Tái định cư khi nhà nước thu hồi đất theo pháp luật việt nam từ thực tiễn huyện đức hòa, tỉnh long an - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HOÀNG VŨ

TÁI ĐỊNH CƢ KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐỨC HÒA,
TỈNH LONG AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HOÀNG VŨ

TÁI ĐỊNH CƢ KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐỨC HÒA,
TỈNH LONG AN
Chuyên Ngành: Luật Kinh Tế
Mã Số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ


Tác giả luận văn

Nguyễn Hoàng Vũ


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chƣơng 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÁI ĐỊNH CƢ VÀ PHÁP LUẬT
VỀ TÁI ĐỊNH CƢ KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT .........................................7
1.1. Lý luận chung về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ...................................7
1.2. Lý luận pháp luật về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ............................16
1.3. Các yếu tố tác động đến tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ......................22
1.4. Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật về tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất ..............................................................................................................24
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ TÁI ĐỊNH CƢ KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT TẠI
HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN ................................................................33
2.1. Thực trạng pháp luật về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất .......................33
2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại
huyện Đức Hòa, tỉnh Long An ..............................................................................44
2.3. Đánh giá về công tác tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện
Đức Hòa, tỉnh Long An .........................................................................................55
Chƣơng 3: YÊU CẦU, ĐỊNH HƢỚNG, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TÁI ĐỊNH CƢ KHI NHÀ
NƢỚC THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG
AN .............................................................................................................................62
3.1. Yêu cầu, định hướng bảo đảm và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn huyện Đức Hòa, tỉnh Long An 62
3.2. Giải pháp bảo đảm và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn huyện Đức Hòa, tỉnh Long An ..................68

UBND

Ủy ban nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì
mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” thì việc thu hồi đất
để chuyển một phần quỹ đất ở, đất nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích khác là
việc làm không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, sự việc này tác động rất lớn đến người bị
thu hồi đất. Mặc dù Nhà nước chỉ thu hồi đất nhưng các thiệt hại không chỉ là thửa
đất mà còn là nhà ở, vật kiến trúc, cây trồng mà quan trọng hơn cả là các mối quan
hệ kinh tế- xã hội có thể bị phá vỡ. Đây là những ảnh hưởng không nhỏ làm thay
đổi cả tập quán sống, thói quen sinh hoạt, làm việc, học tập của người có đất bị thu
hồi và tác động trực tiếp đến các mối quan hệ xã hội, cá nhân, gia đình, cộng đồng.
Nhận thức sâu sắc các hậu quả do việc thu hồi đất gây ra cho người sử dụng đất,
Nhà nước thông qua pháp luật đất đai đã có những quy định về việc giải quyết công
ăn, việc làm cho người bị mất đất sản xuất; giải quyết vấn đề tái định cư cho người
bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở. Thực tế áp dụng các quy định này cho thấy đây
là vấn đề nhạy cảm, khó khăn, phức tạp và thường phát sinh tranh chấp, khiếu kiện
gay gắt, kéo dài.
Xuất phát từ tầm ảnh hưởng của vấn đề tái định cư đối với người bị thu hồi
đất, trong những năm qua chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
luôn được Nhà nước quan tâm. Tuy nhiên, trên thực tế, chính sách về tái định cư
cũng như quá trình thực hiện pháp luật về tái định cư cho người dân khi Nhà nước
thu hồi đất ở cũng còn nhiều bất cập, vướng mắc. Trong nhiều dự án THĐ, người
dân bị rơi vào cảnh bị chủ đầu tư "đem con bỏ chợ", nghĩa là khi đất ở, nhà ở đã bị
thu hồi nhưng vẫn chưa được TĐC,công tác tái định cư cũng chưa được chuẩn bị
chu đáo, thiếu các điều kiện đảm bảo cho người dân có điều kiện sinh hoạt bình

đai bảo đảm hài hòa lợi ích Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất, bài phát
biểu tại phiên bế mạc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt
Nam lần thứ 7 khóa XI, Báo Tiền Phong; Nguyễn Vĩnh Diện (2006), Pháp luật về
bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, Luận văn thạc sỹ Luật học, Trường
Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Thị Dung (2009), Chính sách đền bù khi Nhà nước
thu hồi đất của một số nước trong khu vực và Việt Nam, Thông tin pháp luật Dân
sự, ngày 11/9/2009; Lê Hoàng Dương (2009), Các vấn đề pháp lý về tái định cư khi

