Tìm hiểu các Enzym bảo vệ ôxi hoá của nấm linh chi Ganoderma Lucidum - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Tự NHIÊN
■ • • •
Tên đề tài:
TÌM HIỂU CÁC ENZYM BẢO VỆ ÔXI HOÁ CỦA NẤM
LINH CHI GANODERMA LUCIDUM
Chủ trì đề tài: Th.s Tạ Bích Thuận
Cán bộ tham gia: Th.s Đậng Quang Hưng
CN Phạm Kiên Cường
p T / õ ĩ ~0
Hà Nội - 2005
Báo cáo tóm tắt:
a. Tên đề tài: Tìm hiểu các enzym bảo vệ oxi hoá của Nấm Linh chi Ganoderma
lucidum
d. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu:
Mục tiêu:
Đóng góp thêm một số dẫn liệu về sự có mặt của một số enzym bảo vệ oxi hoá ở
nấm
Ganoderma lucidum như catalase, superoxid dismutase, NADH oxidase
trong điều kiện nuôi cấy phòng thí nghiệm và đi sâu nghiên cứu enzym NADH
oxidase của nấm Ganoderma lucidum
Nội dung:
- Đánh giá sơ bộ hoạt độ của các enzym bảo vệ oxi hoá cataỉase, superoxid
dismutase, NADH oxidase của nấm Ganoderma lucidum
- Bước đầu tinh sạch enzym NADH oxidase của nấm Ganoderma lucỉdum
- Nghiên cứu một số tính chất của enzym NADH oxidase của nấm Ganoderma
e. Các kết quả đạt được:
- Đánh giá tốc độ mọc của nấm Linh chỉ ở dạng quả thể và dạng sinh khối.
- Đánh giá hoạt độ các enzym catalase, superoxid dismutase, NADH oxidase
của nấm Ganoderma lucidum ở mẫu quả thể và sinh khối.
- Tinh sạch một phẩn enzym NADH oxidase của nấm Ganoderma lucidum

> Partial evaluation of the activity of anti-oxidation enzymes catalase,
superoxide dismutase, NADH oxidase from Ganoderma lucidum.
> Partial purification of NADH oxidase from Ganoderma lucidum.
> Investigate several characteristics of NADH oxidase from Ganoderma
lucidum.
e) The obtained results:
> Evaluation of the growth rate of Ganoderma lucidum fruit body and biomass.
> Evaluate the enzyme activity of catalase, superoxide dismutase, NADH
oxidase from Ganoderma lucidum fruit body and biomass.
> Partially purified NADH oxidase from Ganoderma lucidum.
> Investigation of thermastability, the effect of metal ion, the capable of
producing HzO of NADH oxidase from Ganoderma lucidum.
Numerical code: QT - 03 - 16
b) The grant holder: M.Sc. Ta Bich Thuan
c) The Participants: M.Sc. Đang Quang Hung
B.Sc. Pham Kien Cuong
XÁC NHẬN CỦA BAN CHỦ NHIỆM KHOA
(ký và ghi rõ họ tên)
CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI
(ký và ghi rõ họ tên)
XÁC NHẬN CỦA TRƯỜNG
tì G. 1 s .
c J Ỉ * s ỷ J u >
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
1. Giói thiộu về nấm Linh Chi Ganoderma lucidum 2
1.1. Vị trí của nấm Linh Chi trong hộ thống phân loại

3. Xác định hoạt độ các enzym NADH, CAT, SOD cùa nấm
Ganoderma lucidum 19
3.1 Kết quả xác định hoạt độ enzym NADH oxidase (NOX) của
nấm Ganoderma lucidum 19
3.2 Kết quả xác đinh hoạt độ enzym catalase (CAT) của
nấm Ganoderma lucidum

20
3.3. Kết quả xác đinh hoạt độ enzym superoxit dismutase (SOD) của
nấm Ganoderma lucidum

