BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI DÂN TỘC Ê ĐÊ QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ
MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH Ở TRƯỜNG MẦM NON
Người hướng dẫn:
TS: Đinh Văn Vang
Học viên:
Chương H' Viên Niê
Chuyên ngành:
Giáo dục Mầm non
Mã số chuyên ngành: 60140101
MỞ ĐẦU
Hà Nội, tháng
năm 2017
MỞ6 ĐẦU
1
1. Lí do chọn đề tài
và kĩ năng giao tiếp. Khi khám phá MTXQ, dưới sự tổ chức - hướng dẫn của cô,
trẻ cùng nhau tìm hiểu, trao đổi với nhau về đối tượng khám phá, do vậy không
chỉ giúp trẻ có những hiểu biết nhất định về MTXQ mà vốn từ, kĩ năng giao tiếp
của trẻ cũng được phát triển.
Trong thực tế ở các vùng dân tộc thiểu số nước ta, trình độ tiếng Việt của
trẻ nhiều hạn chế. Điều này thể hiện rất rõ ở vốn từ tiếng Việt và kĩ năng giao
tiếp tiếng Việt của trẻ em dân tộc thiểu số: vốn từ tiếng Việt nghèo nàn, phát âm
còn ngọng, chưa có kĩ năng giao tiếp tiếng Việt... Nguyên nhân của sự hạn chế
này có thể là do trẻ không được thường xuyên giao tiếp tiếng Việt và người lớn
chưa thực sự quan tâm đến vấn đề giao tiếp tiếng Việt của trẻ. Đây là rào cản lớn
trong việc tiếp thu, lĩnh hội tri thức cũng như sự tự tin, mạnh dạn trong sinh hoạt
của trẻ. Như chúng ta đã biết, Đăk Lăk là một trong những tỉnh miền núi có 16
dân tộc anh em cùng sinh sống. Sau dân tộc Kinh, dân tộc Ê-đê là dân tộc có
nhiều người cư trú ở Đăk Lăk, ngay trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột cũng
có bốn buôn làng là người dân tộc Ê-đê. Năm học 2016 - 2017, thành phố Buôn
Ma Thuột có khoảng 46 trường mẫu giáo. Trong đó tỉ lệ trẻ 5 - 6 tuổi người dân
tộc Ê-đê chiếm khoảng 10%. Phần lớn trẻ đều gặp khó khăn trong việc giao tiếp
tiếng Việt. Do vậy việc dạy trẻ dân tộc thiểu số nói chung, dân tộc Ê-đê nói
tiếng Việt, giao tiếp tiếng Việt là rất cần thiết, giúp các em tự tin bước vào
trường phổ thông.
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn thực hiện đề tài: Phát triển kĩ năng giao
tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê qua hoạt động khám phá MTXQ ở
trường mầm non. Hi vọng kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần làm phong phú thêm
cơ sở lí luận và thực tiễn về việc phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ em
dân tộc thiểu số nói chung, trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc E-đê nói riêng.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và đánh giá thực trạng kĩ năng giao tiếp tiếng
Việt của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê ở trường mầm non tại thành phố Buôn Ma
Thuột - tỉnh Đăk Lăk, đề xuất một số biện pháp tổ chức hoạt động khám phá
4
Trong khuôn khổ của luận văn này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu
những biện pháp tổ chức hoạt động khám phá MTXQ ở trường mầm non nhằm
phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê.
6.2. Giới hạn về chọn mẫu nghiên cứu
- Mẫu khảo sát thực trạng: Khảo sát 30 giáo viên mầm non và 100 trẻ 5 - 6
tuổi dân tộc Ê-đê (50 trẻ em trai, 50 trẻ em gái).
- Mẫu thực nghiệm: 4 giáo viên mầm non và 40 trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê.
6.3. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành ở 3 trường mầm non Tân Lập, Tân Lợi, Ea Tu thành phố Buôn Ma Thuột – Đắk Lắk.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu, phân tích, hệ thống hoá, khái quát hoá các vấn đề lí luận có liên
quan nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát:
Quan sát những biểu hiện kĩ năng giao tiếp tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi dân
tộc Ê-đê trong hoạt động khám phá MTXQ ở trường mầm non và việc giáo viên
sử dụng biện pháp tổ chức hoạt động khám phá MTXQ nhằm phát triển kĩ năng
giao tiếp tiếng Việt cho trẻ.
