Phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư vào Khu công nghiệp Thụy Vân - Pdf 42

Header Page 1 of 126.

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TÀO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

NGUYỄN HÀ VIỆT

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO KHẢ NĂNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO
KHU CÔNG NGHIỆP THỤY VÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành: Quản trị Kinh Doanh
Khóa: 2009-2011

Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Thị Thanh Hồng

PHÚ THỌ, NĂM 2012
Footer Page 1 of 126.


Header Page 2 of 126.
Luận văn Thạc sỹ QTKD

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta đề ra nhiều chủ trương
đúng đắn, nhờ vậy tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ. Trong các

1

Khóa học 2009


Header Page 3 of 126.
Luận văn Thạc sỹ QTKD

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

và lao động các địa phương trên cả nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Những đóng góp tích cực của KCN, KCX vào phát triển kinh tế, xã hội trong 20
năm qua đã khẳng định đường lối chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước về
xây dựng và phát triển các KCN, KCX.
Tuy nhiên, sự phát triển của các KCN ở nước ta chưa thực sự vững chắc, việc
xây dựng cơ sở hạ tầng KCN chưa đồng bộ, chưa gắn chặt với yêu cầu bảo vệ môi
trường, chống ô nhiễm, vai trò thúc đẩy chuyển giao công nghệ còn yếu, liên kết
kinh tế và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN chưa cao, khả
năng tạo việc làm, thu hút lao động vẫn còn nhiều hạn chế.
Vấn đề đặt ra là làm sao để nâng cao khả năng thu hút vôn đầu tư vào KCN
hay nói cách khác là nâng cao hiệu quả của các KCN là một vấn đề mà Đảng và
Nhà nước, các cơ quan quản lý, các nhà đầu tư hạ tầng KCN, các doanh nghiệp và
nhân dân trong cả nước đã và đang rất quan tâm.
Phú Thọ là một tỉnh miền núi phía tây Bắc Việt Nam, vị trí địa lý trng tâm
của vùng, là cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, cầu nối vùng Tây Bắc với
thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, có truyền thống về phát triển tiểu thủ
công nghiệp và chế biến nông sản thực phẩm. Nhằm phát triển Phú Thọ là trung tâm
phía tây bắc về kinh tế, xã hội và công nghiệp tại đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 18 và
19 đã xác định rõ mục tiêu: “Chủ động nắm thời cơ tranh thủ xây dựng các dự án
đầu tư để phát triển những cơ sở sản xuất công nghiệp mới, hình thành khu công

Khóa học 2009


Header Page 5 of 126.
Luận văn Thạc sỹ QTKD

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Một là, hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về các KCN, các tiêu chí
đánh giá khả năng thu hút vốn đầu tư của các KCN nói chung.
Hai là, bằng các số liệu chứng minh, luận văn phân tích và làm sáng tỏ hiện
trạng đầu tư vào KCN Thụy Vân. Từ đó rút ra nguyên nhân và bài học kinh nghiệm
và giúp cho cho các cấp chính quyền, các cơ quan ban ngành của tỉnh nâng cao hiệu
quả quản lý Nhà nước đối với KCN Thụy Vân, đồng thời có chính sách phù hợp đối
với các KCN phục vụ sự phát triển bền vững của tỉnh nhà.
Ba là, chỉ ra những kết quả đã đạt được, những hạn chế và những nguyên
nhân trong quá trình phát triển KCN Thụy Vân, từ đó đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư vào các KCN đảm bảo phát triển kinh
tế - xã hội tỉnh Phú Thọ một cách bền vững.
6. Kết cấu của đề tài:
- Phần mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết về Khu công nghiệp
- Chương 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tư vào KCN Thụy Vân
- Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư vào KCN Thụy
Vân.
- Kết luận

Nguyễn Hà Việt
Footer Page 5 of 126.