2


Nhà nước thu hồi đất thực hiện các dự án đầu tư, khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại
học Luật Hà Nội. Trần Quang Huy (2010), Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi
đất, Tạp chí Luật học (12), tr.14-20; Trần Quang Huy (2010), Pháp luật về đất đai
Việt Nam hiện hành nhìn từ góc độ bảo đảm quyền của người sử dụng đất, Tạp chí
Luật học (8), tr.37-45; Nguyễn Thị Nga (2010), Pháp luật về trình tự, thủ tục thu hồi
đất, bồi thường giải phóng mặt bằng và những vướng mắc nảy sinh trong quá trình
áp dụng, Tạp chí Luật học (11), tr27-36; Minh Nghĩa (2011), Nhà tái định cư: nơi
thừa, nơi thiếu, Báo điện tử Đô thị, ngày 11/11/2011; Vũ Như (2012), Đẩy nhanh
tiến độ đầu tư xây dựng nhà TĐC, Báo điện tử Tienphong.vn; Nguyễn Linh (2011),
Thúc đẩy thực hiện hiệu quả Nghị định 69/2009/NĐ-CP về đất đai, Báo điện tử
Chính phủ ngày 09/02/2011; Trần Đình Dũng (2012), Mua căn hộ ế làm nhà tái
định cư ở Thành Phố Hồ Chí Minh, Báo điện tử thông tin bất động sản, nhà đất; Hải
Minh (2012), Nhà tái định cư ở Hà Nội xuống cấp trầm trọng trong 5-7 năm tới,
Báo điện tử Việt Báo, ngày 16/2/2012; Sài Gòn giải phóng (2011), Thành Phố Hồ
Chí Minh- Chương trình nhà ở tái định cư: Mua bán suất tái định cư, bao giờ mới
chấm dứt, Báo điện tử Baomoi.com; Sài Gòn giải phóng (2012), Chương trình nhà
ở TĐC Thành Phố Hồ Chí Minh- nhiều tín hiệu vui; Phạm Thu Thủy (2014), Pháp
luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam, Luận án tiến
sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

Nghiên cứu pháp luật về TĐC khi Nhà nước thu hồi đất và thực tiễn thực
hiện pháp luật về TĐC khi Nhà nước THĐ trên địa bàn huyện Đức Hòa, tỉnh Long
An.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ có hạn của một bản luận văn thạc sĩ luật học đề tài tập
trung nghiên cứu các hệ thống pháp luật thực định, các nguyên tắc pháp lý cũng như
các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành trong lĩnh vực tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất.
Luận văn tiếp cận và phân tích, bình luận các quy định về tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất được ban hành từ năm 2003 đến nay. Qua việc nghiên cứu
những quy định của pháp luật, tác giả mong muốn làm rõ, cụ thể hóa các vấn đề liên
quan đến tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để rút ra những kết quả đạt được

4


trong công tác thực thi pháp luật về tái định cư và những khó khăn, hạn chế về tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Đồng
thời, tác giả đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hơn nữa trong công tác tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, các quan điểm của Đảng
và Nhà nước ta về chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá và xu thế hội nhập quốc tế của Việt Nam.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập số liệu; Phương pháp
thống kê; phương pháp tổng hợp; phương pháp phân tích, đánh giá; phương pháp hệ
thống; phương pháp lịch sử cụ thể; phương pháp so sánh… để đảm bảo cho những
lập luận đưa ra có tính chặt chẽ và lôgic.
Số liệu được thu thập từ các phòng, ban, ngành trên địa bàn huyện, các



Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÁI ĐỊNH CƢ VÀ PHÁP
LUẬT VỀ TÁI ĐỊNH CƢ KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT
1.1. Lý luận chung về tái định cƣ khi Nhà nƣớc thu hồi đất
1.1.1. Tái định cư: Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa
1.1.1.1. Khái niệm tái định cư
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại
và phát triển của mỗi con người và các sinh vật trên đất. Đất đai là nguồn của cải, là
nguồn lực, một kho vốn, một tài sản cố định hoặc đầu tư cố định. Đất đai có thể
hiểu như là sự bảo hiểm cho cuộc sống, bảo hiểm về tài chính như là sự chuyển
nhượng của cải qua các thế hệ và nguồn lực cho các mục đích tiêu dùng.
Khái niệm thu hồi đất: Thu hồi đất là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến
trong các văn bản pháp luật đất đai. Nếu như giao đất, cho thuê đất là cơ sở để làm
phát sinh quan hệ pháp luật đất đai, phát sinh quyền sử dụng đất của người được
Nhà nước trao quyền sử dụng; thì thu hồi đất là một biện pháp làm chấm dứt quan
hệ pháp luật đất đai bằng một quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền. Thông qua những hoạt động này, Nhà nước thể hiện rất rõ quyền định đoạt
đất đai, với tư cách là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai. Theo Từ điển tiếng Việt
thông dụng: “Thu hồi: Lấy lại cái đã đưa ra, đã cấp phát ra hoặc bị người khác lấy”
[18, tr 759]. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, thu hồi đất được hiểu là:
“Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đất của người vi phạm
quy định về sử dụng đất để Nhà nước giao cho người khác sử dụng hoặc trả lại cho
chủ sử dụng đất hợp pháp bị lấn chiếm. Trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi
đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an
ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng” [32, tr186]. Định nghĩa này cho thấy, các
nhà khoa học mới chỉ đề cập các trường hợp thu hồi đất mà chưa làm rõ nội hàm
của khái niệm THĐ là gì. Mặt khác, sự liệt kê nêu trên cũng chưa bao quát hết các
trường hợp THĐ của Nhà nước. Nhà nước không chỉ THĐ của người có hành vi vi

pháp lý thông dụng không đưa ra định nghĩa về tái định cư. Còn trong Đại từ điển
Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên cũng không giải thích thuật ngữ về “TĐC”.
Tuy nhiên tác giả lại chỉ rõ: “tái: hai lần hoặc lần thứ hai; lại một lần nữa” [18,
tr.1485]; “định cư: ở lại một nơi nhất định để sinh sống và làm ăn, phân biệt với du

8


cư” [18, tr.641]. Như vậy, có thể hiểu TĐC là việc một lần nữa chuyển đến một nơi
nhất định để sinh sống và làm ăn ổn định. Tái định cư là một thuật ngữ được sử
dụng khá phổ biến trong các văn bản quy phạm pháp luật. Xong các quy định mới
chỉ dừng lại ở việc nêu ra các hình thức TĐC mà chưa chỉ rõ nội hàm của tái định
cư. Cụ thể, trước đây, Điều 4 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của
Chính phủ về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất quy
định: “Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Nghị định này
mà phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau: 1.
Bồi thường bằng nhà ở; 2. Bồi thường bằng đất ở; 3. Bồi thường bằng tiền để tự lo
chỗ ở mới”. Đến Luật đất đai năm 2013, tại điểm c Khoản 2 Điều 83 quy định tái
định cư là một trong các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, theo đó “Hỗ trợ tái
định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam
định cư ởnước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở”. Khi nghiên cứu về vấn đề này, có
một số tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về TĐC. Theo tác giả Nguyễn
Quang Tuyến, “TĐC là việc người sử dụng đất được bố trí nơi ở mới bằng một
trong các hình thức: bồi thường bằng nhà ở mới hoặc bồi thường bằng giao đất ở
hoặc bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới khi họ bị Nhà nước thu hồi đất ở và
phải di chuyển chỗ ở” [38, tr42-46]. Theo tác giả Trịnh Thị Hằng Nga “TĐC là biện
pháp nhằm ổn định, khôi phục đời sống cho các hộ bị ảnh hưởng bởi dự án, khi mà
đất định cư cũ bị thu hồi hết hoặc thu hồi không hết, mảnh còn lại không đủ điều
kiện để ở lại nơi ở cũ, phải di chuyển đến nơi ở mới” [16, tr.66]. Theo quan điểm
của Ngân hàng thế giới được ghi nhận trong Khung chính sách TĐC thuộc khuôn

