VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO THỊ VIÊN
VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC
ĐỊNH HƢỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO CON CÁI
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP 9 PHƢỜNG THÀNH PHỐ
TUY HOÀ – TỈNH PHÚ YÊN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO THỊ VIÊN
VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC
ĐỊNH HƢỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO CON CÁI
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP 9 PHƢỜNG THÀNH PHỐ
TUY HOÀ – TỈNH PHÚ YÊN)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Học viên
ĐÀO THỊ VIÊN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI ............................. 21
1.1. Các khái niệm công cụ ............................................................................. 21
1.2. Các lý thuyết áp dụng trong đề tài nghiên cứu: ....................................... 25
Chƣơng 2 VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC ĐỊNH HƢỚNG
NGHỀ NGHIỆP CHO CON Ở CÁC GIA ĐÌNH ĐÔ THỊ ...................... 35
2.1 Vai trò định hướng của cha mẹ cho con cái trong việc học tập ................ 36
2.2. Mức độ quan tâm của cha mẹ về việc học của con cái ............................ 39
Chƣơng 3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN VIỆC ĐỊNH HƢỚNG
HỌC TẬP CHO CON CÁI TỪ CHA MẸ.................................................... 44
3.1 Định hướng chọn nghề cho con theo khu vực làm việc............................ 44
3.2 Định hướng nghề nghiệp cho con cái xét theo học vấn của cha mẹ. ........ 45
3.3 Dự định nghề nghiệp cho con xét theo nghề nghiệp của cha mẹ.............. 46
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................... 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
THPT
ASEAN
: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (tiếng Anh: Association of
Southeast Asian Nations, viết tắt là ASEAN)
UNESCO
: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc,
viết tắt UNESCO (tiếng Anh: United Nations Educational
Scientific and Cultural Organization)
TW2
: Trung ương 2
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Vai trò của gia đình trong việc định hướng học tập cho con ............ 36
Bảng 2: Mức độ quan tâm của cha mẹ đối với việc học tập của con (%)....... 39
Bảng 3 : Bảng tần suất dự định khu vực làm việc cho con (%). ........................ 41
Bảng 4: Bảng tần suất về định hướng nghề nghiệp cho con .............................. 42
Bảng 5: Tương quan giữa học vấn của cha mẹ đối với việc định hướng nghề
nghiệp cho con (%) ......................................................................................... 45
Bảng 6: Bảng tương quan về dự định nghề nghiệp cho con cái xét theo nghề
nghiệp cha mẹ (%) ............................................................................................ 47
Bảng 7: Dự định nghề nghiệp cho con trai xét theo nghề nghiệp cha mẹ (%) ....... 48
Bảng 8: Dự định nghề nghiệp cho con gái xét theo nghề nghiệp cha mẹ (%) 50
Bảng 9: Bảng tương quan giữa mức sống của gia đình với nhận thức của cha
mẹ về việc học của con. .................................................................................. 51
Bảng 10: Bảng tương quan về độ tuổi của bố mẹ đến lựa chọn nghề nghiệp
1
Điều này nói lên được tầm quan trọng của việc lựa chọn đúng ngành
nghề, qua đó sẽ tránh được tình trạng học “ nhầm lớp”, làm “nhầm nghề” gây
tổn thất tiền bạc và công sức của các gia đình và tiếc nuối cho các em học
sinh, sinh viên khi chưa có định hướng rõ ràng và khi ra trường mới biết mình
làm nhầm nghề, ngược với sở thích và mong đợi của bản thân, điều này dẫn
đến sự nhàm chán, hiệu quả công việc vì thế không cao, gây ra sự lãng phí
cho cá nhân, gia đình lẫn xã hội. Thực tế đó cho thấy việc định hướng nghề
nghiệp cho học sinh ngay từ khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường có ý nghĩa
vô cùng quan trọng. Với tư cách là một thiết chế, đơn vị cơ sở của xã hội, gia
đình có chức năng giáo dục - xã hội hóa trẻ em. Định hướng nghề nghiệp cho
con cái là một trong những nội dung của chức năng này. Trong bối cảnh hiện
nay, khi mà các thiết chế xã hội khác chưa làm tốt việc định hướng nghề
nghiệp cho học sinh thì gia đình lại càng phải phát huy vai trò của mình. Hơn
ai hết, các bậc cha mẹ là người hiểu rõ năng lực, phẩm chất, năng khiếu của
con em mình, do đó sự tham gia của cha mẹ trong việc định hướng nghề
nghiệp cho con cái không những giúp cho trẻ em phát huy được năng lực mà
còn giúp cho xã hội có được nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai.
