MỞ ĐẦU
Trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt quan tâm tới vị trí,
vai trò và đánh giá cao kết quả hoạt động của công tác tư tưởng, trong đó
khẳng định công tác tuyên truyền miệng và hoạt động của đội ngũ báo cáo
viên là một bộ phận cực kỳ quan trọng trong việc tuyên truyền phổ biến
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Tuyên truyền miệng là phương thức được tiến hành bằng lời nói trực
tiếp, có nhiều ưu thế, có sức lan toả nhanh, phù hợp với từng nhóm đối tượng,
không hạn chế nội dung mà các loại hình tuyên truyền khác không thực hiện
được và có thể nhận biết ngay hiệu quả tác động của thông tin đến đối tượng
tuyên truyền.
Trong điều kiện bùng nổ thông tin hiện nay, tuyên truyền miệng là kênh
thông tin chính thống giúp thông báo kịp thời, có định hướng những vấn đề
thời sự quan trọng trong nước và thế giới, chuyển tải những thông tin nội bộ
mà vì lý do nào đó không thể đưa trên các phương tiện thông tin đại chúng,
giải thích cho nhân dân hiểu rõ thông tin, trên cơ sở đó định hướng dư luận xã
hội, góp phần tạo ra sự thống nhất về chính trị, tư tưởng trong Đảng và sự đồng
thuận trong xã hội.
Tuy nhiên do những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau,
hiệu quả hoạt động tuyên truyền miệng của hệ thống báo cáo viên còn nhiều
hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Vấn đề đặt ra là làm thế nào
để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của công tác tuyên truyền miệng
và đội ngũ báo cáo viên trong bối cảnh, điều kiện mới. Với nhận thức đó, em
lựa chọn đề tài: “Vận dụng các quy luật tâm lý nâng cao hiệu quả hoạt
động tuyên truyền miệng của đội ngũ báo cáo viên” làm tiểu luận môn học
Tâm lý học trong công tác tư tưởng.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC
TUYÊN TRUYỀN MIỆNG VÀ ĐỘI NGŨ BÁO CÁO VIÊN
nhân dân về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những tinh hoa
văn hoá dân tộc và nhân loại. Trên cơ sở đó hình thành thượng tầng kiến trúc xã
hội chủ nghĩa về mặt hình thái ý thức, giáo dục sự kiên định về mục tiêu lý tưởng
của Đảng.
Tuyên truyền miệng là kênh thông tin chủ yếu và chính thống nhằm giáo
dục, phổ biến, quán triệt mọi chủ trương, đường lối, chính sách, quan điểm
của Đảng và Nhà nước; thông báo kịp thời và có định hướng các vấn đề thời
sự quan trọng trong nước và quốc tế, các vấn đề nóng bỏng mà dư luận quan
tâm. Nhờ đó mà tạo ra sự thống nhất về nhận thức, tư tưởng trong Đảng và
trong toàn xã hội, củng cố niềm tin, cổ vũ các phong trào hành động cách mạng
của quần chúng thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước.
Thông qua kênh truyền miệng và hoạt động của đội ngũ báo cáo viên mà
một mặt, thông tin đến được với quần chúng nhân dân, mặt khác nhờ thông
tin phản hồi có thể nắm bắt được nhận thức và thái độ của nhân dân đối với
chủ trương, đường lối, chính sách, nắm được tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu,
lợi ích…. của quần chúng. Trên cơ sở thông tin phản hồi này, Đảng và Nhà
nước kịp thời điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện chủ trương, đường lối, chính
sách, pháp luật sao cho chúng vừa phù hợp với qui luật khách quan, với thực
tiễn cách mạng, vừa phù hợp với lòng dân. Vì vậy, tuyên truyền miệng và đội
3
ngũ báo cáo viên đóng vai trò như là sợi dây bền chặt nối liền Đảng với quần
chúng, Nhà nước với công dân, trung ương, địa phương với cơ sở.
