóa bỏ dần tình trạng bao cấp qua ngân sách, giảm nguồn kinh phí cấp phát
từ ngân sách nhà nước, trang trải thêm cho các hoạt động của đơn vị.
Theo quy định tại Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05/09/2005 của Chính
phủ, đơn vị khoa học và công nghệ công lập được phân loại như sau:
- Tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ khoa
học và công nghệ tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên.
- Tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ khoa học
và công nghệ chưa tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên.
- Tổ chức nghiên cứu khoa học hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản,
nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước được NSNN bảo đảm
kinh phí hoạt động thường xuyên theo nhiệm vụ được giao;
Theo quy định tại Nghị định 54/2016/NĐ-CP ngày 14/06/2006 của Chính phủ,
đơn vị khoa học và công nghệ công lập được phân loại theo mức độ tự bảo đảm về
chi thường xuyên và chi đầu tư như sau:
- Tổ chức KH&CN công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư.
- Tổ chức KH&CN công lâp tự bảo đảm chi thường xuyên (Tổ chức này được
Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi đầu tư). Đây là các đơn vị có nguồn thu từ hoạt động
sự nghiệp luôn ổn định nên bảo đảm được toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên.
Ngân sách nhà nước không phải cấp kinh phí cho hoạt động thường xuyên của đơn
vị. Đây là những đơn vị sự nghiệp mà ngoài nguồn kinh phí được NSNN cấp còn
được Nhà nước cho phép thu một số khoản phí, lệ phí hoặc một số khoản thu khác
để phục vụ cho quá trình hoạt động của mình. Hoạt động của đơn vị sự nghiệp có
nguồn thu luôn gắn liền với những lĩnh vực sự nghiệp như giáo dục, y tế, khoa học,
12
công nghệ… để cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu và lợi ích chung
dân”[19, tr412].
Từ những khái niệm về tài chính có thể hiểu: Tài chính thể hiện sự vận động
của vốn tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong xã hội. Nó phản ánh tổng hợp các mối
quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập
hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể
trong xã hội.
Quan điểm tài chính như trên cho phép nhìn nhận đầy đủ, toàn diện về tài
chính. Quan điểm vừa chỉ ra mặt cụ thể - hình thức biểu hiện bên ngoài của tài
chính - là các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ, vừa vạch rõ mặt trừu tượng - bản chất
bên trong của tài chính là các quan hệ kinh tế trong phân phối của cải dưới hình
thức giá trị. Từ đó cho nhận thức rằng: QLTC trước hết là quản lý các nguồn tài
chính, quản lý các quỹ tiền tệ, quản lý việc phân phối các nguồn tài chính, quản lý
việc tạo lập, phân bổ và sử dụng các quỹ tiền tệ một cách chặt chẽ, hợp lý có hiệu
quả theo mục đích đã định. Đồng thời, quản lý tài chính là thông qua các hoạt động
kể trên để tác động có hiệu quả nhất tới việc xử lý các mối quan hệ kinh tế - xã hội
nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử
dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể trong xã hội.
Như đã phân tích ở trên, đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ công lập
được Nhà nước thành lập và hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhưng không
phải vì thế mà không tính đến vấn đề hiệu quả, ngược lại chính trong lĩnh vực phi
lợi nhuận này yêu cầu về hiệu quả sử dụng nguồn tài chính lại trở nên đặc biệt quan
trọng. QLTC trong các đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ công lập thực chất
chính là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng
quản lý trong lĩnh vực tài chính nhằm thực hiện việc huy động, phân bổ và sử dụng
một cách chặt chẽ, có hiệu quả nguồn thu tài chính nhằm đạt được các mục tiêu đã
định. QLTC trong các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập có một số đặc điểm tiêu
biểu như sau:
- Mục tiêu quản lý: Mục tiêu quản lý là tạo lập nguồn thu ổn định, sử dụng
QLTC tốt sẽ kéo theo một loạt các hiệu ứng tích cực trong các công tác quản lý
khác, nhờ đó không chỉ Nhà nước mà cả những người dân đều được thụ hưởng hàng
hóa và dịch vụ công với chất lượng tốt.
Hoạt động QLTC không những phải góp phần nâng cao chất lượng các hoạt
15
động sự nghiệp mà còn phải tính đến hiệu quả kinh tế, nghĩa là phải so sánh kết quả
đạt được trên tất cả các mặt với chi phí đã bỏ ra. Khi xem xét thực hiện các phương
án mở rộng, tăng cường xã hội hóa, thực hiện liên doanh, liên kết trong lĩnh vực
công hay khi đưa ra một quyết định trong quản lý tài chính, dù ở cấp quản lý nào
cũng phải tính đến hiệu quả cả về mặt xã hội và kinh tế. Có như vậy mới đảm bảo
hài hòa các lợi ích từ đó tạo động lực thúc đẩy phát triển cho xã hội.
Để thực hiện tốt yêu cầu này, trong quá trình quản lý và sử dụng nguồn kinh
phí đòi hỏi:
+ Phải xây dựng được tiêu chuẩn, định mức, chế độ chi tiêu phù hợp với từng
đối tượng hay tính chất công việc, đồng thời có tính thực tiễn cao.
+ Phải lựa chọn thứ tự ưu tiên các hoạt động sao cho với tổng số chi có hạn
nhưng khối lượng công việc vẫn hoàn thành và đạt chất lượng cao.
