Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng (MCD)
CẨM NANG
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG CÁCH TIẾP CẬN QUẢN
LÝ TỔNG HỢP VÙNG VEN BIỂN CẤP CƠ SỞ
Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng (MCD)
CẨM NANG
Hướng dẫn sử dụng cách tiếp cận quản lý
tổng hợp vùng ven biển cấp cơ sở
Hà Nội 2011
Danh mục chữ viết tắt
BQL
Ban quản lý
DLST
Du lịch sinh thái
DTSQ
Dự trữ sinh quyển
ĐQL
ICZM
Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng
MPA
Marine Protected Area
NTTS
Nuôi trồng thủy sản
QLTHVB
Quản lý tổng hợp vùng bờ
UNESCO
ổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
UBND
VNICZM
VQG
Ủy ban nhân dân
Dự án Việt Nam – Hà Lan về quản lý tổng hợp vùng bờ
Vườn quốc gia
MỤC LỤC
Danh mục chữ viết tắt
7
7
7
8
9
2.2. Khu bảo vệ Hệ sinh thái biển Rạn Trào - Mô hình quản lý tổng hợp
vùng ven biển cấp cơ sở ở Vịnh Vân Phong, Khánh Hòa.
2.2.1. Giới thiệu
2.2.2. Thông tin chung về dự án
2.2.3. Hoạt động và kết quả chính
2.2.4. Đánh giá
12
12
12
12
14
Phần 3. HƯỚNG DẪN VÀ TRAO ĐỔI VỀ MỘT SỐ CÔNG CỤ QLTHVB CẤP CƠ SỞ
17
3.1. Khu bảo vệ biển do địa phương quản lý (LMMA)
Khái niệm
Mục đích
Nguyên tắc cơ bản
Các bước xây dựng và vận hành LMMA
Mô hình LMMA thực tế tại Việt Nam
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
23
24
Lời nói đầu
Việt Nam với trên 3.260 Km bờ biển có lợi thế rất lớn cho sự phát triển, song cũng đối mặt
với không ít thách thức trong việc quản lý tài nguyên, môi trường vùng ven biển. Hiện nay,
tiếp cận quản lý tổng hợp vùng bờ (QLTHVB) được nhiều quốc gia quan tâm áp dụng, mang
lại hiệu quả cao trong việc quản lý, sử dụng tài nguyên và giải quyết các vấn đề môi trường
nảy sinh ở vùng ven biển.
Tại Việt Nam, QLTHVB đã bắt đầu được áp dụng vào những năm đầu của thế kỷ 21 trong
các dự án như: Dự án VNICZM về QLTHVB Việt Nam, thí điểm tại các tỉnh Nam Định, Thừa
Thiên Huế, và Bà Rịa – Vũng Tàu (2000-2005) và Dự án điểm trình diễn quốc gia về quản lý
tổng hợp vùng bờ tại thành phố Đà Nẵng (2000-2006). Tuy nhiên việc áp dụng cách tiếp cận
quản lý này vẫn còn mới mẻ đối với Việt Nam và phụ thuộc nhiều vào sự hỗ trợ về kỹ thuật
và tài chính từ các nhà tài trợ quốc tế. Do vậy, việc áp dụng QLTHVB với sự tự vận động của
các địa phương còn nhiều vấn đề phải quan tâm.
Với kinh nghiệm trong hoạt động QLTHVB và được sự hỗ trợ của chuyên gia tư vấn, MCD
xây dựng cuốn cẩm nang “Hướng dẫn sử dụng cách tiếp cận quản lý tổng hợp vùng
ven biển cấp địa phương” hướng tới mục tiêu đưa cách tiếp cận QLTHVB đến gần hơn
với các cấp quản lý tại các địa phương ven biển Việt Nam, góp phần hỗ trợ việc triển khai có
hiệu quả Quyết định 158 của Chính phủ nói riêng và phục vụ quản lý tài nguyên môi trường
ven biển Việt Nam nói chung.
Mục đích tài liệu
•
4
Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng
(MCD)
Phần 1. KHÁI NIỆM CHUNG
Việt Nam là một quốc gia ven biển, có đường bờ biển kéo dài trên 3260km từ Bắc tới Nam
(chưa kể bờ biển ở các đảo). Gần một nửa số tỉnh, thành của Việt Nam tiếp giáp với biển
(28 tỉnh thành ven biển) và (ước tính 20 triệu người) sinh sống tại khu vực này . Mặc dù có
nguồn tài nguyên biển và ven biển rất phong phú và tiềm năng phát triển kinh tế biển rất lớn,
Việt nam đang phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng như: suy giảm nguồn
lợi thủy sản, suy thoái tài nguyên, sinh cảnh ven biển, suy giảm chất lượng nước ven bờ.