Tuyên truyền miệng góp phần to lớn vào việc xây dựng nền văn hoá mới
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vào việc xây dựng và phát huy nhân tố con
người, nâng cao bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức cách mạng cho cán
bộ, đảng viên. Tuyên truyền miệng có khả năng to lớn trong việc tạo lập các
toạ đàm, với một người hoặc nhiều người…Do đó, tuyên truyền miệng ít tốn
kém kinh phí, không cần nhiều đến phương tiện kỹ thuật phức tạp (ngoài thiết
bị tăng âm, loa, khi nói chuyện trong hội trường lớn, chỗ đông người).
Tuyên truyền miệng là nghệ thuật vận dụng tổng hợp ý nghĩa của từ, với
cách đặt câu, với các yếu tố cần ngôn ngữ như ngữ điệu, trường độ, cao độ, sự
ngừng giọng, các yếu tố về thanh, sắc… để tạo ra sự diễn cảm của lời nói. Nhờ
khai thác, vận dụng sức mạnh truyền cảm của lời nói - một ưu thế riêng mà không
một phương tiện thông tin tuyên truyền nào có được - tuyên truyền miệng có thể tác
động mạnh mẽ vào tình cảm của con người, khơi dậy tính tích cực nhận thức của
đối tượng, thúc đẩy quá trình hình thành niềm tin và cổ vũ hành động tự giác của
công chúng.
Ưu thế trong việc sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ
Trong tuyên truyền miệng, ngoài việc sử dụng phương tiện lời nói để
chuyển tải thông tin, cán bộ tuyên truyền có thể sử dụng các yếu tố phi ngôn
ngữ (có tài liệu gọi là các yếu tố của hệ thống tiếp xúc cơ học) như tư thế, cử
chỉ, điệu bộ diện mạo… làm phương tiện biểu đạt thông tin và sắc thái tình
cảm. Những yếu tố phi ngôn ngữ này tác động vào kênh thị giác của người
nghe, tăng cường sự chú ý của họ. Cùng với lời nói, kết hợp với lời nói,
chúng có tác dụng nâng cao ý nghĩa cảm xúc lượng thông tin, do vậy mà thúc
đẩy việc tiếp thu thông tin một cách tốt nhất.
Cử chỉ, điệu bộ là một trong số các yếu tố bổ sung cho lời nói, làm cho
đối tượng hiểu rõ hơn ý nghĩa, sắc thái của lời nói. Thông qua cử chỉ, điệu bộ
và ngữ điệu của lời nói mà đối tượng hiểu rõ hơn tình cảm, thái độ của người
5
tuyên truyền đối với vấn đề tuyên truyền, tạo được ấn tượng mạnh ở đối
tượng và tập trung sự chú ý của họ vào nội dung quan trọng nào đó.
Nét mặt, nụ cười, ánh mắt có thể truyền đạt hàng loạt cảm xúc: niềm vui
hay nỗi buồn, phấn khởi hay tức giận, sự kiên quyết hay nhân nhượng, sự khẳng
đánh giá được thực trạng của người nghe căn cứ vào dáng điệu bề ngoài, sự
chú ý hoặc những yếu tố khác trong hành vi của họ (tức là căn cứ vào thông
tin phản hồi). Nhờ đó mà xác định cách xử lý: thay đổi nội dung thông tin,
chuyển sang cách nói khác, sử dụng cử chỉ, điệu bộ thích hợp hoặc một biện
pháp, thủ thuật nào đó nhằm đạt tới mục đích tuyên truyền.
Cuối cùng, giao tiếp trực tiếp còn cho phép chuyển từ độc thoại sang
đối thoại. Người nghe có thể được bày tỏ tâm tư, nguyện vọng của mình;
được hỏi và được trả lời những vấn đề mà mình quan tâm nhưng chưa được
giải thích hoặc giải thích chưa thấu đáo; được trao đổi tranh luận với nhau và
với cán bộ tuyên truyền về những vấn đề còn chưa thống nhất…
1.2. Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ báo cáo viên
1.2.1. Khái niệm báo cáo viên
Báo cáo viên là chức danh để chỉ đội ngũ những người tuyên truyền trực
tiếp bằng lời nói đối với các đối tượng tuyên truyền.