Thành Phố Tuy Hoà có diện tích 10.682 ha với dân số 202.030 người và 16
đơn vị hành chính (12 phường, 4 xã) trực thuộc, nơi đây tập trung 7 trường
Trung học phổ thông, 1 Trung tâm Giáo dục thường xuyên, 1 Trung tâm kĩ
thuật – hướng nghiệp, 1 trường Trung học Phổ thông dân tộc nội trú với hơn
12 000 học sinh, học viên đang theo học. Phần đa lực lượng trong độ tuổi lao
động đều tham gia sản xuất nông - công - ngư nghiệp tại địa phương, không
có việc làm ổn định, trong đó số lượng học sinh sau khi tốt nghiệp ra trường
chưa xác định được việc cần học trường gì, ngành nào phù hợp nhất với bản
thân chiếm một số lượng rất lớn. Đánh giá của ngành Giáo dục về công tác
hướng nghiệp cho học sinh trong những năm gần đây cho thấy: hầu hết các
nghiệp cho con cái, nghiên cứu trường hợp 9 phường thuộc Thành phố Tuy
Hoà, tỉnh Phú Yên làm luân văn tốt nghiệp cho mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài
Định hướng nghề nghiệp đã có lịch sử ra đời và phát triển với bề dày
trên dưới 100 năm trên thế giới và trên thực tế đã trở thành một lĩnh vực tác
nghiệp chuyên môn và chính sách được tích hợp chặt chẽ trong các hệ thống
giáo dục, đào tạo, lao động, việc làm, dịch vụ và chính sách của nhiều nước
trong khu vực cũng như trên thế giới.
Trong hệ thống giáo dục, giáo dục trung học phổ thông là giai đoạn học
tập chính quy cuối cùng của đa phần thanh thiếu niên học sinh. Giáo dục
trung học phổ thông không chỉ có mục tiêu chuẩn bị nguồn cho giáo dục đại
học mà cần phải chuẩn bị cho học sinh – những con người trưởng thành bước vào cuộc sống lao động xã hội kiến thức về hướng nghiệp. Họ phải được
trang bị những tri thức khoa học, kĩ năng kĩ thuật, kĩ năng lao động nghề
nghiệp, năng lực sáng tạo, ý thức tổ chức kỉ luật và những phát minh nhằm
góp phần đẩy mạnh công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Trên thực tế, lĩnh vực khoa học - kĩ thuật liên tục phát triển và thay đổi, đặc
biệt là trước xu thế hội nhập và toàn cầu hoá như hiện nay, người lao động
thường không có khả năng để thích ứng kịp thời. Trong khi đó, số học sinh
phổ thông khi rời ghế nhà trường với vốn kiến thức “văn hoá chay” không có
cơ sở và khả năng hội nhập vào cuộc sống lao động - xã hội. Xuất phát từ
thực tiễn như vậy, trong xã hội có giai cấp, đã có các nhà tư tưởng và giáo dục
học tiến bộ đưa ra những hình thức gắn giáo dục với lao động nghề nghiệp,
với cuộc sống.
Vào giữa thế kỉ XIX, ở Pháp xuất hiện cuốn sách “Hướng nghiệp chọn
nghề” [21, 7] Nội dung cuốn sách đề cập tới vấn đề phát triển đa dạng của
4
Ở Cộng hoà liên bang Đức, người ta cũng quan tâm đến nội dung,
phương pháp, hình thức tổ chức dạy học lao động nghề nghiệp, tổ chức cho
học sinh phổ thông thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp, ở các cơ sở kinh doanh
- dịch vụ.