Bên cạnh đó, thiên tai, bão, lụt, nước biển dâng và biến đổi khí hậu, đã và đang diễn ra ngày
càng gay gắt tại các khu vực ven biển gây thiệt hại nhiều về tài sản và đời sống của người
dân. Khu vực ven biển có tỷ lệ nghèo tương đối cao, đặc biệt ở vùng ven biển miền Trung
và vùng đồng bằng sông Cửu Long nơi có mật độ dân cư tập trung đông đúc. Việc giải quyết
các đồng bộ các vấn đề phức tạp nêu trên đòi hỏi một mô hình quản lý hiệu quả, đặc biệt
cần có sự tham gia và phối hợp giữa các ngành, các cấp, cộng đồng địa phương và các tổ
chức liên quan khác trong xã hội.
Quản lý tổng hợp vùng bờ là cách tiếp cận (phương thức) quản lý tài nguyên nhằm đảm
bảo sử dụng và phát triển bền vững các tài nguyên đó thông qua các giải pháp phù hợp
giải quyết những mâu thuẫn hoặc cạnh tranh. QLTHVB hài hòa các lợi ích sử dụng tài
nguyên và lồng ghép các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường trong quá trình ra quyết định
và thực hiện ở cấp cơ sở (cấp tỉnh và huyện). QLTHVB đặc biệt nhấn mạnh quá trình lập kế
hoạch có sự tham gia của các cấp chính quyền và các bên liên quan tại địa phương.
QLTHVB không thay thế cơ cấu ra quyết định và lâp kế hoạch hiện có (ví dụ quy trình lập kế
hoạch phát triển KTXH), mà hỗ trợ tăng cường thể chế hiện hành tại địa phương thông qua
việc đẩy mạnh sự hợp tác giữa các cấp, ngành và các bên liên quan.
-
Môi trường hỗ trợ (thể chế, pháp luật, chính sách và tài chính v.v.)
-
Nhận thức và năng lực phù hợp để triển khai áp dụng QLTHVB
QLTHVB có thể áp dụng ở tất cả các cấp hành chính khác nhau (trung ương, tỉnh, huyện và
xã), tuy nhiên ở mỗi cấp, chức năng, trách nhiệm và hình thái triển khai sẽ có nhứng điểm
khác nhau.
•
Cấp trung ương: Cung cấp định hướng, chính sách, pháp luật, thể chế, chiến lược và
khung hành động cho QLTHVB và điều phối hoạt động cấp quốc gia.
•
Cấp tỉnh: xây dựng và triển khai chiến lược QLTHVB và kế hoạch hành động cấp
tỉnh, điều phối, tổ chức các hoạt động tăng cường năng lực và hoàn thiện thể chế cấp
tỉnh.
•
Cấp tỉnh, huyện, xã: triển khai QLTHVB tại cấp cơ sở trên thực tế thông qua các hoạt
động, chương trình, các giải pháp lựa chọn; đặc biệt lưu ý sự tham gia của cộng đồng
trong quá trình xác định vấn đề, tìm kiếm giải pháp và ra quyết định, cũng như tham
gia theo dõi và thực hiện các kế hoạch/quy hoạch.
Trong khuôn khổ của tài liệu hướng dẫn này, cách tiếp cận và ứng dụng thực tiễn triển khai
vùng lõi
Vùng chuyển tiếp (54.541 ha) Vùng
chuyển tiếp còn được gọi là vùng phát triển
bền vững, nơi cần sự cộng tác của các nhà
khoa học, nhà quản lý và người dân địa
phương nhằm tạo điều kiện thuận lợi và đẩy
mạnh các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch,
dịch vụ đi đôi với tuyên truyền giáo dục nâng
cao nhận thức cộng đồng.
2.1.2. Thông tin chung về dự án
Mặc dù được UNESCO công nhận danh hiệu Khu DTSQ thế giới từ năm 2004, song do
tính đặc thù liên tỉnh, nên việc chia sẻ, phân định trách nhiệm trong quản lý Khu DTSQ
châu thổ sông Hồng chưa được thống nhất và rõ ràng đối với 03 tỉnh liên quan cũng
như chưa lồng ghép được vào hệ thống quản lý Nhà nước của từng tỉnh. Do đó, một
nhu cầu cấp thiết được đặt ra là cần phải hài hòa hai hệ thống quản lý trên cơ sở đánh
giá những thiếu sót, chồng chéo và đưa ra những đề xuất ưu tiên cụ thể, cho phép kết
hợp hữu hiệu hoạt động quản lý nhà nước của các tỉnh và các ban ngành chức năng
của từng tỉnh cho một Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Trong khuôn khổ Dự án “Hỗ trợ
CẨM NANG
Hướng dẫn sử dụng cách tiếp cận quản lý tổng hợp vùng ven biển cấp cơ sở
7
cộng đồng nghèo ven biển Việt Nam tạo dựng sinh kế bền vững và bảo vệ môi trường”
do Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng (MCD) triển khai trong 04
năm (2008 - 2011), Khu DTSQ châu thổ sông Hồng đã được xác định là vùng dự án
trọng điểm và được hỗ trợ tích cực nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo
động phối hợp liên tỉnh Khu DTSQSH đã
được triển khai với sự hỗ trợ đắc lực của
Ban cố vấn và Ban thư ký, như tiếp tục các
hoạt động tuyên truyền về Khu DTSQSH;
tập huấn quản lý bền vững Khu DTSQSH.
