GVHD: Ths Nguyễn Thị Phương Khanh
SV: Nguyễn Thị Bích Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, nhu cầu về nấm ăn và nấm dược liệu trên thế giới là rất lớn,
có thể xem nấm ăn là một loại “rau sạch”, “thịt sạch”. Còn nấm dược liệu được
nghiên cứu và sử dụng như biệt dược mang lại khả năng phòng và chữa
nhiều loại bệnh như bệnh tăng huyết áp, chống béo phì, chữa bệnh đường
ruột,… có nhiều nghiên cứu về y học xem nấm Linh chi như một loại thuốc có
khả năng chống ung thư [18].
Vấn đề nghiên cứu và sản xuất nấm trên thế giới ngày càng được phát
triển mạnh mẽ, ở nhiều nước phát triển như Hà Lan, Pháp, Ý, Nhật Bản, Mỹ,
… nghề trồng nấm được cơ giới hóa cao toàn bộ các khâu sản xuất từ xử lý
nguyên liệu đến thu hái và chế biến đều do máy thực hiện [18].
Trong số hơn 2000 loài nấm đã được biết đến trên thế giới có khoảng
trên 300 loài được sử dụng để làm dược liệu [1]. Nấm dược liệu được biết
đến và được nghiên cứu nhiều nhất có thể nhắc đến nấm Linh chi tên khoa
học là Ganoderma lucidum. Trong nhiều sách dược thảo của nhiều triều đại ở
Trung Quốc đều có ghi nhận về công dụng làm thuốc của nấm Linh chi [6].
Một số dược tính của Linh chi có tác dụng nâng cao hệ miễn dịch của cơ thể,
có ảnh hưởng nhất định đối với hệ thần kinh trung ương, hệ hô hấp, tim mạch,
tiêu hóa và hệ bài tiết, giúp giải cảm, giải độc cho cơ thể và còn giúp tăng tuổi
thọ [1] [6]. Với những công dụng đó nấm Linh chi đã trở thành một loại dược
liệu đa chức năng, đáp ứng được nhu cầu của nhiều đối tượng khác nhau, rất
có tiềm năng tiêu thụ và hứa hẹn mang lại lợi ích kinh tế cao.
Việt Nam là một nước nông nghiệp với nguồn phụ phế phẩm giàu chất
xơ (cellulose) và chất gỗ (lignin) [1]. Với những nguồn nguyên liệu trồng nấm
đa dạng lại giàu cellulose như rơm rạ, mùn cưa của các loại gỗ mềm không có
tinh dầu và độc tố, bã mía, các thân cây gỗ, cây thuốc họ thân thảo,…[6]
Tuy nguồn nguyên liệu đa dạng nhưng trước giờ người dân thường trồng Linh
2
GVHD: Ths Nguyễn Thị Phương Khanh
SV: Nguyễn Thị Bích Trang
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Giới thiệu về nấm Linh chi
1.1.1 Vị trí phân loại [1]
Nấm Linh chi thuộc họ nấm lim, còn có tên gọi khác như Thần Tiên thảo, Nấm
trường thọ, Vạn niên nhung, nấm Lim,…
Nấm Linh chi có vị trí phân loại:
Giới:
Mycota hay Fungi
Ngành:
Eumycota
Ngành phụ:
Basidiomycotina
Lớp:
Hymenomycetes
SV: Nguyễn Thị Bích Trang
Có tên khoa học là Ganoderma applanatum (Pers) Past, còn gọi là Linh
chi đa niên nhiều tầng. Là các loài nấm gỗ không cuống hoặc có cuống rất
ngắn.Có nhiều tầng hằng năm thụ tầng lại phát triển thêm một lớp mới chồng
lên lớp cũ. Mũ nấm có hình quạt, màu từ nâu nhạt đến đen sẫm, mặt trên sần
sùi và thô ráp, rất cứng.
Hình 1.1 Cổ linh chi [22]
Cổ Linh chi mọc hoang từ đồng bằng đến miền núi ở khắp nơi trên thế
giới. Trong rừng rậm, độ ẩm cao, cây to thì chúng phát triển mạnh. Có đến
hàng chục loài khác nhau [20].