Khu vực các nước ASEAN trong những năm qua đã và đang tăng
cường Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông :
Tại Philippin: Một trong những mục tiêu giáo dục phổ thông là đào tạo
nguồn nhân lực với trình độ tay nghề cần thiết để có thể lựa chọn nghề. Chính
vì thế mà ở cấp II đã thực hiện giáo dục nghề nghiệp, và chuẩn của học sinh là
phải đạt được những kiến thức, kĩ năng, thông tin nghề nghiệp và tinh thần
làm việc tối thiểu cần thiết để có thể chọn nghề. Sang cấp III tập trung vào
một số lĩnh vực cụ thể như hướng nghiệp – dạy nghề.
Tại Thái Lan: Ngay từ Tiểu học đã trang bị cho học sinh những kiến
thức cơ bản, kĩ năng tối thiểu của một số công việc nội trợ, nông nghiệp và
nghề thủ công. Sang cấp II đẩy mạnh công tác giáo dục hướng nghiệp gắn với
một nghề trên cơ sở phù hợp với độ tuổi, sở thích, nhu cầu của mỗi học sinh,
đây là bước tiền đề cho học sinh vào cấp III. Giáo dục nghề nghiệp gắn liền
với hướng nghiệp nhằm cung cấp cho học sinh những kĩ năng nghề nghiệp,
tất cả các trường phải dạy nghề theo quy định của Bộ, học sinh đạt chuẩn sẽ
được cấp chứng chỉ nghề.
Jacques Delors, chủ tịch Uỷ ban quốc tế độc lập về giáo dục cho thế kỉ
XXI của UNESCO khi phân tích “ Những trụ cột của giáo dục” đã viết: “Học
tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại ", đó là 4 trụ
cột mà Uỷ ban đã trình bày và minh họa những nền tảng của giáo dục [28, 8] .
Theo tác giả vấn đề Giáo dục hướng nghiệp và học nghề của học sinh phổ
thông là một căn bản không thể thiếu được trong giáo dục. Tác giả đã nhấn
6
hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, Hà Nội, 2003… cùng với đó là hệ
thống bộ hoạ đồ nghề, hệ thống test được mở rộng, một số thiết bị tư vấn
nghề được nghiên cứu cải tiến, hoàn chỉnh theo hướng hiện đại hoá, trong đó
có đề cập đậm nét vấn đề tư vấn nghề, đã xây dựng được nhiều bản hoạ đồ
nghề có giá trị thực tiễn để phục vụ tư vấn nghề.
Trong những năm gần đây, các nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội
học, kinh tế học, chính trị học đã tiếp cận nhiều đến vấn đề dạy Nghề Phổ
Thông và hoạt động Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông ở các
khía cạnh khác nhau.
- “Đổi mới công tác hướng nghiệp cho phù hợp với kinh tế thị trường.
Quán triệt chủ trương đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh việc
củng cố và phát triển các “Trung tâm Kĩ thuật - Hướng nghiệp - Dạy nghề”
(Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trung tâm lao động - hướng nghiệp, Hà Nội, 1992)
của GS - TS Phạm Tất Dong. Kết quả cho thấy “Trong số những người không
kiếm ra việc làm có đến 85% là thanh niên. Trong tổng số thanh niên đứng
ngoài việc làm thì 67,4% là không biết nghề”. Trên cơ sở đó, tác giả xác định
cần: “Chú trọng việc hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để
tự tìm ra việc làm”, đồng thời: “Tiếp sau quá trình hướng nghiệp, dứt khoát
phải dạy nghề cho học sinh... đây sẽ là một nguyên tắc rất cơ bản”.
- Mối quan hệ giữa học vấn phổ thông và học vấn nghề nghiệp đã được
tác giả Hoàng Đức [2008] làm sáng tỏ: “Trong cơ chế đổi mới hiện nay vấn
đề chuẩn bị nghề nghiệp là một yêu cầu nóng bỏng của thực tế xã hội”. Học
vấn phổ thông và học vấn nghề nghiệp có phần giao thoa ngày càng rõ theo
hướng mô đun hoá ở mức phổ thông. Phần giao thoa đó ngày càng lớn nghĩa
là công tác Giáo dục hướng nghiệp được tiến hành sớm và phát triển mạnh, đó
là cơ sở cho việc định hướng và phân luồng học sinh, chuẩn bị nguồn nhân
lực có chất lượng cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
8
Nội dung đề cập đến những vấn đề lý luận về gia đình và biến đổi gia
đình gồm những khái niệm then chốt trong nghiên cứu gia đình, cấu trúc gia
đình, chức năng gia đình, thiết kế gia đình, văn hóa gia đình và biến đổi gia
đình. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, “gia đình” là một trong những phạm trù
xuất hiện sớm nhất trong lịch sử nhân loại (Hồ Ngọc Đại, 1990); và từ “gia
đình” có lẽ là từ sử dụng nhiều nhất trong ngôn ngữ hằng ngày và trong nhiều
lĩnh vực hoạt động xã hội cũng như trong nghiên cứu về gia đình. Ngày nay,
chúng ta vừa biết nhiều hơn lại vừa biết ít hơn về gia đình, bởi sự biến đổi và
đa dạng của gia đình.
