Tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự từ thực tiễn thành phố vĩnh yên, tỉnh vĩnh phúc - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ TIẾN TRUNG

TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số

: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐINH THỊ MAI

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
nêu trong Luận văn là trung thực. Kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Tiến Trung


MỤC LỤC


HĐXX

: Hội đồng xét xử

HSST

: Hình sự sơ thẩm

KSV

: Kiểm sát viên

PTHSST

: Phiên tòa hình sự sơ thẩm

TAND

: Tòa án nhân dân

VKS

: Viện kiểm sát

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa



đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; Thẩm phán và Hội thẩm
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ
yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện
các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, người làm
chứng, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản

1


án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn luật định.
Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để Luật sư tham gia vào quá
trình tố tụng, tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân
chủ tại phiên tòa…”[12].
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị “về chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020” tiếp tục xác định xác định một trong
những nhiệm vụ cải cách tư pháp của nước ta là “Đổi mới việc tổ chức phiên tòa
xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố
tụng và người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ,
nghiêm minh; Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây
là khâu đột phá của hoạt động tư pháp…”[14].
Trước khi có Nghị quyết số 08-NQ/TW thì hoạt động thực hành quyền
công tố tại Phiên tòa HSST chỉ chủ yếu tập trung vào đọc bản cáo trạng, trình
bầy lời luận tội mà chưa chú trọng đến việc tranh luận cũng như đối đáp với bị
cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác. Để khác phục tình
trạng trên.BLTTHS năm 2003 đã dành hẳn một chương XXI (từ điều 217 đến
điều 221) quy định cụ thể và đầy đủ hơn về trình tự, thủ tục tranh luận tại phiên
tòa HSST. Vì vậy, hoạt động tranh luận, đối đáp tại phiên tòa nói chung và của
KSV nói riêng với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác
đã có những chuyển biến tích cực, rõ nét. Hoạt động tranh luận và đối đáp của
KSV để bác bỏ các quan điểm không có căn cứ của bị cáo, người bào chữa và

kiểm sát nhân dân tối cao), NXB Tư pháp, năm 2007; “Vấn đề tranh tụng trong
Tố tụng hình sự” của Nguyễn Đức Mai(1996); Luận văn thạc sỹ luật học “Thủ
tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm” của Nguyễn Hải Ninh,
năm 2003; Luận văn thạc sỹ luật học “Chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên
trong tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm” của Hà Minh Hải, năm 2007;
Luận văn thạc sỹ luật học “Tranh tụng tại phiên tòa theo PLTTHS Việt
Nam” của Bùi Thị Hà, năm 2010; Luận văn thạc sỹ luật học “Thủ tục xét hỏi và
tranh luận tại phiên tòa hình sự” của tác giả Lê Thị Hồng Minh; Luận văn thạc

3


sỹ luật học “ xét hỏi, tranh luận và vấn đề nâng cao tính tranh tụng của phiên
tòa hình sự sơ thẩm” của tác giả Lê Đức Thọ…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu và bài viết trên đã đề cập đến rất
nhiều nội dung xung quanh vấn đề tranh luận , tranh tụng trong TTHS Việt Nam và
những bài viết, công trình nghiên cứu trên đây là những tài liệu quý giá, giúp cho
tác giả luận văn có được các ý tưởng khoa học để xây dựng và hoàn thiện đề tài
này. Tuy nhiên, vẫn chưa có tài liệu, công trình nào đi xâu nghiên cứu, đánh giá về
mặt thực tiễn tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc để chỉ ra các nguyên nhân,
những tồn tài, vướng mắc và những bất cập gặp phải tại địa phương.
Ngày 27/11/2015, Bộ luật TTHS năm 2015 đã được Quốc hội thông qua
(đang tạm hoãn thi hành), đã có những bổ sung, sửa đổi tiến bộ, mở rộng nguyên
tắc và quy định về trạnh tụng trong TTHS, cũng như hoạt động tranh luận tại
phiên tòa. Tuy nhiên, việc kế thừa, tiếp tục nguyên cứu có hệ thông, toàn diện ,
đầy đủ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tranh luận tại các phiên tòa HSST,
qua đó đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật TTHS và nâng cao chất
lượng tranh luận vẫn là nhiệm vụ cần thiết của khoa học luật TTHS. Vì vậy, việc
đi sâu nghiên cứu về tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn
thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về mặt lý

- Một số vấn đề lý luận về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự;
- Quy định của pháp luật hiện hành về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ
thẩm hình sự;
- Thực trạng hoạt động tranh luận tại các phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự
những năm gần đây và những bất cập, vướng mắc;
4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu một số vấn đề lý luận về tranh luận tại phiên tòa xét xử
sơ thẩm hình sự, số liệu thực tiễn nghiên cứu trường hợp tại thành phố Vĩnh
Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đưa ra giải pháp để nâng cao chất lượng tranh luận
tại phiên tòa sơ thẩm hình sự.
Thời gian nghiên cứu: từ năm 2011 đến năm 2016.

