Sử dụng di sản hoàng thành thăng long trong dạy học lịch sử việt nam lớp 10 trường THPT nguyễn bính, huyện vụ bản, tỉnh nam định - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LẠI THỊ LAN ANH

SỬ DỤNG DI SẢN HOÀNG THÀNH THĂNG LONG
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 10
TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN BÍNH,
HUYỆN VỤ BẢN TỈNH NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LẠI THỊ LAN ANH

SỬ DỤNG DI SẢN HOÀNG THÀNH THĂNG LONG
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 10
TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN BÍNH,
HUYỆN VỤ BẢN TỈNH NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN LỊCH SỬ
Mã số: 60 14 01 11

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. HOÀNG THANH TÚ

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GV

: Giáo viên

GS.TSKH
HS

: Giáo sư Tiến sĩ khoa học

: Học sinh

UNESCO

: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc

NXB

: Nhà xuất bản

THPT

: Trung học phổ thông

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa

ii



1.2.2. Thực trạng sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long trong dạy học
Lịch sử Việt Nam lớp 10 ................................................................................. 18
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 28
CHƢƠNG 2:CÁC BIỆN PHÁP SỬ DỤNG DI SẢN HOÀNG
THÀNHTHĂNG LONG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM
LỚP 10 TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN
BÍNH,HUYỆN VỤ BẢN TỈNH NAM ĐỊNH. THỰC NGHIỆM SƢ
PHẠM ............................................................................................................. 29
2.1. Vị trí, mục tiêu, nội dung chƣơng trình lịch sử Việt Nam lớp 10
– chƣơng trình chuẩn ở trƣờng Trung học Phổ thông .............................. 29
2.1.1. Vị trí ...................................................................................................... 29
2.1.2. Mục tiêu................................................................................................. 29
2.1.3. Nội dung ................................................................................................ 31
2.2. Khảo sát nguồn tài liệu ở di sản Hoàng Thành Thăng Long cần
và có thể sử dụng trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 trƣờng
trung học phổ thông ...................................................................................... 34
2.2.1. Giới thiệu chung về khu trung tâm di sản Hoàng thành Thăng
Long................................................................................................................. 34
2.2.2. Một số nội dung tài liệu ở di sản Hoàng Thành Thăng Long có thể
sử dụng trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 trường trung học phổ
thông ................................................................................................................ 38
2.3. Những nguyên tắc sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long
trong dạy học lịch sử ở trƣờng Trung học Phổ thông ............................... 55
2.3.1. Khai thác tính trực quan sinh động của di sản Hoàng thành Thăng
Long................................................................................................................. 55
2.3.2. Đảm bảo tính khoa học, sư phạm .......................................................... 58
2.3.3. Phát huy tính tích cực trong nhận thức của học sinh ............................ 60

iv

sử dụng trong chương trình Lịch sử Việt Nam lớp 10 .................................... 38
Bảng 2.2. Kết quả thực nghiệm sư phạm ........................................................ 82
Bảng 2.3. Bảng tổng hợp phân loại học sinh theo kết quả điểm kiểm tra
(%) ................................................................................................................... 82
Bảng 2.4. Độ chênh lệch điểm kiểm tra giữa lớp thực nghiệmvà lớp đối
chứng ............................................................................................................... 83

vi


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1. Quan niệm của giáo viên về khái niệm di sản văn hóa .............. 21
Biểu đồ 1.2. Biểu đồ đánh giá mức độ cần thiết của việc sử dụng di
sảnHoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 .......... 22
Biểu đồ 2.1: So sánh kết quả giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng ........... 82

vii


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập hiện nay, công tác giáo dục truyền thống lịch sử
dân tộc cho thế hệ trẻ luôn được chú trọng trong các nhà trường phổ thông.
Trong số các môn học đó, Lịch sử có nhiều ưu thế và ý nghĩa quan trọng góp
phần giáo dục thế hệ trẻ theo lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyên
Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười
đã nhấn mạnh việc giáo dục lịch sử dân tộc, coi lịch sử là tài liệu giáo khoa số
một trong nhà trường.Tuy nhiên, thực tế việc dạy và học Lịch sử còn có
những hạn chế so với mong đợi của xã hội. Thực tiễn nhiều học sinh không
ham thích hoặc thờ ơ với việc học Lịch sử. Thực trạng nàyđã và đang gióng