Hình 1.2 Nấm Linh
chi
1.1.2.2 Linh chi
Có tên khoa học là Ganoderma lucidum (Leyss ex Fr) Kart, Linh Chi có
rất nhiều loài khác nhau. Linh chi là loại nấm gỗ hằng năm mọc hoang ở
4
GVHD: Ths Nguyễn Thị Phương Khanh
SV: Nguyễn Thị Bích Trang
những vùng núi cao . Quả thể nấm Linh chi gồm hai phần cuống nấm và mũ
nấm. Cuống nấm có thể dài hoặc ngắn, ít phân nhánh, có khi uốn khúc, cong,
cuống có màu (mỗi loài đều màu riêng như nâu, đỏ vàng, đỏ cam,…). Mũ
nấm có nhiều hình dạng, phổ biến là hình quạt, hình tròn, mặt trên trơn, bóng.
Phần dưới mũ nấm là thụ tầng, thụ tầng màu trắng ngà hoặc màu vàng. Nấm
SV: Nguyễn Thị Bích Trang
Hình 1.4 Quả thể linh chi
cắt đôi [23]
1.1.3.1 Hình dạng màu sắc quả thể
Nấm Linh chi có chung một đặc điểm là quả thể nấm sẽ hoá gỗ theo
thời gian [7]. Quả thể gồm 2 phần chính là: cuống nấm và mũ nấm.
- Cuống nấm hình trụ, có đường kính với kích cỡ khác nhau, từ 0,3 2,0 cm có thể lên đến 3,5 cm, ít phân nhánh, dài từ 2 - 22 cm, đôi khi uốn
khúc, cong, chiều dài và kích thước tùy thuộc vào điều kiện sống mà hình
thành, đầu cuống lệch một bên mũ nấm, hoặc đôi khi nằm giữa trung tâm mũ
nấm. Lớp vỏ bao ngoài cuống trơn láng màu đỏ, nâu đỏ hoặc nâu đen, bóng,
không có lông, phủ suốt lên bề mặt tán nấm [6].
- Mũ nấm non có dạng hình trứng gần tròn, khi trưởng thành xòe ra tạo
hình quạt hoặc dị dạng tạo thành nhiều kiểu dáng khác nhau. Trên bề mặt mũ
nấm có các vân gạch đồng tâm, lượn sóng và vân tán xạ màu sắc tăng cấp từ
ngoài vào trong theo sự phát triển của quả thể, từ vàng nhạt như vỏ chanh
sang vàng đậm như nghệ, đến vàng nâu, vàng cam rồi đỏ nâu sau cùng là
màu nâu sậm nhẵn và bóng như tráng qua một lớp vecni. Khi nấm trưởng
thành có màu sẫm, toàn bộ mũ nấm có màu nâu đen, khi nấm phun bào tử bề
mặt mũ nấm được bám một lớp bào tử dày, mịn như bột phấn màu nâu. Kích
thước mũ nấm dao động từ 5 đến 20 cm, dày mỏng không đồng nhất từ 0,8
đến 3,3 cm. Phần mũ nấm dính với cuống có thể nhô lên hoặc lõm xuống [6].
- Thụ tầng còn gọi là tầng sinh sản, nằm bên dưới mũ nấm, có màu
trắng, kem, hoặc màu nâu nhạt. Là một lớp ống dày từ 0,2 đến 1,8 cm, trông
7
GVHD: Ths Nguyễn Thị Phương Khanh
-
SV: Nguyễn Thị Bích Trang
Sợi nấm cấp 2 (thứ sinh): sợi nấm cấp 2 hình thành do sự phối trộn nguyên
sinh chất (chất phối – plasmogamy) giữa hai sợi nấm cấp 1 khác dấu. Tuy
nhiên 2 nhân lúc này vẫn đứng riêng nên tế bào lúc này có 2 nhân do vậy
người ta gọi sợi nấm này là sợi nấm song nhân (dicaryolic hyphae). Quá trình
phối trộn nguyên sinh chất này xảy ra khá sớm nên ở Linh chi hay ngành phụ
Nấm đảm nói chung thì sợi nấm song nhân là hình thái chủ yếu của sợi nấm.