- Quản lý chặt chẽ theo từng nguồn kinh phí và chi tiết theo từng nội dung chi:
+ Để đảm bảo hoạt động, tùy lĩnh vực chuyên môn mà có nhiều nguồn kinh
phí khác nhau: nguồn NSNN cấp, nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, nguồn đi vay,
nguồn tài trợ, viện trợ… do vậy trong quản lý tài chính đòi hỏi phải chi tiết theo
từng nguồn kinh phí sử dụng cho từng loại hoạt động nhằm đáp ứng được yêu cầu
về cân đối thu chi nguồn tài chính, tạo điều kiện cho người quản lý điều hành được
các hoạt động tài chính, hạn chế được sự lãng phí, không hiệu quả trong quản lý
nguồn kinh phí.
+ Trong quá trình thực hiện, do nội dung chi liên quan đến nhiều lĩnh vực khác
nhau, mức chi được xác định theo từng đối tượng về quy mô, tính chất hoạt động, do
- Quản lý chi tiêu theo dự toán và theo quy chế chi tiêu nội bộ của từng đơn vị.
- Trích lập và sử dụng các quỹ theo quy định của chế độ tài chính hiện hành.
1.1.3. Nội dung QLTC tại đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập
QLTC là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế xã hội và là khâu quản lý
mang tính tổng hợp. QLTC được coi là hợp lý, có hiệu quả nếu nó tạo ra được một
cơ chế quản lý thích hợp, có tác động tích cực tới quá trình kinh tế xã hội theo các
phương hướng phát triển đã được hoạch định. Việc quản lý sử dụng nguồn tài chính
ở các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập có liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh tế
xã hội, do đó phải có sự quản lý, giám sát kiểm tra nhằm hạn chế, ngăn ngừa các
hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính
17
đồng thời nâng cao hiệu quả việc sử dụng các nguồn lực tài chính.
a) Quản lý thu tài chính tại đơn vị sự nghiệp
Quản lý nguồn thu tại các đơn vị sự nghiệp bao hàm việc quy định nguồn thu,
hình thức và công cụ quản lý nguồn thu của đơn vị như tổ chức khai thác nguồn thu,
mức thu, hình thức kiểm tra, kiểm soát, kèm theo đó là các quy định, chế độ về quản
lý nguồn thu của đơn vị
- Tổ chức khai thác nguồn thu
Để tiến hành các hoạt động, trước tiên các đơn vị sự nghiệp phải có nguồn thu.
Nguồn thu của các đơn vị sự nghiệp bao gồm các nguồn từ NSNN cấp, nguồn thu
sự nghiệp và nguồn thu khác.
+ Nguồn thu từ NSNN: Để thực hiện quản lý các hoạt động xã hội của các đơn
vị sự nghiệp, Nhà nước phải sử dụng quỹ tiền tệ của mình để trang trải cho các nhu
cầu chi của các hoạt động đó. Đây là một trong những nguồn thu quan trọng của các
đơn vị sự nghiệp để đáp ứng các khoản chi thường xuyên của đơn vị hoặc sử dụng
cho các chương trình mục tiêu để tăng cường cơ sở vật chất. Nguồn thu này là Nhà
nước cấp phát theo dự toán xác định cho những nhiệm vụ, chương trình mục tiêu đã
kết quả hoạt động sản xuất, nghiên cứu thử nghiệm, thu dịch vụ khoa học, bảo vệ môi
trường, thu hợp đồng nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước.
Sự nghiệp kinh tế: Thu từ dịch vụ kiểm ra khảo sát, quy hoạch nông nghiệp…
Ngoài ra, các nguồn thu ngoài ngân sách còn có nguồn thu khác theo quy định
của pháp luật: các dự án viện trợ, liên kết, quà tặng, biếu, đóng góp của các tổ chức
khác, vốn vay ngân hàng được các đơn vị sự nghiệp vay theo cơ chế bổ sung cho
việc chi tiêu và đầu tư khi cần thiết.
- Quy định mức thu và kiểm tra, kiểm soát thu
Đối với các nguồn thu kể trên, nguồn thu từ ngân sách nhà nước cấp căn cứ
vào các quy định của mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ. Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo ở
Việt Nam hiện nay, cấp kinh phí chi thường xuyên cho các trường là cấp bình quân,
ít có phân biệt ngành đào tạo, không phân biệt quy mô trường. Do nguồn này phụ
thuộc vào ngân khố mỗi quốc gia và phụ thuộc vào mục tiêu mỗi quốc gia theo đuổi
từng thời kỳ.
Bên cạnh các nguồn thu từ NSNN, các nguồn thu khác cũng được xác định
mức thu cho hợp lý, có căn cứ khoa học. Vì nếu ngân sách hạn hẹp, cần tạo chính
19
sách rõ ràng cho các đơn vị sự nghiệp trong việc tăng thu các nguồn ngoài ngân
sách. Chẳng hạn, trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, đối với các trường đại học mức
học phí phải được xây dựng trên chất lượng đào tạo, gắn với thang đo chất lượng cụ
thể, có kiểm soát. Trong lĩnh vực y tế, mức viện phí được thu dựa trên quyết định
của Bộ y tế ban hành áp dụng tại mỗi bệnh viện.
Mức thu các nguồn khác: thu từ nghiên cứu khoa học, dịch vụ tư vấn và các
hoạt động sự nghiệp khác phải xác định được mục tiêu cuối cùng là thu bù chi và có
tích lũy.
b) Quản lý chi tài chính tại đơn vị sự nghiệp
- Các khoản chi của đơn vị sự nghiệp