nghệ cao và bắc Ý trở thành trung tâm công nghiệp giày da cao cấp. Vì khả năng
kiểm soát giá thành của các Công ty ngày càng tương đương, năng lực cạnh tranh
đang và sẽ phụ thuộc vào tính năng đầu ra của sản phẩm và dịch vụ, với yếu tố
quyết định là khả năng đổi mới (innovation) của công ty.
Trước hết cần hiểu khu công nghiệp tập trung như thế nào? Theo định nghĩa
của Porter, "cluster" là tập hợp các công ty cùng với các tổ chức tương tác qua lại
trong một lĩnh vực cụ thể. Xung quanh nhà sản xuất hình thành các nhà cung cấp
chuyên môn hoá các phụ kiện và dịch vụ cũng như cơ sở hạ tầng. Khu công nghiệp
tập trung bao trùm lên cả các kênh phân phối và khách hàng, và bên cạnh đó là
những nhà sản xuất sản phẩm phụ trợ, các công ty thuộc các ngành liên quan về kỹ
thuật, công nghệ hoặc cùng sử dụng một loại đầu vào. Các khu công nghiệp tập

Nguyễn Hà Việt
Footer Page 6 of 126.

5

Khóa học 2009


Header Page 7 of 126.
Luận văn Thạc sỹ QTKD

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

trung còn hình thành cả các tổ chức chính phủ và phi chính phủ như các trường đại
học, các viện công nghệ, các trung tâm nghiên cứu, hiệp hội thương mại... cung cấp
các dịch vụ đào tạo chuyên môn, giáo dục, thông tin, nghiên cứu và hỗ trợ kỹ thuật.
Theo Luật Đầu tư của Việt Nam số 59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm
2005 và theo nghị định số 29/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy


Khóa học 2009


Header Page 8 of 126.
Luận văn Thạc sỹ QTKD

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

triển cơ cấu kinh tế, những ngành mà nước sở tại ưu tiên, cho phép đầu tư. Bên cạnh
đó, thủ tục hành chính đơn giản, có các ưu đãi về tài chính, an ninh, an toàn xã hội
tốt tại đây thuận lợi cho việc sản xuất - kinh doanh hàng hóa hơn các khu vực khác.
Mục tiêu của nước sở tại khi xây dựng khu công nghiệp là thu hút vốn đầu tư với quy
mô lớn, thúc đẩy xuất khẩu tạo việc làm, phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển giao công
nghệ kiểm soát ô nhiễm môi trường.
1.1.3. Sự cần thiết khách quan xây dựng và phát triển KCN
Trong quá trình phát triển kinh tế, ở hầu hết các nước đang phát triển đều rất
thiếu vốn. Do đó vấn đề tạo vốn được coi là vấn đề lớn nhất trong việc huy động
các nguồn lực. Chỉ có tạo được nguồn vốn cho phát triển kinh tế mới có thể tiến
hành đầu tư, tạo điều kiện cho nền kinh tế cất cánh. Giữa hai nguồn vốn đầu tư:
trong nước và ngoài nước thì vốn đầu tư trong nước được coi là giữ vai trò quyết
định cho sự phát triển, vốn đầu tư nước ngoài được xác định là rất quan trọng tạo ra
sự đột phát cho sự phát triển. Một trong những giải pháp để huy động vốn là tích
cực mở rộng, nâng cấp cơ sở hạ tầng, nâng cấp dịch vụ và chất lượng các KCN làm
cho môi trường đầu tư được thuận lợi hơn.
Để hấp dẫn đầu tư nước ngoài và huy động mọi nguồn lực trong nước nhằm
phát triển kinh tế đất nước, các quốc gia trên thế giới đều cần có một môi trường
đầu tư thuận lợi bao gồm môi trường pháp lý hoàn thiện và môi trường kinh doanh
thuận lợi.
Hai nhân tố này là điều kiện cần thiết có ý nghĩa tiên quyết cho việc thu hút