5


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lenin, tư tưởng Hồ
Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, về cải cách tư pháp trong thời kỳ mới. Luận
văn sử dụng các phương pháp cụ thể để làm rõ những nội dung cần nghiên cứu
như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và phương pháp thống kê.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đề tài góp phần bổ sung và hoàn thiện vấn đề lý luận về tranh luận tại phiên
tòa xét xử sơ thẩm hình sự. Trên cơ sở đó tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp
luật về TTHS đối với thủ tục tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự;
giúp cho những nhà thực thi pháp luật có cái nhìn toàn diện hơn và đầy đủ hơn
về hoạt động này, từ đó nâng cao chất lượng tranh luận, giúp cho việc giải quyết
vụ án đạt hiệu quả cao nhất.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

của Tòa án” [19, tr.620]. Đây là một hình thức xét xử mang tính đặc thù, được
tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
Vậy phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự là như thế nào? Theo Bộ luật TTHS
hiện hành thì phiên tòa hình sự được phân thành bốn loại: phiên tòa sơ thẩm,
phiên tòa phúc thẩm, phiên tòa giám đốc thẩm và phiên tòa tái thẩm. Trong đó ,
phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm là hai cấp xét xử của tòa án, còn phiên tòa giám
đốc thẩm và tái thẩm là trình tự thủ tục đặc biệt trong TTHS.Phiên tòa xét xử sơ
thẩm hình sự là cấp xét xử thứ nhất và là trung tâm của quá trình tố tụng. Từ

7


những vấn đề đã được nêu trên ta tìm hiểu khái niệm về tranh luận tại phiên tòa
xét xử sơ thẩm hình sự là như thế nào ?
Có quan điểm cho rằng Tranh luận tại phiên tòa là “ Hoạt động của
những người tham gia tố tụng(các bên ) tại phiên tòa, trong việc trao đổi, bàn
cãi các ý kiến về vụ án”[21, tr.807].
Theo tài liệu tập huấn của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về kỹ năng, đối
đáp, tranh luận của Kiểm sát viên… có đưa ra khái niệm: “ Tranh luận của Kiểm
sát viên tại phiên tòa sơ thẩm về hình sự là sự trả lời, sự bàn cãi giữa Kiểm sát
viên với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác nhằm
làm rõ sự thật khách quan về mọi tình tiết buộc tội, tăng nặng, giảm nhẹ của vụ
án, giúp cho HĐXX ra một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp
luật”[42,tr.4]. Còn theo tiến sỹ Dương Thanh Biểu thì “ Tranh luận là việc các
bên (Kiểm sát viên, Luật sư và những người tham gia tố tụng khác) đưa ra quan
điểm về giải quyết vụ án, nhằm làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án. Hay nói cách
khác, tranh luận không chỉ là “được thua” mà cái quan trọng là thông qua nó
để làm rõ sự thật, làm rõ các tình tiết của vụ án”[1, tr.258].
Phân tích thêm về các chủ thể tham gia tranh luận, để được HĐXX đồng
ý với quan điểm của mình, các bên tham gia tranh luận phải đưa ra những lý lẽ,

Thứ nhất, Tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự không chỉ thể hiện
tính minh bạch, công khai và dân chủ của tố tụng hình sự mà còn thể hiện bản chất
dân chủ của Nhà nước XHCN của dân, do dân và vì dân. Việc tranh luận, đối đáp
của KSV với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác sẽ làm
cho phiên tòa khách quan, sống động hơn nhằm nâng cao uy tín của Tòa án, Viện
Kiểm sát cũng như củng cố niềm tin của nhân dân vào công lý.
Thứ hai, Tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự không phải là hoạt
động tố tụng không có giới hạn về phạm vi tranh luận. Phạm vi tranh luận tại phiên
tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được giới hạn về mặt không gia và thời gian. Về
mặt không gian, hoạt động tranh luận của các chủ thể tại phiên tòa xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự chỉ được thực hiện tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đó. Về