21
4. Bước đầu tinh sạch và nghiên cứu một số tính chất của NOX từ
sinh khối nấm Ganoderma ỉucidum
21
5. Nghiên cứu một số tính chất enzym NOX của nấm Ganoderma lucidum 23
5,1 Độ bền nh iệt 23
5.2. Ảnh hưởng của một số ion kim loại 23
5.3. Xác định NOX của nấm Ganoderma lucidum là thuộc loại sinh
H20 hay sinh H20 2 24
THẢO LUẬN 25
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
MỞ ĐẦU
Nấm Linh Chi từ lâu đã được coi như là một loại thuốc dân gian có tác dụng
tăng cường sức khỏe và chữa trị nhiều loại bệnh như bệnh gan, thận, bệnh tiểu đường,
bệnh dị úng, bổ phổi, cắt cơn ho suyễn, điều hoà huyết áp, làm giảm lượng đường

Các nấm Linh Chi trước đây được xếp vào trong nhóm nấm nhiều lỗ
(polypore). Lịch sử nghiên cứu hệ thống tự nhiên của họ Linh Chi có thể nói là lịch sử
nghiên cứu cấu trúc bào tử đảm của chúng. Từ 120 năm về trước, Karten, nhà nấm
học Phần Lan, lần đầu tiên đã tách từ các nấm polypore ra một nhóm nấm đặc biệt,
xây dựng nên chi nấm mới độc lập Gânoderma Karst theo kiểu bào tử đảm đặc trưng.
Đó là kiểu bào tử đảm có lớp vỏ kép, hình trứng cụt, bề mặt sần sùi mụn cóc, gò nhỏ,
nhờ đó việc phân loại các nấm Linh Chi đã tiến một bước quan trọng. Người ta dễ
dàng lọc ra từ các nhóm Polypore, Formes, Boletus các loài mà vị trí tự nhiên của
chúng là thuộc về Ganoderma, Chính Patouillard (1889) đã góp phần to lớn trong việc
khái quát kiểu bào tử đặc trưng của Ganoderma Karst Tuy rằng bản thân tên chi
này - derma nghĩa là lớp vỏ, gamo là láng bóng thể hiện nét chủ đạo về hình thái quả
thể bên ngoài vì đa số chúng đều có lớp vỏ láng bóng chói như màu vemi, màu từ
vàng - vàng cam - đỏ hung, nâu tím - nâu đen [4]. Tuy nhiên, tính đồng nhất cao về
cấu trúc bào tử của các loài trong chi này vẫn là đặc trưng cơ bản nhất
Quá trình phân hoá của Ganoderma Karst và Amauroderma Murr và mối quan
hệ chặt chẽ giữa chúng chủ yếu dựa vào cấu trúc đảm bào tử. Donk - nhà nấm học
Haỉan đã xây dựng nên họ Linh Chi Ganodermataceace Donk, lần đầu tiên được tách
khỏi họ polyporaceace và cho đến nay đã được thừa nhận rộng rãi [1]
Trong quá trình phân hoá dạng sống của các nhóm Ganoderma từ trên cây
xuống đất cùng với quá tìn h tiến hoá cấu trúc bào tử đảm, Linh Chi đã được phân
loại:
Giới nấm Mycetalia
Ngành nấm đảm Basiđiomycota
Lóp nấm đảm Basidiomycetes
Bộ nấm lỗ Aphyllophorales
Họ Linh Chi Ganodermataceace
Chi Ganoderma
Loài Ganoderma lucidum
2
1.2. Đặc điểm sinh học của Ganoderma lucidum