Năm 2009, một đánh giá nhanh hiện trạng
quản lý vùng lõi Khu DTSQSH đã được
MCD phối hợp với các thành viên trong
Ban thư ký thực hiện với sự hỗ trợ cung
cấp thông tin của người dân và cán bộ
Thi tìm hiểu nguồn lợi biển tại xã Giao
các xã trong vùng lõi Khu DTSQSH. Bên
Xuân, Nam Định
cạnh đó, hiện trạng sử dụng tài nguyên
của người dân hai xã Giao Xuân và Nam Phú trong vùng lõi Khu DTSQSH cũng đã
được đánh giá và tổng hợp thành hai báo cáo. Những tài liệu này được sử dụng để
8
Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng
(MCD)
trao đổi, chia sẻ với chính quyền cũng như khối doanh nghiệp ở địa phương về những
khó khăn, thách thức trong phát triển sinh kế mà người dân đang gặp phải, đồng thời
đề xuất những biện pháp giải quyết khả thi.
Giữa năm 2010 để thu thập các thông tin đầu vào cần thiết cho kế hoạch hoạt động dài
hạn của Ban quản lý Khu DTSQSH, một đợt điều tra khảo sát nhận thức và nhu cầu
quản lý Khu DTSQSH đã được triển khai đồng bộ ở cả 03 tỉnh trong Khu DTSQ SH
với sự điều phối và phối hợp rất hiệu quả của các cơ quan/đơn vị thành viên trong Ban
Trưởng ban và Phó trưởng ban quản lý do ba Phó chủ tịch của ba tỉnh đảm nhận, chịu
trách nhiệm chỉ đạo và điều phối các hoạt động quản lý Khu DTSQ SH.
Ban thư ký bao gồm hai Ban quản lý Khu bảo vệ trong vùng lõi Khu DTSQ SH (VQG
Xuân Thủy và KBTTN Tiền Hải) và ba cơ quan đầu mối phối hợp ở cấp tỉnh là Sở Tài
nguyên Môi trường của ba tỉnh. Ban thư ký có trách nhiệm hỗ trợ cấp lãnh đạo của
Ban quản lý trong việc điều phối, tổ chức thực hiện các hoạt động liên quan đến Khu
DTSQ SH. Tại mỗi tỉnh, với vai trò là đầu mối cấp tỉnh, các Sở Tài nguyên Môi trường
ba tỉnh vừa có trách nhiệm tham gia lập kế hoạch hoạt động chung của Khu DTSQ,
vừa chịu trách nhiệm điều phối, huy động sự tham gia của các cơ quan, ban ngành
trong tỉnh trong việc tổ chức và triển khai các kế hoạch. Bên cạnh việc cùng phối
hợp triển khai các hoạt động trong vùng lõi Khu DTSQ SH với BQL KBTTN Tiền Hải
CẨM NANG
Hướng dẫn sử dụng cách tiếp cận quản lý tổng hợp vùng ven biển cấp cơ sở
9
thì BQL VQG Xuân Thủy còn giữ vị trí Trưởng ban Ban thư ký, có trách nhiệm cung
cấp thông tin và đề xuất kế hoạch điều phối hoạt động với các cơ quan đầu mối cấp
tỉnh.
Ban cố vấn hiện nay tạm thời gồm có 05 tổ chức là UBQG UNESCO Việt Nam, UBQG
Con người và Sinh quyển (MAB Việt Nam), Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát
triển Cộng đồng (MCD), Trung tâm Nghiên cứu và Giáo dục Môi trường, Viện Môi
trường và Phát triển Bền vững và một số nhà khoa học khác; có trách nhiệm hỗ trợ,
tư vấn chuyên môn cho cấp lãnh đạo Ban quản lý cũng như phối hợp với Ban thư ký
triển khai các hoạt động của Khu DTSQ. Đồng thời Ban cố vấn còn tham gia tìm kiếm
và kết nối các nguồn tài trợ trong và ngoài nước để hỗ trợ cho hoạt động của Khu
DTSQ SH.
•
hỗ trợ triển khai của Trung tâm MCD…
10
Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng
(MCD)
•
Hạn chế và nguyên nhân
Tính pháp lý: Cho đến nay Việt Nam đã có 8 Khu dự trữ sinh quyển thế giới được
UNESCO công nhận nhưng vẫn chưa có các hướng dẫn, quy định chính thức bằng văn
bản pháp luật của Chính phủ về việc quản lý và phát triển những danh hiệu quốc tế này.
Việc tổ chức, sắp xếp bộ máy quản lý tại các Khu DTSQ thế giới tại Việt Nam hiện nay
hoàn toàn do các địa phương tự lựa chọn, phụ thuộc vào nguồn lực có sẵn của từng nơi.