- Phương pháp đàm thoại:
+ Trò chuyện, trao đổi với giáo viên, cán bộ quản lí chuyên môn, để tìm hiểu
các thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu.
+ Trò chuyện trực tiếp với trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê để tìm hiểu về đặc
điểm giao tiếp; hứng thú, tính tích cực giao tiếp và kĩ năng giao tiếp tiếng Việt
của trẻ; những khó khăn trong quá trình giao tiếp tiếng Việt của trẻ.
- Phương pháp điều tra viết:
Điều tra bằng phiếu Ankét các giáo viên mầm non dạy các lớp mẫu giáo 5
Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê qua hoạt động khám phá MTXQ ở trường
mầm non và làm phong phú cơ sở lí luận về giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê.
6
- Xác định được những tác động của giáo viên trong quá trình tổ chức hoạt
động khám phá MTXQ cho trẻ ở trường mầm non đến việc phát triển kĩ năng
giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê.
- Xây dựng được một số biện pháp tổ chức hoạt động khám phá MTXQ ở
trường mầm non nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân
tộc Ê-đê.
8.2. Về thực tiễn
- Trên cơ sở điều tra, khảo sát thực tiễn, luận văn đã đánh giá một cách toàn
diện, khách quan về thực trạng kĩ năng giao tiếp tiếng Việt của trẻ 5 - 6 tuổi dân
tộc Ê-đê, tìm ra những khó khăn khi trẻ giao tiếp tiếng Việt và các biện pháp
giáo viên sử dụng để phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân
tộc Ê-đê khi tổ chức cho trẻ khám phá MTXQ ở trường mầm non.
- Những biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt được đề xuất và
kiểm chứng qua thực nghiệm sư phạm có giá trị trong việc phát triển kĩ năng
giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Ê-đê. Đây có thể là tài liệu tham
khảo hữu ích cho giáo viên, phụ huynh dân tộc thiểu số trong việc phát triển kĩ
năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ em lứa tuối mầm non.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6
tuổi dân tộc Ê-đê qua hoạt động khám phá MTXQ ở trường mầm non
Chương 2: Thực trạng biện pháp tổ chức hoạt động khám phá MTXQ ở
trường mầm non nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi
dân tộc Ê-đê
người”.[29; tr7]
Tuy nhiên, trước thế kỉ XIX giao tiếp chưa được nghiên cứu như một môn
chuyên ngành tâm lí học.
Từ thế kỉ XIX, giao tiếp đã được đánh giá có tầm quan trọng đặc biệt trong sự
hình thành và phát triển bản chất xã hội con người. Với các công trình:
“Vấn đề giao tiếp, những đặc trưng của nó trong công việc của con người”
của A.A.Bodalivo (1972)
“Tâm lí học giao tiếp” của A.A.Lêonchiev (1974)
“Giao tiếp là vấn đề của tâm lí học đại cương” (1978) của A.Ph.Lomov,
Ở giai đoạn này, vấn đề giao tiếp được nghiên cứu và phân tích khá chi tiết
dưới góc độ tâm lí học đại cương của A.Ph.Lomov trong chuyên thảo “Vấn đề
giao tiếp trong tâm lí học” (1981). Và tiếp sau đó có hàng loạt những công trình
nghiên cứu khác về giao tiếp.
Và các công trình nghiên cứu đó chủ yếu đi theo hai hướng chủ đạo sau:
+ Hướng thứ nhất: Nhấn mạnh các khía cạnh thông tin trong giao tiếp:
Đại diện cho các hướng này là các nhà khoa học, các nhà tâm lí:
M.A.Acgain, K.K.Platonov, I.A.L.Kolominxki, L.P.Bueva, Laswell (1948),
G.Thines(1975), V.N.Panpherov, N.Wiener (1971), G.Perdonici (1963)...
Chẳng hạn như: K.K.Platonov và G.G.Golubev đã liệt giao tiếp vào một
trong những “loại hình hoạt động” cho rằng: “Giao tiếp là sự trao đổi thông tin
giữa con người với nhau” và “giao tiếp là sự tác động lẫn nhau trên cơ sở phản
ánh tâm lí lẫn nhau” [29]
9
I.A.L.Kolominxki lại mô tả: “Giao tiếp là sự tác động qua lại có đối
tượng và thông tin giữa con người với con người trong đó những quan hệ liên
quan đến nhân cách được thực hiện, bộc lộ và hình thành” [Dẫn theo 3]
Còn nhà nghiên cứu L.P.Bueva lại cho rằng: “Giao tiếp không chỉ là một
quá trình tinh thần mà còn là quá trình vật chất, quá trình xã hội, trong đó diễn
Platonov, A.A. Bodalev… Cho rằng hai quan điểm nêu trên đều có mặt hợp lí và
chưa hợp lí, chưa thỏa đáng. Hoạt động và giao tiếp gắn chặt với nhau, không thể
hiểu đúng bản chất của giao tiếp nếu tách rời hoạt động. Đồng thời nếu tuyệt đối
hóa bất cứ phạm trù nào đều dẫn đến sai lầm.