thành tán, cùng lúc đó lớp vỏ láng đỏ da cam dần xuất hiện. Tán lớn phát triển dần
3
thành bào tầng (hymenỉum) và bất dầu phát tán bào tử đảm liên tục cho đến khỉ nấm
già sẵm màu, khô tốp lại và lụi dần trong vòng 3 -4 tháng.
1.2.4. Các yếu tố sinh thái của Ganoderma lucidum
Nấm Linh Chi có thể mọc trên gốc, rễ cây sống và cây đã chết, trên rất nhiều
cầy gỗ mọc trong rừng hoặc các cây ăn quả, đặc biệt các cây trong bộ Đậu như lim
xanh, lim vàng, phượng vĩ đều bị nấm này xâm nhập. Là loài phần bố rộng, điều
kiện phát triển tốt của nấm ở dạng sợi là 28 - 30°c. Quả thể gặp rộ vào mùa mưa từ
tháng 5-11. Nấm mọc tốt trong bóng rợp, có ánh sáng khuếch tán nhẹ. Do có lớp vỏ
bóng láng mà nó có thể chụi nắng rọi và chụi mưa liên tục. Đối với hộ sợi nấm, nuôi
cấy trên môi trường dịch thể với nhiệt độ thích hợp từ 27 - 32°c, phát triển tốt ở pH từ
7 - 8,5. Sau 15 - 20 ngày phần sợi già bắt đầu ngả vàng và mầm quả thể rất dễ xuất
hiện [1]
1.2.5. Thành phẩn hoá dược cơ bản và đặc tính dược lý của Ganoderma lucidum
Vói các phuơng pháp thông dụng, người ta đã phân tích các hợp chất tự nhiên
chủ yếu có trong Linh chi thường thấy như
Nước : 12 - 13 %
Cellulose : 54 - 56 %
Lignine : 13 - 14 %
Hợp chất Nitơ : 1,6 - 2,1 %
Lipit: 1,9 - 2%
Hợp chất phenol 0,08 - 0,1%
Hợp chất sterol toàn phần : 0,11 - 0,16%
Saponin toàn phần : 0,3 -1,33
Akaloiđ và glucosid tổng s ố : 1,82 - 3,06%
Ngoài ra các hợp chất nhóm lacton cũng lên đến trên 2%, cùng với một số các
hợp chất khác [2]
2. Giới thiệu chung oxi hoá khử sinh học
2.1. oxi hoá khử sinh học.

OH* + e + H+ H20
Trong số các hợp chất trên thì 0 2*, H20 2, *OH được xếp vào các hợp chất chứa
oxi hoạt động. Ngoài ra thuộc vào nhóm các hợp chất có chứa oxi hoạt động còn có
các gốc khác nhau như NO*, N 02\ các alkyl tự do (R‘) hay các alkoxyl tự do (R0‘),
các peroxide hữu cơ (ROOH), ion oa* và các peroxynitrite (ONOOH)
Các gốc chứa 0X1 hoạt động là nhũng tác nhân gây ra sự tổn thương oxi hoá và
chúng được hình thành theo những cơ chế khác nhau
2.2.3. Các phản ứng quang động học
Sự hoạt hoá oxi có thể xảy ra qua các phản ứng quang động học để hình thành
các dạng oxi ỏ trạng thái singlet. Oxi ở trạng thái singlet có thể nhanh chóng phản
ứng với hầu hết các phân tử hữu cơ (RH), đặc biệt là các dạng chứa liên kết đôi của
các axit béo [29],
Ngoài ra, các oxi singlet cũng được hình thành từ các gốc o c r và H20 2 theo
phản úng sau:
0C1 + H2O2 —► '^2
2.2.4. Sự hình thành các oxi hoạt động bởi các kim loại chuyển tiếp và phản ứng
Fenton.
Một số ion kim loại trong cơ thé có thể tồn tại ở một vài trạng thái oxi hoá bên
cạnh trạng thái cơ bản và các điện tử từ các ion kim loại đó có thể chuyển vào các
phân tử oxi. Quá trình cho điện tử này dẫn đến hình thành các gốc superoxide (0 2*x
H20 2, *OH. Năm 1894 Fenton [29] đã mô tả H20 2 có khả năng oxi hoá các hợp chất
thơm với sự có mặt của các muối sắt (thuốc thử Fenton). Sau đó Haber và Weiss kết
luận rằng phản ứng của Fenton là do sự hình thành các gốc *OH theo các trình tự phản
ứng sau:
Fe2+ + H20 2 -> F e0 2+ + H20 .
Fe02+ + H+ -> FeOH3+ -> Fe3+ + ‘OH.
Fe2+ + H20 2 -> Fe3+ + OH + *OH.
Fe2+ + H+ + H20 2 Fe3+ + H20 + *OH.
*OH + H20 2 -> H20 + H+ + 0 2* 0 2* + H20 2 0 2 + OH + *0H
Fe3+ + H20 2 -> FeOOH2+ + H+ ^ Fe2+ + 2H+ + 0 2*