Đối với Khu DTSQ SH, mặc dù bộ máy quản lý đã được hình thành và đi vào hoạt động,
nhưng chính thức thì chưa có bất kỳ sự thỏa thuận, thống nhất nào bằng văn bản pháp
luật của UBND 3 tỉnh về việc đồng quản lý Khu DTSQ SH. Chỉ riêng có UBND tỉnh Nam
Định là đã có công văn chính thức cử 1 Phó chủ tịch UBND tỉnh tham gia Ban quản lý
Khu DTSQ SH (Công văn 135/UBND-VP3 ngày 03 tháng 09 năm 2008) theo đề xuất của
Ủy ban UNESCO Việt Nam (Công văn 297/BTK/UNESCO ngày 26 tháng 08 năm 2008).
Hơn nữa tại mỗi tỉnh, cũng chưa có bất kỳ văn bản chỉ đạo nào của UBND tỉnh quyết định
về việc chỉ đạo các cơ quan liên quan tham gia bộ máy quản lý Khu DTSQ SH. Do vậy,
hầu hết những hoạt động liên quan đến Khu DTSQ SH có sự tham gia đầy đủ của cả 03
tỉnh, cũng như những ban ngành liên quan, đều dựa vào sự chủ động, tự giác của các
địa phương. Chính vì vậy, cơ chế điều phối liên tỉnh, liên ngành còn chưa đạt được hiệu
quả như mong muốn và chưa đảm bảo tính bền vững lâu dài.
Tài chính bền vững: Mặc dù Ban quản lý Khu DTSQ SH đã rất linh hoạt trong việc huy
động mọi nguồn lực cả bên trong lẫn bên ngoài để triển khai các hoạt động, song những
quyết để tạo cơ sở và môi trường thuận lợi cho các cơ quan ban ngành trong tỉnh tham
gia tổ chức triển khai hoạt động, cũng như cho các tổ chức bên ngoài đóng góp hỗ trợ
chuyên môn, tài chính.
Hạt nhân địa phương: Để có thể triển khai hiệu quả cách tiếp cận quản lý tổng hợp trong
quản lý tài nguyên thiên nhiên, luôn cần những nhân tố địa phương có năng lực để thúc
đẩy và chủ động triển khai những sáng kiến, hành động cụ thể. Tỉnh Nam Định là địa
phương đã có nhiều kinh nghiệm trong việc áp dụng quản lý tổng hợp vùng ven biển với
việc tham gia triển khai Dự án “Quản lý Tổng hợp dải ven bờ Việt Nam- Hà Lan (VNICZM)”, 2001 - 2006. Những thành quả có được từ Dự án này đã tạo lợi thế về chuyên môn
cũng như nhân lực để các bên thống nhất đề xuất Nam Định giữ vai trò chính trong Ban
quản lý Khu DTSQ SH và là hạt nhân địa phương trong công tác đồng quản lý Khu DTSQ
SH. Đây chính là yếu tố rất quan trọng, đảm bảo triển khai hiệu quả các hoạt động quản
lý Khu DTSQ SH trong thời gian qua.
2.2. Khu bảo vệ Hệ sinh thái biển Rạn Trào - Mô hình quản lý tổng hợp vùng ven biển
cấp cơ sở ở Vịnh Vân Phong, Khánh Hòa.
2.2.1. Giới thiệu
Rạn Trào là một rạn san hô gần bờ thuộc vịnh Vân Phong, tỉnh Khánh Hoà. Rạn có diện tích
khoảng 28 ha và nằm cách bờ biển (điểm gần bờ nhất) khoảng 1 km. Mặc dù chiếm một diện
tích tương đối nhỏ so với vịnh Vân Phong, song Rạn Trào lại có hệ động thực vật phong phú,
đa dạng và độ phủ san hô khá cao với chất lượng san hô tương đối tốt so với các rạn khác
trong toàn bộ Vịnh. Số loài thủy sinh phát hiện ở khu vực rạn chiếm trên 50% tổng số loài ở
vịnh Vân Phong; cụ thể: san hô chiếm 64%, cá rạn - 69%, cỏ biển - 75%. Các nghiên cứu cho
thấy, đa dạng sinh học tại đây khá cao với khoảng 145 loài thực vật phù du, 115 loài động vật
phù du, 190 loài động vật đáy mềm, 5 loài cây ngập mặn, 6 loài cỏ biển, đặc biệt là 82 loài
san hô và 69 loài cá cùng với 25 loài động vật không xương sống trú ngụ và kiếm ăn trong
khu vực rạn san hô. Những kết quả khảo sát, điều tra năm 2000 cho thấy, có tới hơn 70% hộ
gia đình trong xã Vạn Hưng tham gia đánh bắt hải sản ven bờ; nguồn tài nguyên sinh vật biển
12
án này kết thúc vào năm 2004, chính quyền và người dân địa phương vẫn tiếp tục duy trì và
giữ vững những thành quả của dự án bằng chính nguồn lực của địa phương; tuy nhiên vẫn
còn gặp nhiều khó khăn. Trên cơ sở đề xuất của địa phương, tổ chức MCD đã tìm kiếm và
kết nối với một số dự án khác để hỗ trợ địa phương tiếp tục thực hiện mục tiêu quản lý bảo
vệ nguồn lợi thủy sản và rạn san hô.