1.1.1.2. Ở trong nước
Đến nay, giao tiếp đã trở thành nội dung nghiên cứu phổ biến trong nhiều
lĩnh vực khác nhau và được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Khái quát các
nghiên cứu về giao tiếp ở Việt nam có thể chia làm ba hướng như sau:
+ Hướng thứ nhất: Xem giao tiếp là một tiến trình truyền đạt thông tin:
Các tác giả đã đề cập như: Nguyễn Văn Lê (1992), Nguyễn Khắc Viện (1995),
Nguyễn Thị Phượng và Dương Quang Huy (1997), Trần Thị Minh Đức.
Theo “Từ điển tâm lí học” của Nguyễn Khắc Viện. “Giao Tiếp là quá trình
truyền đi, phát đi một thông tin từ một người hay một nhóm cho một người hay
một nhóm khác, trong mối quan hệ tác động lẫn nhau (Tương tác). Thông tin
hay thông điệp được phát mà người nhận phải giải mã, cả hai bên đều vận dụng
một mã chung” [41]. Theo Trần Thị Minh Đức (chủ biên): “Giao tiếp là quá
trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích nhận thức thông
qua sự trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, sự ảnh hưởng tác động qua
lại với nhau”[8].
+ Hướng thứ 2: Xem giao tiếp là sự tiếp xúc tác động ảnh hưởng lẫn nhau:
Theo hướng này có các tác giả: Phạm Minh Hạc (1988), Trần Trọng Thủy,
Nguyễn Ngọc Bích (1995), Ngô Công Hoàn (1992), Nguyễn Thạc - Hoàng Anh
(1992), Nguyễn Quang Uẩn (1998)…
Tác giả Ngô Công Hoàn với vấn đề nghiên cứu: “Vấn đề giao tiếp” trong
tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kì 92 - 96 cho GV tiểu học.
11
“Một số vấn đề tâm lí học về giao tiếp sư phạm” (1992) [14]; năm 1997
Vấn đề khái niệm giao tiếp, hình thành nhu cầu và kĩ năng giao tiếp của trẻ
được phản ánh trong các công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Ánh
Tuyết, Nguyễn Thạc, Ngô Công Hoàn, Lê Xuân Hồng. Các tác giả đã cho thấy
rằng giao tiếp có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển nhân cách toàn diện
của trẻ. Đồng thời trong các tác phẩm đó, các tác giả cũng nêu lên được nhu cầu
giao tiếp của trẻ em như thế nào, và đặc điểm về giao tiếp trẻ em qua từng độ
tuổi khác nhau. Bên cạnh đó các tác giả cũng chỉ ra được các đối tượng giao tiếp
của trẻ và tầm ảnh hưởng của các đối tượng đối với sự hình thành nhân cách của
một đứa trẻ như trẻ giao tiếp với người lớn, với bạn cùng tuổi, bạn khác giới và
với thế giới đồ vật. Mỗi đối tượng trẻ thể hiện một cách giao tiếp riêng biệt. Đặc
biệt các tác giả này đều đề cao vai trò sư phạm của người giáo viên mầm non,
đây là một đối tượng có sự ảnh hưởng trực tiếp rất lớn đến quá trình giao tiếp
của đứa trẻ. Để từ đó các tác giả xây dựng nên các hình thức, phương pháp, môi
trường…. nhằm góp phần hình thành cho trẻ kĩ năng giao tiếp (KNGT) tốt nhất
có thể.