khiển bởi operon SOD-RS.
Về mặt phân loại các enzym SOD đều cần có các ion kim loại cho hoạt động xúc
tác của chúng và dựa trên thành phần cofactor kim loại mà người ta chia SOD thành
các dạng khác nhau bao gồm:
- Các SOD có chứa Mn (MnSOD) có ở ty thể của giói nhân chuẩn (eukaryote), ở
các cơ thể tiền nhân (prokaryote) [5] và ở tế bào chất của Staphylococcus xyỉosus [8].
7
- Các SOD có chứa Fe (FeSOD) được phát hiện thấy ở lục lạp của thực vật như
tảo hay ở các tế bào tiền nhân (prokaryote) như E. coli và gần đây là ở Euglena
gracilis [8].
- Các SOD có chứa Cu và Zn (Cu/Zn SOD) có ở tế bào chất của nhỉéu loại vi
khuẩn khác nhau [15].
- Gần đây người ta phát hiện thấy SOD ở một số vi sinh vật kị khí bắt buộc có
chứa nickel (Ni) [16].
Các enzym này được tách riêng biệt trên các gel điộn đi polyacrilamide và hoạt
tính của chứng được phát hiện bằng phương pháp nhuộm và xác định đặc điểm dựa
trên độ nhạy cảm của chúng với các chất như KCN và H20 2. Trong đó MnSOD kháng
lại cả 2 chất kìm hãm KCN và H20 2, CuSOD nhạy cảm với cả KCN và H20 2, FeSOD
kháng với KCN nhưng lại nhạy cảm với H20 2.
Ngoài ra, các nghiên cứu của Tomomi còn cho thấy xuất hiộn các enzym SOD
ngoại bào đã được tách và tinh sạch từ mô phổi của chuột thí nghiệm [31], tuy nhiên
chưa thấy có báo cáo nào về các SOD ngoại bào ở thực vật.
a) Các SOD chứa mang an (MnSOD)
MnSOD là một nhóm enzym được tách ra từ ty thể - hệ thống oxi hóa
photphoryl hoá của tế bào nhân chuẩn (eukaryote) hay từ các tế bào tiền nhân
(prokaryote), Các MnSOD từ các vi khuẩn thuộc chi Streptococcus có cấu tạo dimer
phân tử với hai phần dưới đơn vị có khối lượng khoảng 20,7kDa. Khi so sánh với
FeSOD cũng được tách từ vi khuẩn này thì người ta thấy rằng chúng có một trình tự
22 amino axit giống hệt nhau vì vậy có thể tế bào đã có thể có cùng một cách thức để
tạo ra hai enzym này [21].