Chức danh của báo cáo viên đã được Đảng ta qui định trong nhiều văn
bản và Ban Tuyên giáo Trung ương hướng dẫn thực hiện. Đội ngũ báo cáo
viên được tổ chức chặt chẽ từ Trung ương đến cơ sở, các ngành, các tổ chức
đoàn thể, lực lượng vũ trang, được tổ chức theo hệ thống dọc, dưới sự lãnh
đạo của cấp uỷ và sự quản lý của Ban Tuyên giáo các cấp.
Phương thức hoạt động chủ yếu của báo cáo viên là giảng bài, báo cáo
chuyên đề, giới thiệu nghị quyết, nói chuyện thời sự chính sách, kể chuyện
gương người tốt việc tốt, điển hình tiên tiến, diễn thuyết… trước một nhóm
7
người nghe trong các hội nghị, các buổi sinh hoạt Đảng, trong các câu lạc bộ,
các cuộc mít tinh, nơi tập trung đông đảo cán bộ, đảng viên và quần chúng.
1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của báo cáo viên
Phổ biến, cung cấp thông tin, đặc biệt là những thông tin mới có giá trị,
thông tin của đối tượng trong tuyên truyền.
Như vậy, vận dụng tâm lý học vào hoạt động tuyên truyền miệng đòi hỏi
người báo cáo viên không những phải nắm chắc nội dung, mà còn phải có khả
năng dự đoán được những phản ứng của đối tượng, nhằm mục đích để nội
dung tuyên truyền được chấp nhận một cách nhanh nhất; thúc đẩy hành động
của đối tượng một cách tích cực nhất. Để đạt được yêu cầu đó người báo cáo
viên ngoài việc nắm bắt nhu cầu thông tin của đối tượng, còn phải biết tác
động đến đối tượng trong không gian, thời gian thích hợp, biết phân tích sự
xuất hiện của các yếu tố, các quy luật tâm lý, khai thác và vận dụng để làm
cho sự hứng thú, niềm quan tâm của đối tượng xích gần lại với chủ thể tuyên
truyền, tiến tới xóa bỏ khoảng cách giữa người báo cáo viên và đối tượng
tuyên truyền.
2.1.2. Tâm thế và tính tích cực của hoạt động tuyên truyền
Theo thuyết tâm thế, ý thức và hành động của con người được quyết
định bởi nhu cầu và môi trường xung quanh. Trong quá trình sống, con người
có rất nhiều nhu cầu, để tồn tại và phát triển những nhu cầu đó phải được thoả
mãn. Con người có thể thoả mãn nó trong môi trường sống xung quanh hoặc
trong điều kiện mà nhu cầu xuất hiện. Trong trường hợp những thiếu hụt được
bù đắp, khi đó ở con người hình thành một trạng thái tâm lý gọi là tâm thế
9
hành động. Theo Udnatde, tâm thế là một trạng thái tâm lý tương đối toàn
vẹn, là tâm trạng của con người trong một hành động nào đó.
Tâm thế trong tuyên truyền là một trạng thái tâm lý hoàn chỉnh, thể hiện
sự chuẩn bị về thể lực và trí lực để tham gia vào hoạt động tuyên truyền,
nhằm đem lại hiệu quả cao cho hoạt động đó.
Trong tuyên truyền miệng, tâm thế gắn liền với tính tích cực, chủ động
trong hoạt động của con người. Vì vậy, để đạt được hiệu quả cao, trong tuyên
lập trường đối với vấn đề tuyên truyền. Sự hiểu biết thái độ, quan điểm của
đối tượng đối với vấn đề tuyên truyền có ý nghĩa rất lớn đối với người tuyên
truyền, nó quyết định việc lựa chọn phương thức tác động đến những đối
tượng có thái độ không giống nhau. Do vậy cùng chịu tác động của tuyên
truyền nhưng hiệu quả thu được ở mỗi đối tượng lại khác nhau.