Có thể nói rằng, các công trình nghiên cứu khoa học khác nhau ở trong
nước và ngoài nước, những quan điểm, những Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng
của Thủ tướng Chính phủ, cũng như Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào
tạo rất có giá trị về phương pháp luận và lý luận đối với việc thực hiện luận án này.
Với tư cách là tế bào, thiết chế cơ bản của xã hội, gia đình đảm nhận
những chức năng xã hội đặc thù; chức năng tái sản xuất ra con người - duy trì
nòi giống, cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội; chức năng giáo dục; chức
năng kinh tế - đảm bảo nhu cầu sống cho các thành viên trong gia
đình…Chính vì thế, sự tồn tại và biến đổi của gia đình không chỉ liên quan
đến cuộc sống của từng cá nhân mà có sự liên quan đến sự tồn tại và biến đổi
của xã hội. Cùng với những nhân tố và quá trình ảnh hưởng đến biến đổi gia
đình như công nghiệp hóa, toàn cầu hóa, chính sách, pháp luật của nhà nước
về gia đình. Những quan điểm lý thuyết cơ bản dùng để nghiên cứu gia đình
cũng được giới thiệu và phân tích như quan điểm tiếp cận xung đột, quan
điểm tiếp cận nữ quyền, quan điểm tiếp cận cấu trúc chức năng coi gia đình là
một thành phần trong cấu trúc của xã hội, thực hiện những chức năng cơ bản
của xã hội, đáp ứng nhu cầu của các thành viên gia đình và góp phần ổn định
xã hội…
10
Các nghiên cứu trên được tiến hành với quy mô rộng lớn cả về phạm vi
nghiên cứu cũng như nội dung nghiên cứu đó là vai trò của giáo dục gia đình
nói chung trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam.
Thông qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, việc nghiên
cứu về vai trò của gia đình đã được các nhà nghiên cứu tìm hiểu và công bố
các tài liệu hết sức đầy đủ và hoàn chỉnh, riêng nghiên cứu này chỉ tập trung
hướng tới một khía cạnh trong giáo dục gia đình tại 9 phường thuộc Thành
phố Tuy Hoà tỉnh Phú Yên, đó là “Vai trò của cha mẹ trong giáo dục tri thức
và hướng nghiệp cho con”, được xem là một công trình nghiên cứu mới và
chưa được công bố trên các phương tiện truyền thông đại chúng, đề tài góp
phần làm cụ thể và chi tiết hơn về việc định hướng nghề nghiệp, vai trò của
gia đình và xu hướng chọn ngành nghề của giới trẻ tại Phú Yên, thông qua đó
có được một mô hình nhằm xây dựng hệ thống giáo dục mang tính thực tế,
phù hợp hơn ở từng địa phương cụ thể trên cả nước.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu vai trò của gia đình trong việc định hướng nghề nghiệp cho
con trên cơ sở đó nêu lên một số khuyến nghị về việc phát huy vai trò hướng
nghiệp của mỗi gia đình trong giai đoạn hiện nay.
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã nêu, đề tài có các nhiệm vụ
nghiên cứu sau đây:
1. Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
nhằm biết được những thành tựu và hạn chế của các công trình nghiên cứu đã
có, từ đó học viên có cơ sở xây dựng mục tiêu, nội dung, câu hỏi, giả thuyết,
phương pháp, lựa chọn lý thuyết nghiên cứu.
2. Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài.