Hoàng thành Thăng Long đã tạo nên một quần thể thống nhất, có giá trị về
lịch sử bởi đây từng là Kinh đô của quốc gia Đại Việt từ thế kỉ XII đến thế kỉ
XVIII. Vì vậy, vấn đề này là đề tài của nhiều công trình khoa học của nhiều
tác giả trong và ngoài nước. Nhiều khía cạnh khác của vấn đề được đề cập và
giải quyết. Tuy nhiên, những nghiên cứu trong nước còn hạn chế về vấn đề
của luận văn ở lĩnh vực phương pháp dạy học lịch sử, cụ thể là phương pháp
sử dụng di sản trong dạy học Lịch sử ở trường THPT.
Với những lý do nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Sử dụng di sản
Hoàng thành Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam Lớp 10 trường
trung học phổ thông Nguyễn Bính, huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định ” nhằm đề
xuất các biện pháp sử dụng nguồn tài liệu quý giá này theo hướng dạy học đổi
mới, sáng tạo, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục lịch sử ở trường THPT
và góp phần vào các nghiên cứu về bộ môn phương pháp dạy học Lịch sử.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc nghiên cứu vấn đề về di sản Hoàng thành Thăng Long dưới nhiều
góc độ khác nhau đã được giải quyết trong nhiều công trình khoa học trong và
ngoài nước.Với phạm vi và tính chất của đề tài chúng tôi tập trung tìm hiểu
hai vấn đề lớn như sau:
- Vị trí và ý nghĩa của di sản Hoàng thành Thăng Long:

2


Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập cụ thể và chi tiết về khu
Trung tâm Hoàng thành Thăng Long. Có thể kể tên một số tác phẩm tiêu biểu
như: “Những hiểu biết mới về thành Thăng Long” của Đỗ Văn Ninh đăng trên
tạp chí Khảo cổ học (2004 - số 4, tr. 21-35). Bài viết cung cấp thêm những
thông tin về các đợt khai quật khảo cổ học gần nhất trong khu Hoàng thành
Thăng Long, giúp độc giả có thêm cứ liệu để truy tìm vị trí Hoàng thành thủa
ban đầu. Trên cơ sở các hiện vật khảo cổ học và việc phát lộ khu di tích

Các công trình về lý luận dạy học lịch sử đề cập tới việc dạy học lịch sử
sử dụng di sản, di tích trong nhà trường phổ thông như: “Chuẩn bị giờ học
lịch sử như thế nào?” của N.G.Đairi, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001; Nguyễn
Văn Huy, Trung tâm Nghiên cứu và Phát huy giá trị di sản văn hóa, Quy trình
giáo dục trải nghiệm di sản trong nhà trường; Trần Thị Thu Thủy, Nguyễn
Xuân Trường, Nguyễn Đức Tăng (2004), Các bước xây dựng kế hoạch dạy
học có sử dụng di sản văn hóa phi vật thể, Nxb Giáo dục, Hà Nội; Hoàng
Thanh Hải với Di tích lịch sử và việc giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông
trên Tạp chí Xưa và Nay (tháng 4/1996, tr.6-7). Ngoài ra, còn nhiều bài viết
đăng trên các tạp chí chuyên ngành: Dạy và Học ngày nay, tạp chí Nghiên
cứu Giáo dục, Xưa và Nay… và một số báo cáo khoa học trong các hội thảo
khoa học. Đây thực sự là những nguồn tài liệu tham khảo quý giá giúp tác giả
có những gợi ý giải quyết vấn đề của đề tài đặt ra.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình sử dụng di sản trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam (lớp 10
– chương trình chuẩn) ở trường THPT nói chung, trường THPT Nguyễn Bính,
huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định nói riêng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về hình thức tổ chức dạy học: tập trung vào bài học nội khóa.
Về phạm vi điều tra, khảo sát thực trạng và thực nghiệm: tiến hành tại
lớp 10, trường THPT Nguyễn Bính, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
4


Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng di sản Hoàng thành
Thăng Long trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10, luận văn xác định rõ
những nguyên tắc, đặc điểm của phương tiện trực quan này, đồng thời đề xuất

Nếu giáo viên sử dụng di sản văn hóa nói chung và di sản Hoàng thành
Thăng Long nói riêng trong dạy học Lịch sử theo hướng dạy học tích cực sẽ
đáp ứng được mục tiêu dạy học lịch sử, đặc biệt dạy học phần Lịch sử Việt
Nam (lớp 10 - chương trình chuẩn) và góp phần nâng cao chất lượng dạy học
môn Lịch sử ở trường THPT hiện nay.
7. Đóng góp của đề tài
Thực hiện tốt những nhiệm vụ đề ra, luận văn góp phần:
- Khẳng định vai trò, ý nghĩa, sự cần thiết của việc sử dụng di sản trong
dạy học Lịch sử ở trường Trung học phổ thông.
- Đánh giá được thực trạng sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long.
- Đề xuất biện pháp sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long theo
hướng dạy học tích cực.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: làm phong phú thêm lí luận phương pháp dạy học
môn Lịch sử nói chung và vấn đề sử dụng di sản trong dạy học lịch sử ở
trường THPT nói riêng.
- Ý nghĩa thực tiễn: là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên các
trường Cao đẳng, Đại học Sư phạm, Đại học Giáo dục; giáo viên bộ môn Lịch
sử và bản thân tác giả luận văn vận dụng trong quá trình dạy học Lịch sử ở
trường THPT.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng di sản Hoàng
thành Thăng Long trong dạy học môn Lịch sử ở trường Trung học phổ thông.
Chương 2: Các biện pháp sử dụng di sản Hoàng thành Thăng Long
trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 ở THPT Nguyễn Bính, huyện Vụ Bản
tỉnh Nam Định. Thực nghiệm sư phạm.

6


nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các
phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn
hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu
7


hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm đáp ứng những nhu cầu đời
sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [24, tr. 431]. Federico Mayor, Tổng giám đốc
UNESCO cho biết đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác
tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác,
văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác,
từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập
quán, lối sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế
chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa, họp tại
Venise năm 1970.
Trong lĩnh vực này, khởi đầu định nghĩa của E.B.Tylor trong cuốn Văn
hóa nguyên thủy (Primitive culture) xuất bản ở London năm 1871, đến nay đã
có nhiều định nghĩa khác nhau. Vào năm 1952, hai nhà Nhân học người Mỹ là
A.Kroeber và C.Kluchkhohn đã viết một cuốn sách chuyên bàn về các định
nghĩa văn hóa với tựa đề Văn hóa – tổng luận phê phán các quan niệm và
định nghĩa, trong đó đã dẫn ra và phân tích 164 định nghĩa về văn hóa. Trong
lần xuất bản thứ hai của cuốn sách này, số định nghĩa văn hóa đã tăng lên đến
trên 200 định nghĩa. Còn hiện nay thì số lượng định nghĩa văn hóa chưa được
khẳng định chính xác.
Tóm lại, dù số lượng định nghĩa văn hóa có nhiều nhưng tựu chung lại,
văn hóa mà theo E.B.Tylor định nghĩa văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng
về tộc người, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật
pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm
lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội.
Với cách hiểu trên cùng những định nghĩa đã nêu thì văn hóa chính là

dân tộc học hoặc nhân chủng học.
Tóm lại, theo Luật Di sản văn hóa quy định, di sản văn hóa bao gồm di
sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật
chất có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