Khu bảo vệ Rạn Trào nằm trong khu vực biển thuộc xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh, tỉnh
Khánh Hòa. Tổng diện tích được khoanh vùng bảo vệ là 89 ha, trong đó vùng lõi bảo vệ
nghiêm ngặt có diện tích 54 ha. Khu bảo vệ (KBV) được quản lý bởi chính người dân địa
phương với sự ủng hộ của các cấp chính quyền, các cơ quan khoa học. Trực tiếp bảo vệ
KBV là các thành viên cộng đồng, do chính cộng đồng bầu chọn.
2.2.3. Hoạt động và kết quả chính
Quá trình hình thành và phát triển KBV Rạn Trào có thể được chia thành 03 giai đoạn
chính như sau:
Giai đoạn chuẩn bị (2000-2001)
Mục tiêu của giai đoạn này là xác định nhu cầu, xây dựng dự án và cơ chế triển khai.
Trước khi chính thức triển khai dự án, Ban Quản lý và Tổ thực hiện Dự án đã được thành
lập gồm các thành viên là cán bộ và người dân của huyện và xã tại địa phương. Sau này,
CẨM NANG
Hướng dẫn sử dụng cách tiếp cận quản lý tổng hợp vùng ven biển cấp cơ sở
13
các hoạt động dự án đều được thực hiện thông qua sự điều phối của Ban Quản lý và trực
tiếp tham gia Tổ thực hiện.
Trên cơ sở những ý tưởng đề xuất của cộng đồng và chính quyền địa phương cũng như
những góp ý của các cơ quan chức năng có liên quan, UBND huyện Vạn Ninh đã cùng
với MCD (khi đó là IMA Việt Nam) phối hợp hoàn thành bản đề xuất dự án có tên gọi là
“Khu bảo tồn biển Rạn Trào do địa phương quản lý” và đệ trình lên UBND tỉnh Khánh
để giữ vai trò thúc đẩy, hợp tác. Tháng
02/2004 Khu bảo vệ biển Rạn Trào
đã được chính thức bàn giao cho Ban
quản lý KBV Rạn Trào và công tác quản
lý hoàn toàn dựa vào nội lực của địa
phương. Mặc dù sau đó việc triển khai
các hoạt động trở nên ít thường xuyên
hơn, song sự cam kết của cộng đồng và
chính quyền địa phương đã giúp duy trì
Khu bảo vệ Rạn Trào. Sự thích ứng của
14
Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng
(MCD)
Học sinh tìm hiểu về Khu bảo vệ rạn Trào
địa phương với bối cảnh mới được thể hiện qua hành động cụ thể của chính quyền huyện
và BQL Rạn Trào trong việc điều phối cộng đồng địa phương và các nhóm nòng cốt cộng
đồng. Một phần ngân sách hoạt động hàng năm của UBND huyện (khoảng 30 triệu đồng)
đã được huy động để hỗ trợ chi phí xăng dầu và tu sửa thuyền tuần tra cho Nhóm hạt nhân
thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Rạn Trào. Sau này UBND xã cũng đã tham gia đóng góp thêm
một phần kinh phí hỗ trợ cho một thành viên bổ sung của Nhóm hạt nhân.
Giai đoạn quản lý thích ứng (2006 đến nay)
Mục tiêu của giai đoạn này là lồng ghép hoạt động quản lý Rạn Trào vào kế hoạch hoạt
động của chính quyền địa phương.
Tháng 10/2009 một buổi lễ công bố Kế hoạch quản lý KBVHST biển Rạn Trào đã được
tổ chức nhằm thông báo chính thức quyết định phê duyệt KHQL KBVHST biển Rạn Trào
được thành lập và hoạt động trong suốt chín năm qua, được củng cố, kiện toàn trong
một số thời kỳ. Cơ chế điều phối, hợp tác với các cơ quan hữu quan từ cấp tỉnh đến cấp
huyện, xã cũng như với các địa phương khác được xây dựng và triển khai, là nền tảng
căn bản để vận hành và duy trì Khu bảo vệ Rạn Trào cho đến nay.