Phát triển các KCN cũng đồng thời với việc tiết kiệm hạ tầng, có điều kiện thuận lợi
để thu hút đầu tư, cung cấp các dịch vụ hành chính công cho các Doanh nghiêp và
có môi trường tốt để tiếp nhận và chuyển giao công nghệ tiên tiến.
Trong điều kiện thực tế của Việt Nam, chúng ta chưa thể có ngay được một
hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại và đồng bộ trên cả nước, chưa thể tạo ra một mặt
bằng pháp lý thống nhất và bình đẳng cho các thành phần kinh tế trong và ngoài
nước hoạt động, phát triển KCN là một giải pháp để có được một hệ thống kết cấu
hạ tầng đồng bộ, môi trường pháp lý thuận lợi và thống nhất để thu hút vốn trong
nước và vốn đầu tư nước ngoài để phát triển. Đăc biệt trong thời gian gần đây, quan
điểm về phát triển KCN có sự thay đổi: phát triển KCN không chỉ chú trọng vào
mục tiêu thu hút vốn FDI nhằm du nhập các yếu tố vốn, công nghệ, trình độ lao
động của thế giới vào Việt Nam, xem nhẹ khu vực trong nước, mà KCN còn là một
giải pháp để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát huy nội lực của
các thành phần kinh tế trong nước, thông qua việc thu hút các doanh nghiệp trong
nước tham gia đầu tư vào KCN. Biểu hiện rõ nét nhất của xu hướng này là dòng
vốn đầu tư trong nước vào KCN vài năm gần đây ngày càng gia tăng.
KCN là mô hình kinh tế đã được áp dụng phổ biến trên thế giới. Ở các nước
phát triển ở Châu Âu và Bắc Mỹ, có một thời kỳ các nước này đã đẩy mạnh việc
phát triển các KCN và rất chú trọng vai trò của KCN trong quá trình phát triển kinh
tế. Kinh nghiệm phát triển mô hình KCN ở các nước này cho thấy, phát triển KCN
là một giải pháp tối ưu để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sự phát triển công
nghiệp quốc gia. Có thể nói thành công của các KCN đã góp phần không nhỏ để các
nước này trở thành những nước có nền kinh tế phát triển như hiện nay. Các nước
công nghiệp mới phát triển như: Trung Quốc, Hàn Quốc cũng như các nước đang
phát triển ở Đông Nam Á hiện nay cũng đang phát triển việc xây dựng và phát triển
các KCN, KCX và đều gặt hái được những thành công đáng kể.
Nguyễn Hà Việt
Footer Page 9 of 126.

8

Năm 2005, các doanh nghiệp trong KCN, KCX đã nộp ngân sách đạt 650 triệu
USD, đến năm 2010, các doanh nghiệp này đóng góp vào ngân sách nhà nước đạt
2.620 triệu USD, cao gấp 4 lần so với năm 2005 (xem Bảng 1.1).
Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu của các khu công nghiệp toàn quốc
Chỉ tiêu

ĐVT

GTSX Công nghiệp

2011

Triệu USD

31350

Giá trị xuất khẩu

"

14950

Giá trị nhập khẩu

"

15930

Nộp ngân sách




Header Page 12 of 126.
Luận văn Thạc sỹ QTKD

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Công ty TNHH Canon Việt Nam, Mabuchi Motor...những lĩnh vực Việt Nam còn
yếu kém như cơ khí chính xác, điện tử.
Các doanh nghiệp trong KCN, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài đã góp sức đào tạo được đội ngũ lao động công nghiệp sử dụng và vận
hành thành thạo các trang thiết bị phục vụ quản lý và sản xuất, nắm vững công
nghệ, có tác động lan tỏa và nâng trình độ tay nghề của lao động Việt Nam lên một
bước. Một lượng đáng kể của lao động Việt Nam được đảm nhận các vị trí quản lý
doanh nghiệp, được tiếp xúc với phương thức quản trị doanh nghiệp tiên tiến, hiện
đại, kỹ năng marketing, quản lý tài chính, tổ chức nhân sự... Việc được trực tiếp làm
việc trong môi trường có kỷ luật cao, yêu cầu tay nghề cao đã rèn luyện được những
kỹ năng và bản lĩnh làm việc giúp người lao động Việt Nam thích ứng với một nền
công nghiệp tiên tiến, hiện đại.
(3) Thu hút các lượng vốn đầu tư lớn phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước:
Các KCN, KCX với những chính sách ưu đãi và những điều kiện thuận lợi
về hạ tầng kinh tế - kỹ thuật ngày càng là điểm đến hấp dẫn của nhà đầu tư nước
ngoài. Số dự án đầu tư nước ngoài và tổng vốn đăng ký vào KCN, KCX dần được
mở rộng trong giai đoạn đầu (1991 – 1995) và đặc biệt tăng trưởng với tốc độ cao
trong kế hoạch 5 năm 1996 – 2000 và 2001 – 2005. Nếu như cả giai đoạn 1991 –
1995, khi các KCN, KCX đang trong quá trình triển khai xây dựng, số dự án thu hút
được mới đạt 155 dự án với tổng vốn 1.550 triệu USD, thì trong 5 năm 1996 –
2000, các KCN, KCX đã thu hút thêm được 590 dự án với tổng vốn đầu tư tăng
thêm đạt 7.213 triệu USD, tăng gấp 3,8 lần về số dự án và 4,65 lần về tổng vốn đầu

hoạch là 200 tỷ VNĐ, 35.000 tỷ VNĐ, 80.000 tỷ VNĐ và 218.860 tỷ đồng.
Bảng 1.2: Số lượng dự án và nguồn vốn đầu tư vào các KCN
1991 - 1995