- Sợi nấm cấp 3 (tam sinh): hình thành bởi sự phát triển của sợi nấm cấp
2.
Các sợi nấm liên kết chặt chẻ với nhau tạo thành mạng lưới các sợi nấm,
khi gặp được điều kiện thuận lợi các sợi nấm sẽ tạo thành nụ nấm, nụ phát
triển thành chồi, theo thời gian chồi sẽ hình thành nên tán nấm và cuối cùng
là thành quả thể nấm trưởng thành. Sau khi trưởng thành, mặt dưới quả thể thụ tầng, lại sản sinh ra bào tử và phóng bào tử vào môi trường ngoài tiếp tục
một chu trình sống mới.[8]
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm Linh chi
1.1.4.1 Giống
- Bao gồm các dạng trung gian, chứa đựng sinh khối nấm Linh chi, sinh
khối nấm thường ở dạng hệ sợi tơ nấm thứ cấp, có khi là bào tử nấm.
Nguyên liệu làm meo có thể ở dạng hạt (như lúa, bo bo, các hạt ngũ cốc
khác), dạng cây (như thân mì), dạng phế liệu (như rơm, rạ, trấu, bông phế
thải, ,…) là các dạng cơ chất dễ dàng cho nấm mọc cũng dễ phân tán khi cấy
giống vào giá thể trồng. Điều thiết yếu là giống phải thuần, không bị nhiễm
các loại vi khuẩn, nấm mốc hoặc bất kỳ loài nào khác [18]
1.1.4.2 Nhiệt độ
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến trực tiếp đến phản ứng sinh hóa bên trong tế
bào nấm, kích thích hoạt động của các chất sinh trưởng, các enzyme, chi phối
sáng không cần nhiều. Giai đoạn nuôi sợi linh chi không cần ánh sáng. Giai
đoạn ra quả thể Linh chi cần ánh sáng tán xạ (ánh sáng có thể đọc sách)
khoảng 450 – 650 lux cường độ ánh sáng đều từ mợi phía [1], [9].
1.1.4.7 pH
Nấm trồng nói chung đều bị ảnh hưởng rất lớn bởi độ pH của môi
trường. mỗi loài có khả năng phát triển trong khoảng pH xác định. Linh chi
thích nghi trong môi trường trung tính đến acid yếu pH từ 6 đến 7. Nếu pH
10
SV: Nguyễn Thị Bích Trang
GVHD: Ths Nguyễn Thị Phương Khanh
thấp thì quả thể nấm không hình thành được và ngược lại, pH quá kiềm thì
quả thể nấm bị dị hình [9].
1.1.4.8 Dinh dưỡng
Nấm Linh chi cũng như các loài nấm khác đều không có dịp lục như
thực vật nên không có khả năng quang hợp tạo ra năng lượng. Do vậy nấm
Linh chi sống bằng cách lấy chất dinh dưỡng từ các loài khác thông qua
màng tết bào của sợi nấm [9]. Các chất dinh dưỡng mà Linh chi cần như
glocose, đạm, vitamin và các khoáng [1].
Nấm Linh chi có khả năng sử dụng nguồn cellulose trực tiếp, vì nấm
Linh chi tiết ra hệ enzyme lignocellulose ngoại bào (gồm cellulase, xylanase,
lignin peroxidase, proxidase,...) có thể thủy phân cấu trúc của cellulose thành
các phân tử đường glucose, xylose,… đơn giản mà Linh chi có thể sử dụng
được [10]. Nhờ vậy, nguồn nguyên liệu để trồng nấm Linh chi khá đa dạng:
mùn cưa, thân gỗ, các loại cây thân thảo, bã mía,…
Hình 1.6 mùn cưa cao su
Lipid
1,10
Hình 1.7 Bã mía
-
Bã mía
Mía là cây trồng phổ biến ở Việt Nam để sản xuất đường hoặc ép lấy
nước uống giải khát. Thân mía sau khi ép lấy nước còn lại phụ phẩm là bã
mía. Tùy theo loại mía và đặc điểm nơi trồng mía mà thành phần hoá học các
chất có trong bã mía có thể biến đổi, thành phần chung của mía được tổng
hợp tại bảng 1.2.