•
Về nghiên cứu
Kể từ khi được thành lập và vận hành cho đến nay, Khu bảo vệ Hệ sinh thái biển Rạn
Trào đã trở thành một địa điểm được nhiều nhà nghiên cứu, sinh viên (cả đại học và cao
CẨM NANG
Hướng dẫn sử dụng cách tiếp cận quản lý tổng hợp vùng ven biển cấp cơ sở
15
học), các cơ quan, tổ chức quan tâm. Đã có khoảng 14 nghiên cứu được triển khai ở đây,
trong đó có 05 nghiên cứu cấp thạc sỹ và 01 nghiên cứu cấp tiến sỹ. Từ những kết quả
nghiên cứu và đánh giá này, cơ sở dữ liệu cho KBV Rạn Trào cũng đã được xây dựng
(như danh lục các loài thủy sinh, hồ sơ cộng đồng…), qua đó đóng góp tích cực vào công
tác quản lý tài nguyên ven bờ của huyện Vạn Ninh.
Hình 1. Hành động được người dân thực thi khi phát hiện có xâm phạm KBV Rạn Trào
•
Về tăng cường năng lực
Đã có khoảng 35 lớp tập huấn, đào tạo được tổ chức với sự tham gia của khoảng 796
lượt người, gồm các cán bộ và người dân địa phương về các kiến thức, kỹ năng liên
đạo đứng đầu ở cấp huyện, cấp xã. Mặc dù về cơ bản thành phần và lực lượng nhân sự
trong cơ cấu quản lý, tổ chức vẫn được duy trì, sự thay đổi này đã dẫn đến việc kế thừa
không đầy đủ những sáng kiến của toàn bộ quá trình và đã gây ảnh hưởng nhất định đến
thành quả của dự án.
Hệ thống cơ sở dữ liệu: mặc dù đã có khá nhiều hoạt động điều tra, đánh giá và nghiên
cứu trong khu vực, song những dữ liệu, thông tin thu thập được chưa được lưu giữ một
cách có hệ thống. Nguyên nhân là trong cơ cấu quản lý Khu bảo vệ chưa có bộ phận
chuyên trách đảm nhiệm việc thu thập và lưu giữ thông tin, bên cạnh đó các hoạt động
quản lý chỉ chú trọng vào việc triển khai trên thực địa mà chưa quan tâm đến các thông
tin, số liệu khoa học.
Tổ chức điều phối giữa các cơ quan chức năng: với vai trò lãnh đạo trong Ban quản lý
KBV Rạn Trào, UBND huyện Vạn Ninh là đơn vị chủ trì điều phối chính. Tuy nhiên, do
nhận thức và năng lực về QLTHVVB của các cơ quan và các bên liên quan từ cấp tỉnh
đến huyện, xã còn chưa đầy đủ, nên công tác điều phối gặp nhiều khó khăn dẫn đến sự
hạn chế trong khả năng tiếp cận đến các nguồn hỗ trợ từ cấp tỉnh và trong việc lồng ghép
các hoạt động quản lý KBV vào hoạt động quản lý chung của địa phương.
•
Một số bài học kinh nghiệm
Các hạt nhân địa phương: Đây là một trong những yếu tố then chốt để triển khai QLTHVVB. Thông qua mô hình KBV Rạn Trào, các hạt nhân địa phương đã được lựa chọn
và tạo thành mạng lưới hạt nhân địa phương. Đó chính là các cán bộ các cấp và người
dân, có quan tâm đặc biệt trong việc giải quyết các vấn đề của vùng ven biển. Ở cấp tỉnh,
sự ủng hộ của lãnh đạo Sở NN&PTNT và Sở TN&MT là vô cùng quan trọng để thuyết
phục các ban ngành chức năng khác cũng như chính quyền cấp tỉnh có những hỗ trợ về
nguồn lực và chỉ đạo kịp thời cấp cơ sở. Ở cấp huyện, cấp xã những cán bộ, người dân
có năng lực đều đã được huy động tham gia vào cơ cấu quản lý của KBV HST biển Rạn
Trào như Ban quản lý, các nhóm nòng cốt cộng đồng, và chính họ đã góp phần quyết
định sự thành công của mô hình quản lý này. Tuy nhiên điều quan trọng là cần phải duy
trì và tiếp tục phát triển các hạt nhân địa phương, giữ vững các thành quả đạt được và
vươn tới những thành công mới.
tìm kiếm và kết nối các dự án khác, hỗ trợ địa phương triển khai tiếp các hoạt động nhằm
củng cố và hoàn thiện mô hình đã xây dựng.
Phần 3. HƯỚNG DẪN VÀ TRAO ĐỔI VỀ MỘT SỐ CÔNG CỤ
QLTHVB CẤP CƠ SỞ
Như đã mô tả trong phần giới thiệu, QLTHVB có thể bao gồm các cách thức khác nhau và
áp dụng tại các khu vực khác nhau. QLTHVB cấp cơ sở có thể sử dụng một số công cụ đạt
được hiệu quả và muc tiêu, trong khuôn khổ của tài liệu này MCD sẽ giới thiệu các công cụ
mang tính thực tiễn và áp dụng cấp cơ sở/địa phương tại các địa bàn dự án bao gồm: Khu
bảo vệ biển do địa phương quản lý (LMMA), đồng quản lý nguồn lợi thủy sản quy mô nhỏ,
lồng ghép giới trong quản lý tài nguyên vùng bờ
3.1. Khu bảo vệ biển do địa phương quản lý (LMMA)
Khái niệm:
Khu bảo vệ biển do địa phương quản lý (LMMA – viết tắt từ tiếng Anh: Locally-Managed
Marine Area) là những vùng biển gần bờ nơi mà cộng đồng địa phương và những người
sử dụng nguồn tài nguyên tại đây đóng vai trò chủ chốt trong việc quản lý.