9


mặt thời gian thì thủ tục tranh luận được bắt đầu ngay sau khi Chủ tọa phiên tòa
tuyên bố kết thúc phần xét hỏi tiếp đến KSV trình bầy lời luận tội.
Thứ ba, Cũng như hoạt động tố tụng khác, tranh luận tại phiên tòa xét xử
sơ thẩm hình sự có nội dung nhất định theo quy định của pháp luật TTHS. Nội
dung tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự bao gồm toàn bộ các quan
điểm, lập luận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án hình sự mà các chủ thể
của bên buộc tội và bên gỡ tội đưa ra tại phiên tòa đề nghi HĐXX chấp nhận
hoặc bác bỏ khi ra phán quyết về vụ án. Nội dung tranh luận của các chủ thể tại
phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự cũng xoay quanh các vấn đề cần chứng minh
trong vụ án.
1.2. Mục đích, phạm vi, nội dung và chủ thể của tranh luận tại phiên tòa xét
xử sơ thẩm hình sự
Mục đích
Mục đích của tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự là nhằm để
tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Dưới sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa,

hình sự có nội dung nhất định theo quy định của pháp luật TTHS. Nội dung tại
phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự bao gồm toàn bộ quan điểm, lập luận về các
vấn đề cần thiết cho việc giải quyết vụ án mà các bên chủ thể đưa ra, để đề nghị
HĐXX chấp nhận hoặc bác bỏ khi ra phán quyết về vụ án. Tùy thuộc vào tính
chất xét xử các vụ án hình sự (sơ thẩm, phúc thẩm) mà nội dung tranh luận có
thể khác nhau. Tóm lại, nội dung mà các chủ thể tranh luận với nhau là những
vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự.
Chủ thể
Về phía các chủ thể tham gia tranh luận, để được HĐXX đồng ý với quan
điểm của mình, các bên tham gia tranh luận phải đưa ra những lý lẽ, những ý
kiến, những dẫn chứng cụ thể để bảo vệ quan điểm của mình và phản bác lại
quan điểm của bên đối lập, để từ đó thuyết phục được HĐXX chấp nhận quan
điểm của mình, Căn cư vào mục đích, vai trò, địa vị pháp lý của các chủ thể
tham gia tranh luận, chúng ta có thể chia ra thành các nhóm chủ thể sau:

11


Thứ nhất là các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội, bao gồm: Kiểm sát
viên, người bị hại và người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi của
người bị hại, nguyên đơn dân sự.
Thứ hai là các chủ thể thực hiện chức năng gỡ tội, bao gồm: Bị cáo, người
gỡ tội(người bào chữa), bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của bị cáo và
bị đơn dân sự.
Thứ ba là đối với chủ thể thực hiện chức năng xét xử là HĐXX – gồm
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thì không thực hiện việc tranh luận mà chỉ xét
hỏi và ngồi nghe lời trình bầy của các bên cùng với những chứng cứ khác để đưa
ra phán quyết cuối cùng.
1.3. Tranh tụng và tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự
Trong thời gian gần đây, khái niệm “tranh tụng” được nhắc đến nhiều sau

phiên tòa, tham gia vào việc làm rõ sự thật của vụ án và cơ sở áp dụng pháp
luật, làm căn cứ để HĐXX xem xét, quyết định”[3,tr.2].
Như vậy theo quan điểm này thì tranh tụng không chỉ là tranh luận tại
phiên tòa, mà tranh tụng còn cả ở các phần khác(xét hỏi, nghị án), tranh luận chỉ
là một phần của tranh tụng. Tranh luận công khai tại phiên tòa thể hiện một cách
tập trung và rõ nét nhất quá trình tranh tụng.
- Nhóm quan điểm thứ ba, đây là nhóm quan điểm đã được “từ điển hóa”,
cho rằng: Tranh tụng có nghĩa là: “Sự kiện cáo nhau giữa haibên (bên nguyên
và bên bị) có lập trường tương phản yêu cầu Tòa án phân xử” [23,tr.1288].
Hay “Tranh tụng là các hoạt động tố tụng được thực hiên bởi các bên tham
gia tố tụng (bên buộc tội và bên vị buộc tội) có quyền bình đẳng với nhau trong
việc thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ quan điểm và lợi ích của mình, phản
bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập. Tranh tụng tại phiên tòa là
những hoạt động tố tụng được tiến hành tại phiên tòa xét xử bởi hai bên tham
gia tố tụng, nhằm bảo vệ ý kiến, luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ý kiến, luận
điểm của phía bên kia, dưới sự điều khiển, quyết định của Tòa án với vai trò
trung gian, trọng tài”.[22,tr.807,808].