Thực tế của hoạt động tuyên truyền cũng cho thấy ở những người có
quan điểm đối lập, sau tuyên truyền họ cảm thấy quan điểm tuyên truyền lại
đối lập hơn. Các nhà tâm lý học gọi đó là hoạt động của quy luật tương phản
của ý thức. Trong tình huống trên, người tuyên truyền càng cố gắng giải thích,
chứng minh bao nhiêu thì sự đối lập vốn không có thật ngày thêm gay gắt.
Các nhà tâm lý học gọi hiện tượng tên là hiện tượng phản “ảo ảnh”.
Với quan điểm tuyên truyền gần với quan điểm của đối tượng làm cho
đối tượng cảm thấy quan điểm tuyên truyền trùng với quan điểm riêng của họ,
dẫn tới sự chấp nhận, đồng tình với quan điểm tuyên truyền và xem đó như là
quan điểm của chính mình. Hiện tượng trên được các nhà tâm lý học gọi là
hiện tượng đồng hoá ý thức trong tuyên truyền.
Tóm lại, ở những đối tượng có lập trường, quan điểm khác nhau sẽ
không khách quan khi đánh giá cùng một nguồn tin. Sự không khách quan đó
không phải là sự tuỳ tiện ở đối tượng mà nó tuân theo quy luật đồng hoá và
11
tương phản của ý thức. Sử dụng hợp lý những quy luật này sẽ giúp cho người
tuyên truyền tránh được những căng thẳng gay gắt của đối tượng đồng thời
tìm được những hình thức tác động phù hợp để họ tự mở “cánh cửa tâm lý”
tiếp nhận tác động của tuyên truyền.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu ứng dụng hoạt động của các quy luật trên cần
chú ý những điểm sau:
Sự đánh giá khác nhau của đối tượng đối với quan điểm tuyên truyền
thế của con người sẽ thay đổi.
Trong mối quan hệ qua lại giữa người tuyên truyền và đối tượng cần chú
ý đến sự tồn tại của những tâm thế xã hội. Những tâm thế này chịu sự chi phối
của các quy luật tâm lý, có thể tóm tắt như sau:
Những quan điểm tuyên truyền có nội dung gần với quan điểm của đối
tượng sẽ xuất hiện sự hoạt động của quy luật đồng hoá ý thức dẫn đến hai loại
tâm thế như sau:
Sự quan tâm của đối tượng tập trung vào những khía cạnh chung, những
luận điểm cơ bản mà không nhận thấy sự khác nhau giữa quan điểm của mình
với quan điểm tuyên truyền. Kết quả là việc mở các tâm thế, tăng cường khả
năng thích ứng của đối tượng.
Cùng với sự đồng hoá tương đối của ý thức là sự điều tiết tâm thế ở đối
tượng. Đó chính là sự thích ứng, sự xích lại gần giữa tâm thế của đối tượng
với quan điểm tuyên truyền. Trong trường hợp này, dù có sự thay đổi về tâm
thế nhưng đối tượng vẫn nhận thấy có sự khác biệt giữa quan điểm riêng với
quan điểm tuyên truyền.
Khi có sự đối lập hoặc khác với quan điểm tuyên truyền thì đối tượng
cảm thấy quan điểm tuyên truyền là không thể chấp nhận. Cảm xúc trên dẫn
tới sự thay đổi tâm thế như sau:
13
Khi có sự đánh giá tương phản quan điểm tuyên truyền, nếu đối tượng
không có sự hỗ trợ từ các điều kiện bên trong và bên ngoài thì đối tượng chỉ
có thể thoát ra khỏi tình trạng mâu thuẫn trên bằng cách chấp nhận loại bỏ
tâm thế cũ đồng thời xích lại gần quan điểm tuyên truyền.