12
GVHD: Ths Nguyễn Thị Phương Khanh
SV: Nguyễn Thị Bích Trang
Bảng 1.2 Thành phần của bã mía sau khi rửa sạch và sấy khô [1]
Thành phần
Hàm lượng (%)
Cellulose
44,50
Cellulose thô
Chất khoáng
Hydratcarbon có thể hòa tan
Hàm lượng (%)
Cám gạo
Bột bắp
10,88
9,60
11,70
5,60
11,50
3,90
10,50
1,00
45,00
69,60
Một trong những thành phần không thể thiếu đối với việc trồng nấm
Linh chi là khoáng, các chất khoàng cần cho sự phát triển của Linh chi như: P,
K, Na, Mg, Mo, Zn,…được bổ sung trong giá thể trồng với lượng rất ít. Việc
bổ sung khoáng làm thay đổi pH của giá thể hoặc thúc đẩy một số quá trình
sinh trưởng của nấm, một số muối khoáng được sử dụng là super lân
(Ca(H2PO4)2.H2O + CaSO4), canxi cacbonat (CaCO3) còn gọi là bột nhẹ,
magie sunphat (MgSO4.7H2O) [25].
13
Sterol
: 0.14 – 0.16%
Protein
: 0.08 – 0.1
Các thành phần khác và các hoạt chất mang hoạt tính sinh học: K, Zn,
Ca, Mn, Na, khoáng thiết yếu, nhiều vitamin, enzyme, terpenoid, steroid,
phenol, nucleotide và các dẫn xuất của chúng,… Protein nấm có chứa tất cả
các acid amin thiết yếu giàu lysine và leucin. Tổng hàm lượng chất béo thấp
và tỉ lệ các acid béo không no cao góp phần mang lại giá trị cho nấm Linh chi
[3]. Hoạt tính sinh học của các chất có trong Linh chi được thể hiện ở bảng
1.4.
14
SV: Nguyễn Thị Bích Trang
GVHD: Ths Nguyễn Thị Phương Khanh
Bảng 1.4: Thành phần các chất có trong Linh chi và hoạt tính của
chúng[25]
NHÓM CHẤT
HOẠT CHẤT
β – D - Glucans
hạ đường huyết, tăng tổng hợp
protein, tăng chuyển hóa acid nucleic
Ganorderic acids
Triterpenoid
Ganordermadiol
Chống dị ứng, bảo vệ gan, ức chế
tổng hợp cholesterol, hạ huyết áp
Ganodermic acid T- O
Nucleosite
Uridine, uracil
Protein
Lingzhi -8
Steroid
Ganodosterone
Acid béo
Oleic acid
Màu sắc
Đặc tính dược lý
Thanh chi
Xanh
Vị chua, tính bình, không độc chữa trị sáng mắt,bổ gan khí, an
thần, tăng trí nhớ.
Xích chi
Đỏ
Vị đắng, tính bình, không độc, tăng trí nhớ,dưỡng tim, bổ trung,
trị tức ngực.
Hoàng chi
Vàng
Vị ngọt, tính bình, không độc, an thần, ích tì khí.
Bạch chi
Trắng
Vị cay, tính bình, không độc, ích phổi,thông mũi, an thần, chữa
+ Giải cảm (giải toả trạng thái bị cảm).
+ Trường sinh (sống lâu, tăng tuổi thọ).
- Qua phân tích các hoạt chất về mặt dược tính, dược lý và sử dụng
nấm Linh chi, người ta thấy Linh chi có tác dụng rất tốt với các bệnh:
- Đối với bệnh về hệ tim mạch: Nấm Linh chi có tác dụng điều hoà, ổn
định huyết áp. Giảm cholesterol toàn phần, giảm nồng độ mỡ trong máu, giảm
co tắc mạch, giải tỏa cơn đau thắt tim và loạn nhiupj tim [12].
.
- Đối với các bệnh về hô hấp: Nấm Linh chi đem lại kết quả tốt, nhất là
với những ca điều trị viêm phế quản dị ứng, hen phế quản tới 80% có tác
dụng giảm và làm nhẹ bệnh theo hướng khỏi hẳn [12].