1996 – 2000

2001 – 2005

2006 – 2010

Số

Vốn

Số dự Vốn

Số dự Vốn

Số dự Vốn ĐT

dự

ĐT

án

án

án


7213

1377

8080

1860

36800

(Tỷ VND)
Đầu tư nước
ngoài (Triệu
USD)

Nguồn: Vụ quản lý các KKT – Bộ KHĐT
Theo Báo cáo năm 2011 của Vụ quản lý các KKT - Bộ KHĐT. Các KCN cả
nước tính đến đầu tháng 12/2011 đã thu hút đầu tư vào KCN được 4.113 dự án đầu
tư nước ngoài còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt 59,6 tỷ USD, và 4.681
dự án đầu tư trong nước còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 420 nghìn tỷ
đồng (tính riêng cho các dự án thứ cấp trong KCN). Tổng số vốn đầu tư phát triển
hạ tầng của 283 KCN trên cả nước đạt gần 9,5 tỷ USD. Tỷ lệ lấp đầy công nghiệp
Nguyễn Hà Việt
Footer Page 13 of 126.

12

Khóa học 2009



giữa nông thôn và thành thị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
Điều này có thể dễ dàng nhận nhất ở những vùng có KCN phát triển mạnh như Biên
Hòa, Nhơn Trạch (Đồng Nai), Thuận An (Bình Dương), Tiên Sơn (Bắc Ninh, cùng
với quá trình phát triển KCN, KCX các điều kiện về kỹ thuật hạ tầng trong khu vực

Nguyễn Hà Việt
Footer Page 14 of 126.

13

Khóa học 2009


Header Page 15 of 126.
Luận văn Thạc sỹ QTKD

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

đã được cải thiện đáng kể, nhu cầu về các dịch vụ gia tăng, góp phần thúc đẩy hoạt
động kinh doanh cho các cơ sở dịch vụ trong vùng.
Thứ hai là, cùng với các chính sách ưu đãi về tài chính và công tác quản lý
thuận lợi của nhà nước, có thể nói việc thu hút nguồn vốn để đầu tư xây dựng hoàn
thiện và đồng bộ các kết cấu hạ tầng trong KCN, KCX có vai trò quyết định trong
việc thu hút đầu tư. Việc các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế tham gia
đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCN, KCX không những tạo điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp trong KCN, KCX hoạt động hiệu quả, mà còn tạo sự đa dạng
hóa thành phần doanh nghiệp tham gia xúc tiến đầu tư góp phần tạo sự hấp dẫn
trong việc thu hút doanh nghiệp công nghiệp vào KCN, KCX.
Thứ ba là, việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật trong KCN, KCX không
những thu hút các dự án đầu tư mới mà còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở

Các KCN có không gian kinh tế rộng lớn với nhiều doanh nghiệp sản xuất đã
tạo ra kênh hiệu quả để thu hút lao động, giải quyết việc làm cho lao động xã hội,
gồm người lao động tại chỗ và lao động nhập cư. Lực lượng lao động trong KCN
gia tăng cùng với sự gia tăng các KCN thành lập mới và mở rộng, các dự án hoạt
động trong KCN. Đến tháng 12 năm 2011, các KCN đã thu hút được trên 150 vạn
lao động trực tiếp với tỷ trọng lao động có chuyên môn kỹ thuật tăng dần và đạt gần
40%, ngoài ra nếu tính cả số lao động gián tiếp thì tổng số việc làm được tạo ra từ
chương trình phát triển KCN khoảng trên 1,76 triệu người.
Ngoài ra, KCN còn là nơi sử dụng lao động có chuyên môn kỹ thuật cao đạt
trình độ khu vực và quốc tế. Các lao động trong các KCN còn được làm quen với
mô hình tổ chức và quản lý tiên tiến của các nước phát triển như Nhật, Hàn Quốc,
Hồng Kông, Đài Loan, EU, Mỹ. Một số KCN đã xây dựng các cơ sở dạy nghề riêng
phục vụ cho hoạt động của KCN. Do vậy, có thể nói, KCN đóng góp rất lớn vào
việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho Việt Nam để giúp hình thành đội ngũ
lao động có ý thức, kỹ năng lao động của một nền công nghiệp hiện đại.
KCN là nơi tập trung lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật phù hợp với
công nghệ mới áp dụng vào sản xuất quản lý đạt trình độ khu vực và quốc tế. Do
đó, KCN đóng góp rất lớn vào đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho Việt Nam
để hình thành đội ngũ lao động có tay nghề và trình độ của nền công nghiệp hiện
đại. Đến nay, nhiều KCN ở các tỉnh như Huế, Bình Dương, Đồng Nai, thành phố
Hồ Chí Minh đã xây dựng được cơ sở dạy nghề và hình thành mô hình liên kết đào
tạo sử dụng nhân lực giữa các KCN và nhà trường.
(6) Phát triển KCN góp phần đẩy mạnh quan hệ hợp tác sản xuất và mở rộng
mối liên kết liên ngành, liên vùng:
Bước đầu liên kết ngành và liên kết vùng trong KCN đã có những kết quả
nhất định thực hiện trong phạm vi nội bộ trong KCN bởi những ngành nghề bổ trợ
lẫn nhau, đặc biệt là các doanh nghiệp đầu tư trong KCN đã tạo điều kiện cho các
ngành sản xuất nguyên liệu đầu vào cho các doanh nghiệp KCN hoặc bản thân các

Nguyễn Hà Việt

Để đáp ứng nhu cầu này, trong quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội và quy hoạch
phát triển công nghiệp trên địa bàn, các địa phương đưa ra chương trình kế hoạch và
giải pháp cụ thể về đào tạo nguồn nhân lực; các cơ sở đào tạo trong vùng và lân cận
phải xây dựng hoặc điều chỉnh kế hoạch đào tạo theo định hướng phù hợp với nhu
cầu của thị trường lao động.
Ngoài ra, các KCN cũng có tác động lan tỏa rất lớn đến công nghiệp của địa
phương. Các dự án đầu tư trong KCN là các dự án đầu tư mới, phần lớn được trang
bị máy móc, thiết bị thế hệ mới, đồng bộ. Nhiều dự án có công nghệ hiện đại, mức
độ tự động hóa cao. Với thế mạnh về công nghệ, thiết bị và phương pháp quản lý
tiến bộ, các DN này sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng và ổn định. Vì vậy,
để cạnh tranh có hiệu quả và tồn tại được trên thị trường, các doanh nghiệp khác sản
xuất các sản phẩm cùng loại không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm làm ra.
Nguyễn Hà Việt
Footer Page 17 of 126.

16

Khóa học 2009


Header Page 18 of 126.
Luận văn Thạc sỹ QTKD

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Như vậy, các DN trong KCN đã góp phần giúp công nghiệp địa phương từ chỗ chỉ
phục vụ nhu cầu tại chỗ là chính đã vươn ra thị trường trong nước và xuất khẩu.
Tác động lan tỏa đã cho thấy vai trò của KCN trong quá trình đô thị hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Các KCN không chỉ trực tiếp thúc đẩy công
nghiệp của địa phương trong vùng có KCN mà còn tác động lan tỏa tới các nhiều