12
Cơ cấu giới tính:
Nam: 52,8%
Nữ: 47,2%
Cơ cấu trình độ học vấn của cha/mẹ học sinh
Phổ thông cơ sở: 25,9%
Phổ thông trung học: 11,4%
Trung học chuyên nghiệp: 14,4%
Cao đẳng - Đại học và trên Đại học: 48,3%
Cơ cấu nghề nghiệp của cha/mẹ học sinh khi được phỏng vấn
Công nhân: 16,2%
Giáo viên: 18,3%
Buôn bán dịch vụ: 21,6%
Kỹ sư: 10%
Bác sĩ: 5,1%
Bộ đội, công an: 13,5%
Không nghề: 12%
Khác: 3,5%
Cơ cấu mức sống của gia đình tham gia phỏng vấn:
Số hộ gia đình có mức sống khá giả: 26, 8%
Số gia đình có mức sống trung bình: 61,5%
Số gia đình có mức sống khó khăn: 11,7%
4.2. Phạm vi nghiên cứu
1. Phạm vi không gian
Luận văn nghiên cứu về các trường hợp định hướng nghề nghiệp của
gia đình đối với con cái tại Thành phố Tuy Hoà tỉnh Phú Yên.
14
-
Mục đích: Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập những thông
tin về vai trò của cha mẹ trong vấn đề định hướng nghề nghiệp cho con.
Đối tượng điều tra: 120 phụ huynh học sinh.
Cách tiến hành:
- Bước 1: Xây dựng mẫu phiếu điều tra (bảng hỏi ) gồm 9 câu trong đó
có cả câu hỏi đóng và mở nhằm điều tra về vai trò của cha mẹ trong vấn đề
định hướng nghề nghiệp cho con.
- Bước 2: Tiến hành điều tra thử trên 15 người nhằm tìm hiểu sơ bộ về
nhận thức của các bậc cha mẹ trong việc định hướng nghề nghiệp cho con.
Đồng thời biết được những điểm được và chưa được để tiến hành chỉnh sửa
phiếu phù hợp với mục đích, đối tượng điều tra, nhằm đạt được kết quả tốt
nhất cho đề tài.
- Bước 3 : Tiến hành phát phiếu điều tra.
Phát phiếu điều tra trong thánh 10 năm 2016.
Dự kiến sẽ có những phiếu điều tra không hợp lệ nên chúng tôi đã phát
dư 20 phiếu. Tổng số phiếu thu về là 140 phiếu trong đó có 120 phiếu hợp lệ.
Trong phiếu có 63 nam và 57 nữ.
- Bước 4 : tiến hành xử lý phiếu
Kết quả điều tra bằng bảng hỏi được xử lý trên máy vi tính theo chương
trình SPSS nhằm xác lập tương quan giữa các dữ liệu được tìm hiểu.
5.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu:
Bên cạnh phương pháp phỏng vấn bảng hỏi, đề tài nghiên cứu còn sử
dụng phương pháp phỏng vấn sâu đối với các bậc phụ huynh dưới hình thức
Chọn sai lầm một nghề nghĩa là đặt cho mình một tương lai mờ mịt, không
vững chắc. Vì vậy để tạo dựng cho con mình một tương lai tươi sáng ngay từ
bây giờ, cha mẹ phải để định hướng được nghề nghiệp cho con, hướng dẫn
17
cho con trả lời được các câu hỏi: mình sẽ làm gì, mình sẽ là ai, mình sẽ ở đâu
thì mới có thể có những bước cố gắng hoàn thành ngay từ ban đầu.
Giả thuyết 3: Vai trò định hướng nghề nghiệp cho con của các bậc cha
mẹgiúp con xác định năng khiếu, không quá kì vọng và không quá can thiệp
thô bạo vào sở thích và ước mơ của con, hướng dẫn và giúp con tự xác định
chính xác nhất công việc phù hợp với con.
Việc định hướng nghề nghiệp đúng mang lại các cơ hội phát triển tốt
cho các cá nhân, giúp cho xã hội phát triển, tránh gây lãng phí thời gian và
tiền bạc cho gia đình và xã hội.
5.5. Khung phân tích
Điều kiện về Tự nhiênkinh tế - xã hội
Các đặc trưng của gia đình
và của cha mẹ
Định hướng nghề nghiệp cho
con
Khung phân tích về mối liên quan giữa các đặc trưng của gia đình môi trường xã hội có tác động đến việc định hướng nghề nghiệp cho giới trẻ
ngày nay.
18