- Đối với các bệnh về thần kinh: Nấm Linh chi giúp dưỡng tâm an thần
khi có triệu chứng mạch đập hỗn loạn, mất ngủ, thần kinh suy nhược [18].
- Đối với bệnh viêm gan: Nấm Linh chi có tác dụng tiêu viêm, làm viêm
gan thuyên giảm. Chất triterpen có trong Linh chi làm phục hồi các tế bào gan
[12].
- Khả năng miễn dịch: Linh chi có khả năng thanh lọc cơ thể toàn diện,
có tác dụng lợi tiểu và lợi mật, đồng thời kích thích nhiều chuỗi phản ứng sinh
hóa trong cơ thể nhờ vai trò xúc tác của khoáng tố vi lượng, làm tăng sức đề
kháng của cơ thể để từ đó điều chỉnh các rối loạn chức năng, làm lành các
tổn thương cơ quan, phục hồi hệ miễn dịch của cơ thể [26].
17
GVHD: Ths Nguyễn Thị Phương Khanh
SV: Nguyễn Thị Bích Trang
SV: Nguyễn Thị Bích Trang
GVHD: Ths Nguyễn Thị Phương Khanh
Bảng 1.7 Một số bài thuốc chữa bệnh có nấm Linh chi [25]
Tác dụng điều trị
Pha chế
Cách dùng
Suy nhược thần kinh, nhức đầu,
chóng mặt, ngứa ban đêm.
Linh chi 1 – 3g
Sắc uống mỗi ngày 3 lần
Viêm gan mãn tính, suyễn
phế quản, viêm thận
Linh chi 50g
Nghiền bột uống mỗi lần 1 –1.5g,
ngày uống 3 lần
Bệnh tim dài
Bột Linh chi 30, bột
đậu 90g
SV: Nguyễn Thị Bích Trang
GVHD: Ths Nguyễn Thị Phương Khanh
+ Chúng cạnh tranh dinh dưỡng với nấm Linh chi, đồng thời tiết ra độc tố
ức chế và tiêu diệt sợi nấm Linh chi
-
Nguyên nhân:
+ Khử trùng giá thể chưa đạt yêu cầu.
+ Giá thể quá ẩm.
+ Quá trình cấy giống bị nhiễm bào tử mốc từ không khí.
+ Phòng nuôi sợi có nhiệt độ cao, ẩm ướt, vệ sinh chưa đạt yêu cầu.
-
Cách khắc phục:
+ Thực hiện hấp khử trùng các túi giá thể đúng yêu cầu.
+ Kiểm tra độ ẩm cơ chất cẩn thận trước khi đóng túi.
+ Vệ sinh nhà cấy giống sạch sẽ, che chắn để tránh gió.
+ Kiểm tra lại điều kiện của nhà nuôi sợi nấm.
+ Cách ly các túi nấm bị nhiễm bệnh ra xa khu vực nuôi trồng
2.1.3.2 Nấm mốc đen
-
Biểu hiện:
+ Giống như mốc xanh, hệ sợi mốc đen mọc sát vào cơ chất. Bào tử ban
+ Cách ly các túi nấm bị nhiễm bệnh ra xa khu vực nuôi trồng
2.1.3.3 Nấm cam
+ Biểu hiện: Nấm cam có hệ sợi màu trắng, mỏng hơn tơ nấm Linh chi, lan rất
nhanh, sau 3 – 4 ngày là có thể ra quả thể, và phát tán bào tử.
Hình 1.11 Túi nấm bị nhiễm nấm cam
+ Chúng cạnh tranh dinh dưỡng với nấm Linh chi, đồng thời tiết ra độc tố ức
chế và tiêu diệt sợi nấm Linh chi
-
Nguyên nhân:
+ Khi thay giấy báo hơ trên ngọn đèn cồn chưa đủ lâu để diệt được nguồn
bệnh.
21
GVHD: Ths Nguyễn Thị Phương Khanh
SV: Nguyễn Thị Bích Trang
+ Trong lúc thay không cẩn thận để giấy báo bị ướt.
+ Quá trình cấy giống bị nhiễm bào tử nấm cam từ không khí.