Mục đích:
LMMA được xây dựng nhằm mục đích quản lý hiệu quả các nguồn tài nguyên biển và đạt
được các mục tiêu phát triển bền vững của địa phương.
LMMA khác biệt với Khu bảo tồn biển cấp quốc gia (MPA) ở những điểm cơ bản sau:
Điểm khác nhau
18
LMMA
MPA
1. Mục tiêu
Chính phủ phê duyệt,
(2) Quy hoạch cấp tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương, do
Hội đồng nhân dân cùng cấp phê
duyệt
(3) Quy hoạch của Bộ, cơ quan
ngang bộ do Bộ, cơ quan ngang
bộ phê duyệt
4. Thành lập
LMMA là do cấp địa phương, có
thể cấp tỉnh hoặc huyện quyết
định lựa chọn và không phải qua
các thủ tục về đầu tư, lập dự án
MPA được xem như là một dự án
đầu tư và phải qua cả một quá
trình, thủ tục đầu tư
Theo hướng từ dưới lên, có sự
5. Phương thức tự nguyện tham gia quản lý của
quản lý
cộng đồng, các tổ chức kinh tế,
xã hội.
Theo hướng từ trên xuống, ít có
sự tham gia của cộng đồng và các
tổ chức xã hội khác.
Bước 2. Tổ chức
-
Hoàn thiện tính pháp lý LMMA: xây dựng Hồ sơ kỹ thuật và trình cấp có thẩm quyền
phê duyệt (thường là cấp tỉnh hoặc cấp huyện).
-
Truyền thông rộng rãi về sự ra đời của LMMA với đông đảo cộng đồng
-
Xây dựng kế hoạch quản lý của LMMA, lồng ghép với kế hoạch hoạt động của địa
phương
CẨM NANG
Hướng dẫn sử dụng cách tiếp cận quản lý tổng hợp vùng ven biển cấp cơ sở
19
Bước 3. Vận hành
Triển khai các hoạt động trong kế hoạch quản lý LMMA, thường bao gồm các nhóm
hoạt động chính:
+ Tuyên truyền bảo vệ môi trường
+ Hỗ trợ các sinh kế thân thiên môi trường
+ Tuần tra, giám sát nguồn lợi
+ Kết nối mạng lưới
Bước 4. Thích ứng
qua hoạt động bảo vệ và kiểm soát
khai thác.
-
Hệ sinh thái rạn san hô, thuộc xã Nhơn Hải,Tp. Quy NHơn, Bình Định. Mục tiêu,
Phát triển bền vững, thông qua các hoạt động bảo vệ nguồn lợi và kiểm soát khai
thác hải sản.
-
Hệ đầm phá thuộc xã Quảng Lợi, Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Mục đích phát triển
bền vững thông qua các hoạt động bảo vệ nguồn lợi và kiểm soát khai thác thủy sản
-
Hệ sinh thái vùng triều thuộc xã Đại Bình, Đầm Hà Quảng Ninh. Mục tiêu, bảo vệ và
phát triển nguồn lợi thủy sản ở Chương Cả.
MCD cũng đã hỗ trợ xây dựng và vận hành một khu LMMA tại Khánh Hòa từ 10 năm nay,
đó là Khu bảo vệ hệ sinh thái biển Rạn Trào, xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh. Tham khảo
thông tin chi tiết về mô hình LMMA này trong phần 2.2 ở trên.
Ngoài các khu vực trên, một số khu vực khác cũng đã và đang được thiết lập, như: Phù
20
Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng
(MCD)
độ sự tham gia của mỗi bên.
-
ĐQL không phải là phương thức duy nhất giải quyết mọi vấn đề trong quản lý nghề
cá, mà nên xem đó là một trong các phương thức thay thế, phù hợp cho mỗi vùng với
các điều kiện nhất định.
Các bước để xây dựng mô hình ĐQL tại Việt Nam:
Bước 1: Bước khởi động (tiền thực hiện)
-
Khảo sát hiện trạng quản lý và nguồn lợi
-
Tìm kiếm sự đồng thuận
CẨM NANG
Hướng dẫn sử dụng cách tiếp cận quản lý tổng hợp vùng ven biển cấp cơ sở
21
Bước 2: Triển khai
o Hòa nhập và xây dựng hồ sơ cộng đồng
o Nâng cao nhận thức, năng lực người dân
o Tổ chức cộng đồng
o Lập kế hoạch ĐQL
o Thực hiện kế hoạch đồng quản lý
Tổ chức cộng đồng, thành lập ban ĐQL và kế hoạch hoạt động: Tổ hạt nhân gồm 04
thành viên đã được thành lập và có quy chế hoạt động dưới dạng tổ hợp tác NTTS
theo quyết định của UBND xã. Ban ĐQL gồm các thành viên chính quyền huyện, xã
và cộng đồng được thành lập, tạo ra cơ chế kết nối thông tin giữa các cấp.