đình có quyền làm ăn, sinh sống trên đất ở hợp pháp của mình. Theo qui định của
pháp luật dân sự khi một chủ thể nào đó gây thiệt hại về tài sản cho chủ thể khác thì
phải bồi thường. Bất luận đó là chủ thể nào. Khi Nhà nước thu hồi đất ở làm cho
người dân không thể tiếp tục làm ăn, sinh sống tại nơi ở cũ trên mảnh đất mà họ có
quyền sử dụng đất hợp pháp, phải di dời đến nơi ở mới gây cho họ nhiều thiệt hại:
Không còn mặt bằng để làm nơi ở. Cùng với mất nơi ở, nhiều trường hợp nhiều tài
sản bị hủy hoại như nhà cửa, vật kiến trúc, cây lâu năm… Do quyền sử dụng đất ở
là tài sản (và là tài sản có giá trịrất lớn) nên khi Nhà nước thu hồi đất ở phải thực
hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho người có đất ở bị thu hồi, phải có trách
nhiệm tạo lập nơi ở mới cho người có đất ở bị thu hồi. Trong trường hợp này việc

10


tạo lập nơi ở mới cho người có đất ở bị thu hồi (tái định cư) thực chất là một hình
thức bồi thường thiệt hại về tài sản. Trong mối quan hệ này, bên bị thiệt hại là hộ
gia đình, cá nhân có đất ở bị Nhà nước thu hồi, bên có nghĩa vụ phải bồi thường
thiệt hại là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất (hoặc chủ
đầu tư trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất để giao cho chủ đầu tư thực hiện các
dự án). Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc lập và
thực hiện các dự án mới về nhà ở, đất ở, với điều kiện bằng hoặc tốt hơn nơi cũ cho
người bị THĐ ở phải di chuyển chỗ ở, đồng thời giúp người bị THĐ nhanh chóng
ổn định đời sống và sản xuất.
TĐC không hoàn toàn giống như các hình thức bồi thường thiệt hại về tài sản
khác. Như phân tích ở trên là một phương thức bồi thường thiệt hại về tài sản. Tuy
nhiên, QSDĐ được coi là một tài sản “đặc biệt”, không giống như những tài sản
khác. Theo qui định của pháp luật hiện hành, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nên
người sử dụng đất chỉ có QSDĐ mà không có quyền sở hữu đối với đất đai. Do vậy,
tái định cư không hoàn toàn giống như các hình thức bồi thường thiệt hại về tài sản
khác. Từ góc độ lý luận, trách nhiệm bồi thường của một chủ thể chỉ phát sinh khi

nước có thẩm quyền theo qui định của pháp luật không phải là thiệt hại phát sinh từ
hành vi trái pháp luật nên trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với những thiệt
hại do hành vi thu hồi đất gây ra khác với trách nhiệm của các chủ thể có hành vi vi
phạm pháp luật gây thiệt hại và phải bồi thường. Như vậy, trong trường hợp này
việc đền bù thiệt hại không hoàn toàn là đền bù ngang giá mà Nhà nước có thể giới
hạn mức bồi thường, hình thức bồi thường thiệt hại. Mặt khác, việc giải quyết tái
định cư - bồi thường những tổn thất phát sinh khi Nhà nước thu hồi đất ở phụ thuộc
vào chính sách của Nhà nước, đảm bảo lợi ích của các cá nhân, hộ gia đình có đất ở
bị thu hồi, đồng thời phải đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội.
Như vậy, việc giải quyết tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở không phải
hoàn toàn thực hiện trên cơ sở sự thỏa thuận mà còn được thực hiện trên cơ sở
quyền lực Nhà nước. Điều đó dẫn đến trình tự thủ tục giải quyết tái định cư với tư
cách là hình thức bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất ở khác với trình tự,
thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại trong các quan hệ pháp luật dân sự khác.
Thực tế cho thấy, thủ tục thực hiện tái định cư hiện nay chủ yếu là thủ tục có tính
chất hành chính.