9


1.1.2. Đặc điểm của di sản văn hóa Việt Nam
Di sản văn hóa Việt Nam là những giá trị kết tinh từ sự sáng tạo văn
hóa của cộng đồng 54 dân tộc, trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, được trao
truyền, kế thừa và tái sáng tạo từ nhiều thế hệ cho tới ngày nay. Di sản văn
hóa Việt Nam là bức tranh đa dạng văn hóa, là tài sản quý giá của cộng đồng
các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại. Di sản
văn hóa Việt Nam có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước
của nhân dân ta.
Căn cứ vào nguồn tài liệu lưu trữ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch,
cả nước ta hiện có 40.000 di tích Lịch sử - văn hóa. Trong đó, Bộ Văn hóa
Thể thao và Du lịch, đã xếp hạng 3152 di tích có giá trị quốc gia, gồm 1468 di
tích Lịch sử - văn hóa; 1478 di tích kiến trúc – nghệ thuật; 77 di tích khảo cổ;
129 danh lam thắng cảnh.
Căn cứ vào điểm 3, điều 29, chương IV – Bảo vệ và phát huy giá trị di
sản văn hóa vật thể. Mục 1: Di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, theo
đề nghị của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch và văn bản thẩm định của Hội Di
sản văn hóa Quốc gia, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định xếp hạng có 23 di
tích quốc gia đặc biệt; đồng thời cũng đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và
Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) xem xét, đưa di tích tiêu biểu của
Việt Nam vào Danh mục di sản thiên nhiên, di sản văn hóa vật thể tiêu biểu của
nhân loại. Dưới đây là 7 di sản văn hóa được tổ chức UNESCO công nhận:

Nội (2010).
- Thành nhà Hồđược coi là thành đá duy nhất còn lại ở Đông Nam Á và
là một trong rất ít còn lại trên thế giới. Ngày 27 tháng 6 năm 2011, tại Paris
(Pháp), trong kỳ họp lần thứ 35 của Uỷ ban Di sản thế giới, UNESCO đã
công nhận thành Nhà Hồ là di sản văn hóa thế giới.
1.1.3. Phân loại di sản
Toàn bộ Di sản thế giới được tổ chức UNESCO chia thành 3 nhóm: Di
sản văn hóa (nhân tạo); Di sản thiên nhiên thế giới (thiên tạo) và Di sản hỗn
hợp (kết hợp giữa thiên tạo và nhân tạo). Trong đó, di sản văn hóa được phân
chia thành hai loại là Di sản văn hóa vật thể và Di sản văn hóa phi vật thể.
11


1. Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng
hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và
được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền
nghề, trình diễn và các hình thức khác. Theo UNESCO, có thể xếp văn hóa
phi vật thể thành 14 loại hình như sau:
a. Ngôn ngữ
b. Lịch sử truyền miệng
c. Nghi lễ và tôn giáo truyền thống
d. Các hình ảnh, biểu tượng thiêng
e. Các loại thiết kế (không mang tính chất thiêng), ngành nghề thủ công
truyền thống
f. Âm nhạc truyền thống
g. Múa truyền thống
h. Ẩm thực
i. Kỹ năng săn bắn thú (khả năng nhận biết hơi thú, bắt chước tiếng
kêu của con vật, đánh bắt cá,...)

hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học” [23, tr. 31].
Thực tế, sự phân chia giá trị di sản văn hóa thành phi vật thể và vật thể
chỉ có ý nghĩa tương đối. Theo Lưu Trần Tiêu cho rằng: “... sự phân chia
thành văn hóa phi vật thể và văn hóa vật thể theo dạng tồn tại của sản phẩm
sáng tạo chỉ có tính chất tương đối. Bởi lẽ dưới cái lớp vỏ vật chất của sản
phẩm văn hóa chứa đựng giá trị về năng lực sáng tạo, về thẩm mỹ, về ý nghĩa
và nội dung thể hiện gắn liền với thế giới quan, nhân sinh quan của một cộng
đồng. Chẳng hạn, kiến trúc của ngôi đình làng với đồ thờ tự là sản phẩm văn
hóa vật thể, nhưng còn bao nhiêu giá trị văn hóa khác của một đình làng
(công đức của người được tôn vinh là Thành hoàng làng, giá trị thẩm mỹ, ý
nghĩa phản ánh qua kiến trúc và những mảng trang trí, cũng như mối quan hệ
giữa chúng với môi trường cảnh quan xung quanh, những hội hè, những quy
tắc về tập tục sinh hoạt đình làng,...) lại là cái hồn, cái bản chất gắn kết không
thể tách rời khỏi cái đình làng vật thể. Hay bản thân cơ thể người nghệ nhân
13