H2O2 đóng vai trò chất oxi hoá và 1 phân tử H20 2 đóng vai trò chất khử.
Catalase
2 H2Oj

2HzO + 0 2
Catalase được tìm thấy ở ữong tất cả các vi sinh vật hiếu khí, trong tế bào động
vật và thực vật- Hoạt độ catalase ở các IĨ1Ô động vật có vú khác nhau rất lứn. Người ta
thấy rằng đối vói các cơ thể động vật hoạt tính calalase cao nhất ở trong gan và thấp
nhất ở các mồ liên kết. Hồng cầu của người là nhóm tế bào giàu catalase, tuy vậy
hổng cầu của vịt thì hầu như không có hoạt tính enzym này.
Về mặt cấu tạo, cho đến nay các nghiên cứu chi tiết cho thấy rằng catalase chứa
nhân hem có cấu trúc bậc bốn gổm 4 tiểu đơn vị giống nhau {dạng tetrameric), mỗi
tiểu đơn vị có khối lượng phân tử là 60kDa và đều chứa một nhân hem. Do đó catalase
có chứa 4 nhóm ferriproporphyrin trên một phân tử và khối lượng phân tử tổng số xấp
xỉ 240kDa [6].
Azide natri (NaN3) là một chất ức chế đặc hiệu với catalase thông qua khả năng
liên kết đặc hiệu vói nhãn hem trong trung tâm hoạt động của enzym. Vì vậy azit natri
thường được sử đụng để làm ngừng phản ứng ữong thí nghiệm phân tích hoạt độ
catalase [32]. Bên canh azit natri thì catalase còn có thể bị ức chế bởi nhiều hợp chất
khác như là xianit, hydroxylamin, metanol
Catalase giữ một vị trí nhất định trong các cơ quan, nó tham gia vào hoạt động
điều chỉnh lượng H20 2 và là enzym đặc biệt trong peroxisome của gan. Trong hồng
cầu catalase và glutathion peroxidase cùng tham gia chức năng bảo vệ hemoglobin và
các protein có cầu disulfit [6].
Catalase với hoạt tính phân huỷ H20 2 nên có tác dụng làm giảm hiệu ứng Fenton
vốn có khả năng tạo ra gốc hydroxyl rất độc vói tế bào và cơ thể.
Trong các enzym xúc tác cho phản ứng phân hủy H20 2, ngoài catalase còn có
enzym khác như : pseudocatalase, peroxidase
Pseudocatalase là enzym đã được nghiên cứu kỹ ở vi khuẩn Lactobacillus
plantarum. Đâ)> là một dạng catalase không chứa nhân hem, vì vậy được gọi là

Các nghiên cứu về hệ thống oxi hoá khử trên màng cho thấy có sự vận chuyển
các điện tử từ chất cho điện tử bên trong tế bào (như NADH) và vận chuyển chúng
đến chất nhận điện tử bên ngoài (như là oxi phân tử). Các hệ thống oxi hoá khử trên
màng có thể kết hợp với các con đường truyền tín hiệu khác để điều tiết sinh trường
của tế bào. Kết quả là sự sinh trưởng của tê bào có thể được kiểm soát hoặc không
11
được kiểm soát và dẫn đến các tế bào có thể tăng sinh bình thường hoặc cũng có thể
chuyển dạng thành các tế bào ung thư. Theo các nghiên cứu của Chueh thì NOX trên
màng tế bào có nhiẻu liên quan đến hệ thống oxi hoá khử trên màng và sự chuyển
dạng tế bào [11]. Tuy nhỉên chưa có nhiều dẫn liệu chi tiết về cơ chế tác động này.
Morre và Bridge [23] cho rằng NOX trong những tế bào chuyển dạng của động vật có
vú có những đáp úng với thuốc và có tính đặc hiệu ung thư, cụ thể là gen của enzym
này được hoạt hoá liên tục trong các tế bào chuyển dạng. Tương tự Keller và cộng sự
cho thấy NOX của các tế bào ung thư tỏ ra kháng với các protease, hay bromua
cyanogen và có nhũng tính chất tương tự như một prion. Những kết quả nghiên cứu
này gợi ý xem NOX như là đích của trị liệu. Theo các nghiên cứu của Morre và cộng
sự thì tác dụng chống ung thư của chè xanh có liên quan đến sự ức chế NOX trong các
tế bào ung thư bởi epigallocatechin gallate [23].
NOX cũng đã được phát hiện và nghiên cứu ở nhiều đối tượng thực vật khác
nhau điển hình là đối tượng dậu tương [24] và rau dền [25]. NOX của đậu tương bị
kích thích bởi auxin [24] và có thể đóng vai trò trong sự đáp ứng với những tác động
cơ học ỉên thực vật.
3.3.1 Phân loại NOX
Các nghiên cứu trên ở các hệ thống vi sinh vật cho thấy NOX của các vi sinh vật
chủ yếu thuộc vào hai nhóm. Một nhóm NOX xúc tác phản ứng oxi hoá một phân tử
NADH để tạo thành H20 2 (NOX1) và nhóm thứ hai xúc tác cho phản ứng oxi hoá hai
phân tử NADH để tạo ra hai phân tử H20 (NOX2).
NADH + 0 2 + H+ ———>Na+ + H20 2
2NADH + 0 2 + 2H+ n0x2> 2NAD+ + 2H20
Vị trí phân bố của enzym NOX cũng tuỳ thuộc từng loài vi sinh vật, đa phần