12


TĐC có mối quan hệ chặt chẽ với các hình thức bồi thường khác khi Nhà
nước THĐ ở. Bồi thường khi Nhà nước THĐ đóng vai trò trung tâm và có tính chất
quyết định đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị THĐ, Nhà nước có nghĩa vụ
bồi thường ngang giá và sát với giá thị trường cho người sử dụng đất về những thiệt
hại hữu hình và thiệt hại vô hình phát sinh trực tiếp từ hoạt động THĐ. TĐC là việc
Nhà nước bồi thường về đất ở, nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt, đời sống của
người dân và các chi phí di chuyển, ổn định cuộc sống cho người bị THĐ khi phải
di chuyển đến nơi ở mới. Do đó, TĐC là hình thức bồi thường có vai trò quan trọng
nhất khi Nhà nước thu hồi đất ở, cùng với các hình thức bồi thường thiệt hại khác
giúp cho người dân nhanh chóng ổn định cuộc sống, bảo đảm quyền và lợi ích hợp

thu hồi đất có tác động không nhỏ đối với họ. Nếu như công tác bồi thường, hỗ trợ,
TĐC được tiến hành thuận lợi, nhà đầu tư sẽ sớm có mặt bằng để tiến hành dự án
đầu tư. Khi đó, công việc kinh doanh của họ bước đầu được thực hiện thuận lợi, góp
phần giúp họ ổn định sản xuất. Ngược lại, nếu những khâu này không được giải
quyết nhanh chóng, nhiều trường hợp còn có khiếu kiện kéo dài…dẫn đến việc nhà
đầu tư không được bàn giao mặt bằng đúng thời hạn, hoặc bị cản trở trong quá trình
thực hiện dự án làm hoạt động kinh doanh của họ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Bởi
vậy, chính sách về bồi thường thiệt hại nói chung và TĐC nói riêng có ý nghĩa
không nhỏ đối với các nhà đầu tư. Một chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC tốt sẽ
đẩy nhanh tiến độ giải quyết các công việc này. Qua đó, góp phần thúc đẩy hoạt
động kinh doanh của họ được tiến hành theo đúng kế hoạch đề ra.
- Đối với Nhà nước: Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà
nước đại diện chủ sở hữu thống nhất quản lý. Thẩm quyền tiến hành thu hồi đất
thuộc về Nhà nước. Thẩm quyền này một mặt là quyền hạn của Nhà nước trong
việc quản lý quỹ đất để tiến hành các hoạt động của mình, mặt khác cũng là trách
nhiệm nặng nề của Nhà nước khi mà việc thực hiện công tác thu hồi đất trên thực tế
rất khó khăn. Đối với những trường hợp thu hồi đất mà phải thực hiện TĐC thì công
việc càng khó khăn hơn vì chỉ khi việc bố trí TĐC được thu xếp ổn định thì mới có
thể thu hồi đất. Bởi vậy, chính sách TĐC hợp lý sẽ giúp cho công tác thu hồi đất
được thực hiện nhanh chóng hơn, nhờ đó giúp Nhà nước giảm được áp lực trong
công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC. Mặt khác, một chính sách TĐC tốt cũng giúp cho
Nhà nước nhận được sự đồng thuận của người dân trong công tác bồi thường, TĐC.

14


Từ đó góp phần cải thiện mối quan hệ vốn căng thẳng giữa Nhà nước và người dân
trong lĩnh vực đất đai nói chung và bồi thường, hỗ trợ, TĐC nói riêng; tạo điều kiện
để các chính sách được ban hành sau đó được người dân tiếp nhận dễ dàng hơn.
Bên cạnh đó, chính sách TĐC tốt còn góp phần làm cho môi trường đầu tư