Header Page 19 of 126.
Luận văn Thạc sỹ QTKD

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

án sản xuất linh kiện máy điện thoại di dộng của Tập đoàn Hồng Hải tại Vĩnh
Phúc...sẽ tạo ra năng lực sản xuất mới của nền kinh tế.
1.2. Quản lý Nhà nước đối với KCN:
Sau 20 năm phát triển các KCN trên địa bàn cả nước đã cho thấy vai trò và
tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này, trước năm 1998
cả nước có chung một Ban quản lý các khu công nghiệp Việt Nam trực thuộc Chính
phủ, sau này đã chuyển thành Vụ quản lý KCN, KKT thuộc Bộ KHH và ĐT và các
địa phương có KCN được Thủ tướng Chính phủ thành lập một Ban QL các KCN
trực thuộc UBND cấp tỉnh.
Tuy Ban QL các KCN của các tỉnh đã được thành lập nhưng cơ sở pháp lý về
quản lý các KCN chưa được hoàn thiện, từ trước năm 2006 công tác quản lý Nhà
nước về các KCN, KCX được qui định trong Nghị định 36/CP của Chính phủ ban
hành ngày 14 tháng 4 năm 1997 nhưng Nghị định 108/2006/NĐ-CP ra đời năm
2006 đã bãi bỏ Nghị định 36/CP. Cho đến tháng 3/2008 Thủ tướng Chính Phủ mới
ban hành Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2008 qui định về
KCN, KCX, KKT. Hiện nay công tác quản lý Nhà nước đối với KCN được qui định
đầy đủ và chi tiết tại nghị định này.
1.3. Hệ thống tiêu chí đánh giá khả năng thu hút vốn đầu tư của các khu công
nghiệp:
1.3.1. Các tiêu chí đánh giá khả năng thu hút vốn đầu tư tại khu công nghiệp.
1.3.1.1. Vị trí đặt của khu công nghiệp :
Đây là một trong những tiêu chí rất quan trọng và là cơ sở ban đầu dẫn đến sự
thành công của khu công nghiệp và là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư khi

Tiêu chí này xét trên 2 khía cạnh:
- Một là, mục đích hình thành khu công nghiệp: nếu việc hình thành khu
công nghiệp để thu hút vốn đầu tư nước ngoài thì quy mô có hiệu quả nằm trong
khoảng 200-300 ha (đối với các khu công nghiệp nằm trong khu vực thành thị và
vùng kinh tế trọng điểm), còn 200-400 ha đối với khu công nghiệp nằm trên các
tỉnh; với mục tiêu di dời các cơ sở công nghiệp trong các thành phố, đô thị lớn tập
trung vào thì khu công nghiệp có quy mô nhỏ hơn 100 ha; với mục tiêu tận dụng
nguồn lao động là thế mạnh tại chỗ của các địa phương thì quy mô khu công nghiệp
từ 100 ha; với mục tiêu kết hợp kinh tế với quốc phòng thì hình thành các khu công
nghiệp có quy mô từ 100-200 ha.
- Hai là, tính chất và điều kiện hoạt động của KCN: nếu khu công nghiệp
được đặt ở địa phương có cảng biển và nguồn nguyên liệu lớn, hình thành với tính
chất chuyên môn hoá sản xuất ổn định một số sản phẩm hàng hoá công nghiệp nặng
thì quy mô khu công nghiệp từ 300-500 ha; với các khu công nghiệp nằm ở xa đô
thị với các điều kiện xa cảng biển, với tính chất hoạt động là tận dụng lao động thì
quy mô hợp lý là 50-100 ha.
- Ba là, về qui hoạch chi tiết : Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch các
KCN không những phải xây dựng hợp lý không gian quy hoạch, mà điều quan trọng
Nguyễn Hà Việt
Footer Page 20 of 126.

19

Khóa học 2009


Header Page 21 of 126.
Luận văn Thạc sỹ QTKD

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Nguyễn Hà Việt
Footer Page 21 of 126.

20

Khóa học 2009


Header Page 22 of 126.
Luận văn Thạc sỹ QTKD

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

"điểm nhấn", lựa chọn ngành mũi nhọn, KCN mũi nhọn, vùng kinh tế trọng điểm để
đầu tư phát triển, tránh tình trạng đầu tư tràn lan, gây lãng phí. Phân loại, lựa chọn
những dự án, những KCN, KCX vừa đảm bảo tính kinh tế, vừa đảm bảo tính xã hội.
Thực hiện đúng chính sách tái định cư theo quy định của Luật Đất đai, có
chính sách hỗ trợ, giải quyết việc làm, ổn định đời sống cho người có đất bị thu hồi,
có sự ưu tiên tuyển chọn lao động vào các nhà máy trong KCN từ các hộ gia đình
có đất bị thu hồi.
Công tác quy hoạch KCN, KCX cũng cần tránh mang nặng tính cục bộ, khép
kín trong địa giới hành chính, tránh tình trạng "quy hoạch treo", "dự án treo", "đền
bù treo" đang diễn ra phổ biến ở nhiều tỉnh, dân mất đất không có việc làm, mất
lòng tin, nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực khác trong xã hội. Tránh tình trạng các
KCN được xây dựng theo "nhiệm kỳ", được phê duyệt nhờ cơ chế xin - cho làm phá
vỡ quy hoạch tổng thể phát triển KCN của cả nước và sự thiếu các chuẩn mực dẫn
đến tình trạng các KCN được xây dựng theo kiểu phong trào, đầu tư tràn lan, dàn
trải, kém hiệu quả.
(4) Kết hợp quy hoạch KCN, KCX và quy hoạch đô thị :
Vấn đề phát triển các đô thị công nghiệp trên cơ sở các KCN theo hướng tập