là vật thể nhưng óc thẩm mỹ, tài năng sáng tạo, sự khéo léo và tinh tế, những
kinh nghiệm và bí quyết hành nghề... khiến họ tạo ra được những sản phẩm
văn hóa tuyệt vời tồn tại dưới dạng phi vật thể. Thế thì làm sao có thể tách rời
nhau được” [27, tr. 661-662].
Như vậy, các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có mối liên hệ
chặt chẽ, bản thân chúng đã hòa quyện với nhau tạo nên một chuỗi di sản quý
giá và thế hệ kế tiếp có trách nhiệm gìn giữ và phát triển. Giáo dục sử dụng di
sản văn hóa (bao gồm vật thể và phi vật thể), di sản thiên nhiên, trong đó bao
hàm cả giáo dục truyền thống. Theo Nguyễn Văn Huy – Uỷ viên Hội đồng Di
sản văn hóa quốc gia, giáo dục di sản văn hóa chính là giáo dục về những di
sản xung quanh chúng ta, các di sản xung quanh trường học. Hiện nay giáo
dục nói chung và giáo dục Lịch sử nói riêng có nhiều nghĩa mở rộng so với
giáo dục truyền thống.

này giúp học sinh không chỉ hiểu về di sản theo nghĩa rộng mà còn giúp các
em tư duy sâu hơn về các giá trị truyền thống, tác động trực tiếp đến tình cảm,
đạo đức và hình thành nhân cách.
Thứ hai, theo định hướng của Bộ giáo dục và Đào tạo, phương pháp
dạy học hiện nay chuyển từ dạy học thụ động sang dạy học phát huy tính chủ
động sáng tạo của học sinh làm chuyển biến vị trí người học từ thụ động sang
chủ động. Việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học bộ môn là một phương
pháp không mới, đây là sự kết hợp giữa yếu tố dạy học truyền thống và hiện
đại. Do đặc thù bộ môn lịch sử nên khi giáo viên sử dụng các di sản để tăng
sự tin cậy đối với các sự kiện quá khứ là điều tất yếu. Di sản văn hóa cũng
mang đặc điểm rất phù hợp với yêu cầu của bộ môn qua các hiện vật mang
tính chính xác, cụ thể, phong phú mà nó xuất hiện tại các sự kiện. Đây là loại
tài liệu học sinh cần được tiếp xúc và giúp các em thoát khỏi tình trạng “hiện
đại hóa lịch sử”. Việc sử dụng di sản còn giúp học sinh có thêm cơ sở vững
chắc để nắm vững bản chất các sự kiện, hình thành khái niệm, hiểu rõ quy
luật, bài học quan trọng của lịch sử, bước đầu đặt nền tảng cho học sinh thói
quen nghiên cứu khoa học.

15


Thứ ba, việc sử dụng tài liệu di sản Hoàng thành Thăng Long trong
dạy học lịch sử còn có ý nghĩa xã hội và ý nghĩa giáo dục. Căn cứ vào Luật di
sản văn hóa (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009), di sản văn hóa Việt Nam là
tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di
sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ
nước của nhân dân ta.Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, hầu hết
các sự kiện lịch sử trọng đại đều diễn ra trên mảnh đất Thăng Long. Hơn thế
nữa, trải qua gần 13 thế kỷ, Hoàng thành Thăng Long vẫn tồn tại như một
chứng nhân lịch sử khiến cho cả dân tộc Việt Nam thêm tự hào. Chính vì vậy,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status