bị mất đất sản xuất rơi vào hoàn cảnh hết sức khó khăn. Do đó việc giải quyết vấn
đề tái định cư cho người bị thu hồi đất ở là việc làm rất cần thiết. Tái định cư không
chỉ giúp người bị thu hồi đất sớm ổn định đời sống, sinh hoạt và sản xuất mà còn
tạo ra sự đồng thuận của cộng đồng xã hội đối với việc thu hồi đất của Nhà nước,
thể hiện bản chất ưu việt của chế độ ta.
1.2. Lý luận pháp luật về tái định cƣ khi Nhà nƣớc thu hồi đất
1.2.1. Khái niệm pháp luật về tái định cư
“Một nhà nước văn minh có nhiệm vụ tạo ra an toàn mọi mặt cho dân chúng,
trong đó có cả an toàn về pháp lý. Pháp luật phải đảm bảo cho quyền tự do của dân
chúng không bị xâm phạm bởi sự tự do của công quyền” [11, tr.3]. Nhận thức được
vai trò, nhiệm vụ của mình, trong những năm qua, Nhà nước đã có nhiều cố gắng
trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật về bồi thường, hỗ
trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất.
Từ những phân tích lí luận về khái niệm tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất, có thể đưa ra khái niệm pháp luật về tái định cư khi Nhà nước THĐ như sau:
“Pháp luật về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là tổng hợp các quy phạm pháp
luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá
trình tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, nhằm đảm bảo cho người có đất bị thu
hồi có nhà ở và ổn định cuộc sống trên cơ sở hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu
tư và người có đất bị thu hồi".
Pháp luật về TĐC đã tạo ra cơ sở pháp lý thống nhất cho việc thực hiện TĐC
trên thực tế. Thông qua việc quy định và tổ chức thực hiện công tác TĐC, Nhà nước
đã thể hiện rõ sự quan tâm đến những đối tượng phải chịu thiệt thòi do hành vi thu
hồi đất mang lại. Đặc biệt đối với nhóm người phải di chuyển chỗ ở, khi mà “di
chuyển để sinh sống ở một nơi mới, với tập quán mới, cơ sở vật chất mới và điều
kiện sống mới là những vấn đề luôn được người bị nhà nước thu hồi đất phải di
chuyển chỗ ở quan tâm” [10, tr.32] thì việc bố trí TĐC có thể đáp ứng được cơ bản

16



17


cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất quyền lợi kinh tế họ mất đi khi thu hồi đất
mà còn giúp đỡ họ trong việc tạo lập cuộc sống mới” [38, tr.6].
Tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là vấn đề phức tạp và nhạy cảm, có ảnh
hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Pháp luật về
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các
mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và chủ đầu tư.
Điều này đặt ra yêu cầu cần phải có sự điều chỉnh của pháp luật về tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất để góp phần làm giảm các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện đông
người, đảm bảo quyền, lợi ích cho người có đất bị thu hồi.
1.2.2. Các nguyên tắc của pháp luật về tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất
Khi Nhà nước ra quyết định THĐ sẽ làm phát sinh quan hệ bồi thường, hỗ
trợ, TĐC giữa Nhà nước với người sử dụng đất. Bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi nhà
nước THĐ là vấn đề rất nhạy cảm, dễ phát sinh khiếu kiện vì đụng chạm trực tiếp
đến quyền và lợi ích của người dân. Vì vậy, nhà nước đã đề ra những nguyên tắc
nhất định, bắt buộc các chủ thể liên quan phải tuân thủ:
Người sử dụng đất chỉ được hưởng chính sách TĐC khi có đủ điều kiện luật
định. Người sử dụng đất bị Nhà nước THĐ có đủ điều kiện để được bồi thường theo
quy định của pháp luật thì được bồi thường. Mà TĐC cũng là một hình thức bồi
thường - Bồi thường bằng đất hoặc nhà ở TĐC khi Nhà nước thu hồi đất ở của hộ
gia đình, cá nhân. Bởi vậy, người sử dụng đất chỉ được hưởng chính sách TĐC khi
có đủ điều kiện luật định. Cụ thể, khi Nhà nước thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ
ở khác, không còn nhà ở nào khác thì Nhà nước phải có trách nhiệm ổn định chỗ ở
cho người có đất bị thu hồi. Tuy nhiên, đất ở bị thu hồi cũng phải là hợp pháp hoặc
đủ điều kiện để Nhà nước thu hồi đất công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp thì họ
mới là đối tượng để Nhà nước có trách nhiệm lo tái định cư. Tương tự, nhà ở trên

sử dụng đất có vị trí, khả năng sinh lợi như nhau, có nguồn gốc sử dụng đất hợp
pháp thì phải được nhận chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC giống nhau mà
không có bất kỳ một ngoại lệ nào. Thực hiện tốt vấn đề công bằng và khách quan,
đúng pháp luật sẽ tạo được niềm tin của người dân đối với Nhà nước, theo đó người
dân sẽ tự giác tuân theo; mặt khác, là một trong những yếu tố để hạn chế tình trạng
khiếu nại, tố cáo tràn lan, tình trạng kích động và tụ tập để chống đối các cơ quan

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status