13


Quan điểm của tác giả Nguyễn Thái Phúc trong cuấn Dự thảo Bộ luật
TTHS (sửa đổi): “Tranh tụng là quá trình tồn tại, vận động và đấu tranh giữa
hai chức năng đối trọng nhau, có quyền ngang nhau trong việc bảo vệ ý kiến,
lập luận, lợi ích của phía bên kia: chức năng buộc tội và chức năng bào chữa”
[28,tr.7].
Có thể xem đây là quan điểm đúng nhất, đầy đủ nhất về tranh tụng. Theo
đó, quá trình tranh tụng không chỉ là tranh luận tại phiên tòa, nó được tiến hành
trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Và tại phiên tòa, tranh tụng được đặc
chưng bằng hoạt động tranh luận giữa bên buộc tội và bên gỡ tội. Ngoài ra, tranh

- Về chủ thể: Chủ thể tranh tụng trong TTHS rất đa dạng, có thể phân
thành các nhóm chủ thể chính sau:
+ Chủ thể thực hiện chức năng trọng tài (xét xử) là Tòa án: Bao gồm Thẩm
phán, Hội thẩm.
+ Các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội, bao gồm: Thủ trưởng cơ quan
điều tra, điều tra viên; Viện kiểm sát (KSV); người bị hại; nguyên đơn dân sự và
người đại diện của người bị hại.
+ Các chủ thể thực hiện chức năng gỡ tội, bao gồm: Luật sư; Người bị tình
nghi (người bị tạm giữ); bị can; bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị can, bị
cáo chưa thành niên; bị đơn dân sự và người bào chữa cho bị đơn dân sự.
+ Cùng các chủ thể khác, bao gồm: người làm chứng; người giám định;
người định giá; nhà chuyên môn; người phiên dịch; người chứng kiến.
“Nhưng có một số quan điểm khoa học thì cho rằng chủ thể Tranh tụng chỉ
có chủ thể của bên buộc tội và chủ thể của bên gỡ tội và theo tác giả thì quan
điểm này giống với chủ thể tham gia vào quá trình tranh luận cũng như không
thể phân biệt được về tiêu chí chủ thể giữa Tranh tụng và Tranh luận”.
So với các chủ thể tham gia tranh tụng, phạm vi các chủ thể tham gia vào
quá trình tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự hẹp hơn: chỉ bảo gồm
chủ thể của bên buộc tội và chủ thể của bên gỡ tội dưới sự điều khiển của Chủ
tọa phiên tòa. Chủ tọa phiên tòa và Hội thẩm (HĐXX) không tham gia vào quá
trình tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự.

15


- Về nội dung: Nội dung tranh tụng tại Phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự
bao gồm tất cả các vấn đề khác nhau cần giải quyết trong toàn bộ quá trình xét
xử vụ án (từ khi khai mạc đến khi kết thúc phiên tòa) như: đưa ra chứng cứ mới
bằng cách yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, đưa ra vật chứng hoặc tài
liệu mới, thay đổi thành viên HĐXX, KSV, Thư ký Tòa án, người giám định,