cảm với axit này có thể giải thích bằng đặc điổm ưa kiềm của vi khuẩn và của enzym.
Nếu thay đổi nhóm carboxyl vào đầu N, N’-dicyclohexyl cacbodiimide và l-ethyl-3
(3-dimethyl amino propyl) cacbodiimide thì không ảnh hưởng tới hoạt tính. Khi
nghiên cứu trình tự amino axit đầu N:VFKIKRKQEGAH TVERKDRT,
thấy rằng chúng không tương đồng vói trình tự đầu N của NOX được tìm thấy ở các vi
khuẩn khác, chỉ có 7 trong 20 axit amin mang chức năng chính như lysine và cystein.
FAD (dạng khử) (dạng oxi hoá)
Hình 3: Vai trò của FAD trong NADH oxidase của Thermus aquaticus
NOX đã tinh sạch không có khả nãng xúc tác phản úng khử các đổng hydroperoxide
khi có AhpC.
Khác với những NOX của Amphibacillus sp, hay của Bacillus megaterium, NOX
của Streptococcus mutans có cả hai nhóm. Nhóm sinh H20 2 có cấu trúc tetramer gồm
4 tiểu đơn vị, khối lượng mỗi tiổu đơn vị khoảng 56 kDa và cần bổ sung FAD cho
hoạt động xúc tác. Nhóm sinh H20 có cấu trúc monomer với khối lượng phân tử
khoảng 50 kDa và có một phân tử FAD trong trung tâm hoạt động [17].
Cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về vai trò của các NOX trong các
hệ thống vi sinh vật. Theo Higuchi và cộng sự [17] cho rằng NOX của Streptococcus
mutans có vai trò bảo vệ cơ thể khỏi các tổn thương oxi hoá nhưng các tác giả này
cũng chưa đưa ra bằng chứng cụ thể là NOX đã tham gia như thế nào vào chức năng
này.
3.3.2 Vai trò của NOX trong bảo vệ tổn thương oxi hoá
Vai trò của các NOX ữong các hệ thống vi sinh vật đến nay vẫn là vấh để còn
nhiều tranh luận. Theo Higuchi và cộng sự [8] cho rằng NOX của Streptococcus
mutans có vai trò bảo vệ cơ thể khỏi các tổn thương oxi hoá nhưng các tác giả này
cũng chưa đưa ra bằng chứng cụ thể là NOX đã tham gia như thế nào vào chức năng
này. Tuy nhiên theo Carmela và cộng sự thì NOX có vai trò quan trọng trong trao đổi
chất hiếu khí của Streptococcus pyogenes và đặc biệt là khi sống trong môi trường
giàu oxi, hạn chế về hydrocacbon. Để làm sáng tỏ điều này các tác giả này đã tiến
hành gây đột biến bất hoạt gen mã hoá NOX đối với Streptococcus pyogenes và thấy
rằng nhũng thể đột biến sinh trưởng trong môi trường giàu dinh dưỡng, nồng độ 0 2