Khi có sự mẫu thuẫn với quan điểm tuyên truyền, nếu đối tượng tìm
được sự “hỗ trợ xã hội” thì sự phản bác lại quan điểm tuyên truyền ngày càng
mạnh hơn, kết quả là hình thành thái độ ngày càng thù nghịch hơn đối với
Tri thức tâm lý của con người. Người báo cáo viên và cả đối tượng tuyên
truyền thường có những thói quen, mức độ thành thạo chuyên môn, hiểu biết
về quy luật tâm lý khác nhau. Nhiệm vụ của người báo cáo viên là phải hiểu
đối tượng, phái có tri thức tâm lý để điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù
hợp với nội dung và đối tượng tuyên truyền. Sự hiểu biết tâm lý giúp người
tuyên truyền hình thành chính xác hơn nhiệm vụ tuyên truyền, đồng thời biết
kích thích sự quan tâm chú ý và tư duy tích cực của đối tượng tuyên truyền.
Các yếu tố như dư luận xã hội, tâm trạng nhóm, cộng đồng; truyền thống
địa phương; mối quan hệ vốn có giữa các đối tượng tuyên truyền với nhau,
giữa người tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền, nhu cầu tập thể... đều ảnh
hưởng đến các quá trình tâm lý trong tuyên truyền miệng.
15
3.2. Các nhiệm vụ tâm lý đặt ra đối với người báo cáo viên nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền miệng
Trong hoạt động tuyên truyền miệng, để nội dung tuyên truyền có tác
dụng sâu sắc đến đối tượng tuyên truyền, người báo cáo viên cần giải quyết
tốt các nhiệm vụ về tâm lý sau:
Thiết lập sự giao lưu tâm lý với công chúng, nhằm tạo ra mối truyền
cảm trong liên hệ giữa người báo cáo viên tuyên với đối tượng tuyên truyền.
Đó là sự tin cậy lẫn nhau, cùng quan tâm tới những vấn đề sẽ đề cập. Chính
sự thiết lập giao lưu tâm lý đó, sẽ đem đến cho người báo cáo viên sự ủng hộ
cả về tình cảm, tư duy trong hoạt động tuyên truyền. Đặc biệt, thiết lập giao
lưu tâm lý với công chúng bằng cách trao đổi ánh mắt có ý nghĩa rất quan
trọng, bởi thông thường có nhìn mới có thể làm quen với đồng đảo công
chúng trước mắt mình, coi đó là cuộc “bắt mạch” đầu tiên. Chỉ có cách nhìn
người nghe, mới đánh giá được sức nghe và hiểu của đối tượng tuyên truyền.
Tổng hợp nắm chắc các đặc điểm tâm lý ở đối tượng tuyên truyền. Đây
là việc làm cơ bản, tạo cơ sở cho người tuyên truyền nắm được tâm lý đối
thực của vấn đề trong quá trình tiếp thu nội dung. Điều quan trọng trong các buổi
thuyết trình là người báo cáo viên cần đặt ra yêu cầu đem đến cho người nghe
những nội dung thông tin mới, cách tiếp cận, xem xét vấn đề mới. Nội dung
tuyên truyền không đem đến cái mới thì sẽ không thu hút được công chúng,
không có tác dụng kích thích sự quan tâm, chú ý của đối tượng tuyên truyền.
Cảm xúc của người báo cáo viên đối với vấn đề truyền đạt có ảnh hưởng
trực tiếp tới tình cảm và tư duy của đối tượng tuyên truyền. Thông thường,
nếu tâm trạng của người báo cáo viên là tích cực, thì tuyên truyền sẽ đạt hiệu
quả cao. Nếu tâm trạng người báo cáo viên là tiêu cực, thì sẽ hạn chế kết quả
tuyên truyền. “...Cần phải tự mình bốc cháy, nếu muốn lôi cuốn chinh phục
quần chúng. Còn nếu bước vào hội trường mà tự nhà tuyên truyền thấy buồn
ngủ, thì công chúng sẽ ủng hộ thái độ đó ngay”. V.I.Lênin đã từng nói:
“Thiếu cảm xúc, con người không có sự tìm kiếm chân lý”.