15/01/1946 bổ khuyết Sắc lệnh ngày 13/09/1945 như sau: “Đứng buộc tội tùy
quyết định của Bộ trưởng Bộ tư pháp sẽ là một Ủy viên quân sự hay một Ủy viên
của Ban trinh sát hoặc một nhân viên của Công tố viện do ông Trưởng lý Tòa
thượng thẩm chỉ định”[5]; Còn theo Điều 41 Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 về
tổ chức Tòa án và ngạch Thẩm phán (sửa đổi Sắc lệnh số 85/SL ngày
22/05/1950):”Sau khi nghe các bị can, các người làm chứng, các cáo trạng của
ông Công tố viên, và sau cùng, nghe lời cãi của các bị can, ông Chánh án Tòa
án nhân dân Phúc thẩm khu hoặc thành phố và các ông Hội thẩm chuyên môn,
Hội thẩm nhân dân lui vào phòng nghị sự để cùng quyết định về tất cả các vấn
đề thuộc về tội trạng, hình phạt, trường hợp tăng tội và trường hợp giảm tội…”.
Ngoài ra, Sắc lệnh còn quy định khá rõ trách nhiệm của Thẩm phán khi làm
nhiệm vụ xét xử tại tòa: “Các Thẩm phán làm đầy đủ bổn phận, dự đều các
phiên tòa, xét xử thật nhanh tróng và thật công minh”[6].
Trong Sắc lệnh số 51/ST ngày 17/04/1946 về ấn định thẩm quyền các Tòa
án và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án cũng có quy định thể hiện
nội dung thủ tục tranh luận tại phiên tòa thời kỳ đó. Tại điều 26 sắc lệnh này quy
định: “Ông Công tố viên Tòa án nhân dân tỉnh hoặc thành phố bắt buộc phải có
mặt tại các phiên tòa hình và hộ. Khi ra phiên tòa, ông Công tố viên cũng như
bên bị cùng bên dân sự nguyên cáo, có quyền yêu cầu Tòa thi hành mọi phương
sách cần thiết để chứng tỏ sự thật. Khi cuộc thẩm vấn ở phiên tòa xong rồi, ông
Công tố ủy viên thay mặt xã hội buộc tội bị can. Bao giờ ông Công tố ủy viên
cũng nói sau dân sự nguyên cáo. Bên bị can được nói sau cùng, trước khi tòa
tuyên án. Tòa không bắt buộc phải xử theo lời yêu cầu của ông Công tố ủy
viên”[7]. Thủ tục tại phiên tòa còn được quy định trong Sắc lệnh số 190 ngày
01/10/1946 quy định về thẩm quyền truy tố của Tòa án; Sắc lệnh số 163 ngày

17


23/08/1946 về tổ chức Tòa án binh lâm thời; Sắc lệnh số 19 ngày 16/02/1947


Luật sư bào chữa cho mình. Bị cáo cũng có thể nhờ người công dân được đoàn
thể nhân dân giới thiệu hoặc được Tòa án nhân dân chấp nhận bào chữa cho
mình. Khi cần thiết, Tòa án nhân dân chỉ định người bào chữa cho bị cáo”[32].
Có thể thấy pháp luật nước ta thời kỳ này đã quan tâm đến quyền bào chữa của
bị cáo, nó được xem là một quyền đối trọng với quyền buộc tội của Viện kiểm
sát. Đây là những quy định làm cơ sở cho hoạt động tranh luận tại phiên tòa
HSST sau này. Trong khi đó Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 quy
định, Viện kiểm sát nhân dân được thành lập một hệ thông độc lập (thay thế
Viện công tố trước đây) để thực hiện chức năng buộc tội (truy tố và thực hành
quyền công tố).
Đến năm 1988, Bộ luật TTHS đầu tiên của nước ta ra đời và đã quy định
tương đối đầy đủ và cụ thể trình tự, thủ tục tranh luận tại phiên tòa. Tuy nhiên
sau gần 15 năm thực hiện và cũng đã được sửa đổi bổ sung 3 lần vào các năm
1990, 1992 và 2000 nhưng các quy định của Bộ luật TTHS năm 1988 nói chung
và các quy định liên quan đến tranh luận tại phiên tòa nói riêng đã bộc lộ nhiều
bất cập, hạn chế không đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp của nước ta trong
thời kỳ mới. Đến lần sửa đổi năm2003, BLTTHS năm 2003 đã dành hẳn một
chương XXI (từ điều 217 đến điều 221) quy định cụ thể và đầy đủ hơn về trình
tự, thủ tục tranh luận tại phiên tòa HSST. Vì vậy, hoạt động tranh luận, đối đáp
tại phiên tòa nói chung và của KSV nói riêng với bị cáo, người bào chữa và
những người tham gia tố tụng khác đã có những chuyển biến tích cực, rõ nét.
1.4.1 Các quy định trong BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015(đang
tạm hoãn) liên quan đến tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự
Các qui định trong BLTTHS 2003 liên quan đến tranh luận tại phiên tòa
HSST bao gồm một số qui định mang tính nguyên tắc của TTHS, một số qui
định chung và các qui định cụ thể tại chương XXI (điều 217 – 221).
- Đối với những qui định mang tính nguyên tắc bảo đảm việc tranh luận tại
phiên tòa HSST, các nguyên tắc đó bao gồm: Bảo đảm quyền bình đẳng trước


đưa ra đề nghị của mình;…Chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị Kiểm sát viên

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status