tiếp với sản xuất hàng hoá như dịch vụ, nghỉ ngơi, giải trí.
1.3.1.3. Diện tích đất và tỉ lệ lấp đầy KCN
Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả việc sử dụng tối ưu mặt bằng các KCN, tiêu chí
này xác định hiệu quả của việc khai thác và sử dụng đất có ích trên tổng diện tích được
cấp phép theo dự án của KCN, đó chính bằng tổng diện tích đất trong KCN đã được
các doanh nghiệp và dịch vụ thuê so với tổng diện tích đất của KCN. Tỷ lệ lấp đầy này
không đòi hỏi phải đạt cao ngay từ đầu mà phải chia theo từng phân kỳ đầu tư và đánh
giá theo từng giai đoạn. Thời kỳ đầu là thời kỳ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng khoảng
3-5 năm, tiếp sau đó là giai đoạn thu hút đầu tư và hoàn thiện các khu chức năng theo
nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp thuê đất, thu hồi chi phí đầu tư, tạo việc làm cho
người lao động …theo kinh nghiệm quốc tế thời gian để thu hồi kinh phí đầu tư xây
dựng có thể kéo dài trong khoảng 15-20 năm còn nếu sau khoảng 10-15 năm mà tỷ lệ
lấp đầy thấp hơn 75% thì coi như KCN này không đạt hiệu quả kinh tế như kỳ vọng và
không đảm bảo phát triển bền vững.
Tỷ lệ diện tích đất công nghiệp trên đất tự nhiên(%)
S CN
× 100%
STN

SCN: Diện tích đất công nghiệp là diện tích đất của KCN đã hoàn chỉnh kết
cấu hạ tầng và đủ điều kiện để cho các nhà đầu tư thuê, thuê lại để thực hiện dự án
đầu tư sản xuất kinh doanh trong KCN.

STN: Diện tích đất tự nhiên là toàn bộ diện tích đất trong hàng rào KCN, bao
gồm cả diện tích đất công nghiệp, diện tích các công trình hạ tầng khác như khu nhà
điều hành, hệ thống đường giao thông, diện tích thảm cỏ cây xanh và các khu phụ
trợ khác.
Nguyễn Hà Việt
Footer Page 23 of 126.


dự án được đầu tư vào từng KCN đồng thời cũng là một tiêu chí so sánh khả năng
thu hút vốn đầu tư vào các KCN với nhau. Chỉ tiêu so sánh này chỉ mang tính tương
đối bởi nếu số dự án đầu tư vào một KCN nhiều nhưng tổng vốn đầu tư thấp thì
cũng chưa phản ánh hết được quy mô của KCN.
Chỉ tiêu tổng vốn đầu tư nhằm xác định tổng lượng vốn mà các nhà đầu tư
đầu tư cho từng KCN đồng thời nó là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thu hút vốn của
từng KCN với nhau. Chỉ tiêu này cũng chưa phản ánh chính xác hiệu quả khai thác
bởi các KCN có diện tích khác nhau, do vậy khi so sánh cần cân nhắc thêm nhiều
yếu tố khác.
Tổng số vốn đăng ký và tỉ lệ vốn đầu tư thực hiện trong tổng số vốn đăng ký
của các doanh nghiệp FDI và trong nước vào KCN; vốn đầu tư bình quân của một
dự án và vốn đầu tư bình quân trên một ha đất.
Công thức tính tỷ lệ vốn đầu tư trên một diện tích đất công nghiệp
Nguyễn Hà Việt
Footer Page 24 of 126.

23

Khóa học 2009


Header Page 25 of 126.
Luận văn Thạc sỹ QTKD

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Tổng vốn đầu tư (triệu USD)
Tỷ lệ vốn đầu tư (triệu USD/ha) =
Tổng diện tích đất CN(ha)
1.3.1.5. Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp.

Footer Page 25 of 126.

24

Khóa học 2009



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status