17
Cùng với những hình thức và phương pháp tuyên truyền truyền thống,
người báo cáo viên cần linh hoạt vận dụng các hình thức, phương pháp mang
tính sáng tạo, phù hợp với điều kiện dân chủ hóa trong đời sống xã hội. Trong
điều kiện bùng nổ thông tin và phương tiện tuyên truyền rất phong phú hiện
nay, cho phép người báo cáo viên tìm tòi, thử nghiệm nhiều hình thức,
phương pháp, phương tiện tốt hơn. Thay đổi, sử dụng linh hoạt các phương
pháp, hình thức tuyên truyền sẽ có tác dụng kích thích, tạo ra sự chú ý đối
với người nghe.
Để phát triển ở đối tượng tuyên truyền nhu cầu nhận thức tích cực và
chủ động, đòi hỏi người báo cáo viên phải tự rèn luyện, trang bị cho mình
những phẩm chất như: tính lý luận cao, tính nguyên tắc, tính thuyết phục của
tư tưởng, sự thống nhất lời nói với việc làm, sự tôn trọng và đòi hỏi với bản
thân và với người nghe. Chính những phẩm chất trên sẽ tạo nên uy tín của
KẾT LUẬN
Công tác tuyên truyền miệng là một bộ phận của công tác tư tưởng của
Đảng, có vai trò to lớn trong sự nghiệp cách mạng của Đảng. Với ưu thế sử dụng
ngôn ngữ nói, có sự giao tiếp trực tiếp giữa người tuyên truyền và đối tượng
tuyên truyền nên tuyên truyền miệng có thể tiến hành trong mọi hoàn cảnh,
không phụ thuộc nhiều vào không gian, thời gian, phương tiện kỹ thuật, thời tiết,
ngày và đêm mà các hình thức khác của công tác tư tưởng không có được.
Vì vậy, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng là
yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai
đoạn mới của cách mạng, phải được tiến hành chặt chẽ, thực hiện nghiêm
những nguyên tắc của công tác tư tưởng. Để tăng cường và nâng cao chất
lượng, hiệu quả tuyên truyền miệng cần thiết phải đổi mới hoạt động của hệ
thống báo cáo viên, theo hướng đổi mới cả về nội dung và hình thức, tổ chức
và phương pháp, con người và phương tiện.
Đặc biệt là nâng cao vốn hiểu biết và sự vận dụng khoa học về tâm lý
trong hoạt động tuyên truyền miệng của đội ngũ báo cáo viên có vai trò hết
sức quan trọng. Người báo cáo viên chẳng những phải chuẩn bị những vấn đề
tâm lý cho mình để tác động vào nhận thức, tư tưởng, tình cảm của đối tượng
tuyên truyền, mà còn phải chuẩn bị tốt tâm thế cho đối tượng, để đối tượng
sẵn sàng đón nhận, tiếp thu và hành động sau khi dã ý thức được mục đích,
nhiệm vụ tuyên truyền. Nhờ biết vận dụng kiến thức tâm lý mà người báo cáo
viên có thể tìm ra được con đường nhanh nhất, có hiệu quả nhất để tác động
vào đối tượng tuyên truyền, nâng cao hiệu quả tuyên truyền. V.I. Lênin đòi
hỏi người tuyên truyền cần phải nghiên cứu đặc điểm tâm lý của các tầng lớp
nhân dân trong qua trình tuyên truyền; Người khuyên: “Cần phải thâm nhập
vào quần chúng và học hỏi ở họ một cách kiên trì, bền bỉ thì mới hiểu được
các thuộc tính, đặc trưng tâm lý đa dạng ở mỗi tầng lớp, mỗi nghề của họ”.
Có thể khẳng định sự hiểu biết và ứng dụng các quy luật tâm lý là điều kiện
cần thiết để mỗi người báo cáo viên gặt hái được những thành công, góp phần