-
Triển khai thực hiện kế hoạch ĐQL được lồng ghép chặt chẽ với hoạt động truyền
thông vận động sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan. Tại Giao Xuân, một
quy ước cộng đồng đã được xây dưng và được tuyên truyền thực hiện rất tốt trong
đông đảo cộng đồng nghề cá thông qua các chiến dịch truyền thông và hoạt động
cộng đồng.
Những vấn đề cần lưu ý khi áp dụng thực tiễn
ĐQL là một quá trình đòi hỏi nhiều thời gian và hoạt động, phụ thuộc nhiều vào điều kiện
về kinh tế xã hội, nhận thức cộng đồng, chính quyền, phong tục và năng lực cán bộ tổ
chức cộng đồng,… Vì vậy, để đạt được hiệu quả cao trong quán lý và huy động sự đồng
thuận, hợp tác, tham gia của các bên, cần quan tâm đến một số yếu tố sau:
-
22
Sự hỗ trợ kỹ thuật, tập huấn nâng cao nhận thức và tổ chức cộng đồng ngay từ đầu.
Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng
(MCD)
-
các đặc điểm giới khác nhau. Bởi vậy,
các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể
thay đổi được.
Giới tính: Là sự khác biệt về mặt sinh học
giữa nam giới và phụ nữ. Giới tính là những
đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta sinh
ra đã có và không thể thay đổi được.
Nguyên tắc:
-
Bình đẳng giới: Nam giới và phụ nữ đều có vị trí bình đẳng trong xã hội và cơ hội phát
triển công bằng cho cả phụ nữ và nam giới.
-
Công bằng giới: Xem xét các nhu cầu, cơ hội và lợi ích khác nhau cho cả nam giới và
phụ nữ nhằm giải quyết mất cân bằng giới.
Lồng ghép giới trong bối cảnh quản lý tổng hợp vùng bờ:
Tại khu vực ven biển, phụ nữ chiếm khoảng hơn 50 % dân số và tham gia các hoạt động
sản xuất, NTTS, chế biến thực phẩm và các dịch vụ (du lịch) và buôn bán nhỏ. Phụ nữ
và nam giới là các đối tượng sử dụng nguồn tài nguyên ven biển cho các hoạt động sinh
kế (khai thác cá và NTTS, các hoạt động du lịch tại các khu vực gần bờ, vùng bãi triều,
đầm phá ...) và các hoạt động quản lý tài nguyên vùng bờ. Họ là đối tượng tác động và
chịu sự tác động từ các thay đổi môi trường và nguồn lợi ven bờ trong mối quan hệ với
các hệ sinh thái biển và ven biển.
Lồng ghép giới trong QLTHVB nhằm mục tiêu thúc đẩy các cơ hội công bằng cho cả nam
giới và phụ nữ với tư cách là những người tham gia quyết định và thụ hưởng các lợi ích
mà vùng bờ mang lại. Những vấn đề mà phụ nữ quan tâm cũng như kinh nghiệm của họ
phải được xem xét song song với các vấn đề và kinh nghiệm của nam giới trong các hoạt
hoạt động cộng đồng.
2. Hỗ trợ các sáng kiến của phụ nữ trong các hoạt động nâng cao nhận thức cộng đồng
và tuyên truyền bảo vệ nguồn lợi tại khu bảo vệ hệ sinh thái Rạn Trào, Khánh Hòa
(các chiến dịch cộng đồng làm sạch biển, tổ chức cuộc thi tìm hiểu quy chế Rạn Trào,
tham quan học tập và thuyết minh mô hình KBVST Rạn Trào).
3. Xây dựng kỹ năng lãnh đạo của
phụ nữ trong hoạt động phát triển
sinh kế bền vững thông qua mô
hình phát triển DLST tại VQG Xuân
Thủy, Nam Định, KBT Tiền Hải (Khu
Dự trữ sinh quyển sông Hồng)
4. Tăng cường sự tham gia của phụ
nữ trong quản lý tài nguyên, nâng
cao năng lực phát triển NTTS bền
vững tại các vùng ven biển và đa
dạng hóa sinh kế hộ gia đình.
Chị em làm Du lịch sinh thái tại xã Giao Xuân,
Nam Định
Những vấn đề cần lưu ý khi áp dụng thực tiễn
24
•
Cần thiết xem xét các yếu tố văn hóa và xã hội liên quan đến quan hệ giới trong gia
đình và cộng đồng tại địa phương.
•