DE-52, gel Sephadex G-100 mua từ hãng Pharmacia (Thuỵ Điển). Các hoá chất khác
đều đạt độ tinh sạch dùng cho phân tích.
Dụng cụ:
Dụng cụ chính dùng cho nghiên cứu bao gồm máy ly tâm Beckman (Mỹ),
Kubota (Nhật), Eppendoft (Đức), pH met của hãng Orion, máy đo quang phổ
Ultrospec 1000 của Pharmacia (Thuỵ Điển), bộ chạy điện di gel protein của Biorad
(Mỹ )
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nuôi cấy mẫu Ganoderma lucidum: Dạng bịch sản xuất ra quả
thể nấm. Dạng môi trường lỏng (glucose và khoai tây) để thu sinh khối nấm [1,2]
- Phương pháp tách chiết: Mẫu thu hái được bảo quản lạnh -80°c sau đó đem
nghiền mâu sinh khối trong cối xay, còn với mẫu quả thể được nghiền trong Nitơ
lỏng, Sau đó ngâm trong đệm chiết 15-20 phút ở 4°c. Ly tâm ở tốc độ 16000 vòng/
phút ở 4°c trong 15-20 phút. Thu dịch trong dùng để phân tích protein và hoạt độ
enzym, cùng các nghiên cứu tiếp theo.
- Protein được xác định theo phương pháp của Lowry, dùng albumin huyết
thanh bò làm chất chuẩn [3, 20]
- Hoạt độ SOD được xác định theo phương pháp McCord và Fredovich [22]
16
- Hoạt độ catalase được xác đinh theo phương pháp của Thibodeau và cộng sự
[30], cơ chất H20 2 còn lại được đinh lượng theo phương pháp của Mottola và cộng sự
- Hoạt độ của NOX được xác đinh theo phương pháp của Poole và Qairborme
- Điện di trên gel polyacrylamide được tiến hành theo phương pháp của
Laemmli [19]
- Tinh sạch enzyme bằng cột gel sắc ký trao đổi ion qua cột DE-52, sắc ký lọc
gel qua cột Sephadex G100 [12,13].
p Ĩ/35V
17
KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u
1. Đánh giá toc độ phát trien cửa nấm Gal ở điêu kiện nuôi cây dịch thể

hoạt độ NOX của nấm Ganoderma ỉucidum nhìn chung là tương đối thấp, enzym này
khi thu ở dạng sinh khối cao hơn so với hoạt độ NOX ở dạng quả thể.
Khi xác định hoạt độ tổng số của enzym cho thấy NOX ở dạng sinh khối là
0,0047 đv/mgPr, còn ở dạng quả thể là 0,0028 đv/mgPr
19
Hoạt tính NADH
6
0
NOX sinh khối NOX quả thể
Hình 6. Xác định hoạt độ NOX của nám Ganoderma lucidum
3.2 Kết quả xác định hoạt độ enzym catalase (CAT) của nấm Gal
Catalase (CAT) là enzym chủ yếu giữ vai trò quan trọng phân huỷ các H20 2
trong hầu hết các cơ thể sinh vật. Khi xác định hoạt độ CAT của mẫu G al, kết quả
thu được ở hình 7 cho thấy hoạt độ của enzym CAT của nấm Gal nhìn chung là tương
đối mạnh, hoạt độ riêng CAT ở dạng quả thể là 2,331 đv/mgPr, còn ờ dạng sinh khối
là 2,319 đv/mgPr, nhìn vào biểu đồ ta thấy hoạt độ của enzym này ở dạng quả thể cao
hơn chút ít so với dạng sinh khối
2.34
Hoạt tính Catalase
£
e 2.33
^ 2.32
GJ-
2.31
CAT SINH KHỐI CAT QUẢ THỂ
Hình 7. Xác định hoạt độ của enzym catalase (CAT)
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status