+ Phòng nuôi sợi có nhiệt độ cao, ẩm ướt, vệ sinh chưa đạt yêu cầu.
-
Cách khắc phục:
+ Khi thay giấy báo cần hơ kỹ dưới ngọn đèn cồn.
+ Cần kiểm tra kỹ sau khi thay xong, nếu bị ướt lập tức bỏ và thay bằng giấy
Nhật Bản tuy là nước tìm ra cách trồng Linh chi nhưng đến nay sản lượng
mỗi năm chỉ khoảng 500 tấn, đứng sau Trung Quốc [18].
2.2.2 Tình hình nuôi trồng nấm Linh chi ở Việt Nam và những thuận lợi
về ngành nuôi trồng nấm
-
Tình hình nuôi trồng nấm ở Việt Nam
Ngành nuôi trồng nấm dược liệu trong những năm gần đây mới được phát
triển và được trồng ở một số tỉnh, thành phố như Hà Nội, Hưng Yên, Vĩnh
Phúc, Ninh Bình, Đồng Nai, Bình Dương, Tp, Hồ Chí Minh, Long An, Tiền
Giang,… sản lượng hơn 300 tấn trên năm [28]. Trong một vài năm gần đây
con người đã tìm kiếm và phát hiện một lượng khá lớn cổ linh chi tại một số
vùng núi cao ở nước ta. Đây là một kho tàng sản phẩm quí của y dược Việt
Nam, cần được nghiên cứu sâu để ứng dụng vào khai thác, sản xuất nấm
Linh chi ở nước ta [18]. Nhu cầu tiêu thụ nấm Linh chi những năm gần đây
tăng mạnh, nhiều cơ sở đã tiến hành nghiên cứu nuôi trồng, chế biến nấm
thành các sản phẩm bán trên thị trường trong và ngoài nước. Các tỉnh phía
Bắc đã có nhiều cơ sở quốc doanh, tập thể, hộ gia đình trồng nấm [28].
-
Những thuận lợi của nghề trồng nấm ở Việt Nam
Nuôi trồng nấm cần ít vốn yêu cầu kỹ thuật trồng không phức tạp, diện tích
nhỏ vẫn có thể sản xuất. Thời gian trồng nấm ngắn, nấm Linh chi khoảng 50 –
70 ngày [1]. Vì vậy, khi gặp thiên tai hay biến động của thị trường vẫn kịp thời
dừng sản xuất hoặc chuyển hướng canh tác, điều này không đơn giản ở các
loại cây trồng khác.
Điều kiện thiên nhiên ưu đãi, nhất là các tỉnh miền Nam. Chênh lệch nhiệt
độ giữa tháng nóng và tháng lạnh ít nên có thể trồng nấm quanh năm. Vị trí
Nhìn chung, phát triển trồng nấm ở nước ta là điều tất yếu. Nó không chỉ
giải quyết vấn đề lao động mà còn đem lại của cải cho xã hội. Tuy nhiên để
trồng nấm nhanh chóng phát triển ở nước ta cần có nhiều đầu tư về khoa học
kỹ thuật, nâng cao chất lượng giống, kỹ thuật trồng và nhất là có chính sách ưu
đãi cho người trồng nấm. [18].
24
GVHD: Ths Nguyễn Thị Phương Khanh
SV: Nguyễn Thị Bích Trang
CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu
3.1.1 Địa điểm và thời gian làm thí nghiệm
- Địa điểm: Tại cơ sở 3 Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh, số
68 đường Lê Thị Trung, phường Phú Lợi, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình
Dương.
- Thời gian từ tháng 10/2016 – 12/2016.
3.1.2 Vật liệu và hóa chất
- Giống: Nấm Linh chi (Ganoderma lucidum).
Hình 2.1 Meo nấm Linh chi (Ganoderma
lucidum)
- Meo nấm: Chọn lựa các bịch giống có sự đồng nhất, tơ nấm ăn đều cả
bịch giống. Sợi tơ khỏe, không có hiện tượng bị tạp nhiễm. Được mua
tại công ty Nấm Việt 224A Tổ 92B, ấp Phú Bình – xã Phú Hòa Đông, Củ
Chi.
- Giá thể: mùn cưa đã qua xử lý