Cùng chủ đề nghiên cứu về giao tiếp ở lứa tuổi trẻ em, năm 2003, tác giả
Hoàng Thị Phương, nghiên cứu một số biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có
văn hóa cho trẻ 5 đến 6 tuổi, giao tiếp được khai thác dưới góc độ hành vi văn
hóa sơ đẳng nhưng là cơ bản, phổ biến, đặc trưng cho lứa tuổi mẫu giáo lớn. Đó
là những kĩ năng mang tính nền tảng làm cơ sở để giáo dục và phát triển sau này
cho trẻ thơ ở tuổi học tiểu học. [27]
Nguyễn Ánh Tuyết cũng xuất bản cuốn “Giáo dục trẻ em trong nhóm bạn
bè”, (1987) [37] “Sự hình thành xã hội trẻ em trước tuổi học” (1988) [38] với
hai tác phẩm này thì tác giả đề cao vai trò của hoạt động nhóm, hoạt động tập
thể trong đó hoạt động giao tiếp nắm vai trò chủ đạo có ý nghĩa quan trọng trong
sự hình thành và phát triển nhân cách xã hội cho trẻ em trong suốt cuộc đời.
Trong luận án PTS của Lê Xuân Hồng “Một số đặc điểm giao tiếp của
trẻ mẫu giáo trong nhóm chơi không cùng độ tuổi” (1996) [16] và Nguyễn Xuân
Thức: “Nghiên cứu tính tích cực về giao tiếp của trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động
phối hợp các chuyên gia, các trường sư phạm và địa phương xây dựng tài liệu
hướng dẫn tăng cường tiếng Việt dành cho cán bộ quản lí, giáo viên mầm non
14
cốt cán ở tất cả các tỉnh, thành phố có trẻ em người DTTS trên cả nước và nhân
viên hỗ trợ ngôn ngữ, nhằm hỗ trợ về nội dung, phương pháp tăng cường giao
tiếp tiếng Việt.
1.2. Những vấn đề chung về giao tiếp và kĩ năng giao tiếp
1.2.1. Giao tiếp
1.2.1.1. Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp là một hiện tượng tâm lí phức tạp và có nhiều mặt, nhiều cấp độ
khác nhau. Có nhiều định nghĩa khác nhau về giao tiếp. Mỗi định nghĩa đều
được dựa trên một quan điểm riêng và có hạt nhân hợp lí của nó.
Dưới góc độ thông tin học, có tác giả cho rằng: Giao tiếp là một quá trình
trao đổi và truyền đạt thông tin.
Người đầu tiên đề cập đến vấn đề này là Weiner - nhà tâm lí học người Anh
(1947), tiếp theo là nhà Xã hội học người Mỹ Laswell (1948), Georgen Thines
và các cộng sự (1975) đã nêu “Giao tiếp được coi là sự truyền đạt thông tin, qua
đó các trạng thái của hệ thống phát thông tin phát huy ảnh hưởng tới hệ thống
nhận thông tin”. Thậm chí J. P Gruere (1982) đã đưa ra một định nghĩa mang
tính vật lí về giao tiếp như sau: “Sự giao tiếp là một quá trình chuẩn trong đó một
thông điệp được chuyển tải từ một bộ phát tới một bộ thu, thông qua một chuỗi
các yếu tố được gọi là nguồn, kênh, địa chỉ” [Dẫn theo 34] “Là một tin nào đó
được truyền từ điểm này sang điểm khác” G.A.Miller (1956) [Dẫn theo 34]
Hạn chế của các định nghĩa trên là coi hoạt động giao tiếp như một chương
trình được mã hóa, xem nhẹ yếu tố chủ thể, xem nhẹ mối liên hệ nhân cách của quá
trình giao tiếp và hạn chế hoạt động sáng tạo của nhân cách.
Dưới góc độ tâm lí học, giao tiếp được hiểu là hoạt động xác lập và vận
hành các mối quan hệ người và người, hiện thực hóa quan hệ giữa người với
sinh sự tiếp xúc tâm lí, được biểu hiện ở các quá trình thông tin, hiểu biết, rung
cảm, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau” [30]
Từ điển tâm lí, do bác sĩ Nguyễn Khắc Viện chủ biên, Trung tâm Nghiên cứu
tâm lí trẻ em, Hà Nội – 1991: “Giao tiếp là sự trao đổi giữa người với người
thông qua ngôn ngữ nói, viết, cử chỉ. Ngày nay từ này hàm ngụ sự trao đổi thông
16
qua một bộ mã (code). Người phát tin mã hóa một số tín hiệu, người nhận tin giải
mã, một bên truyền một ý nghĩa nhất định để bên kia hiểu được.” [41]
Như vậy, dưới góc độ tâm lí học, các tác giả tuy chưa có sự đồng nhất về
định nghĩa giao tiếp nhưng nhìn chung tất cả các khái niệm đều có nói lên được
một số đặc điểm chung như sau: “Giao tiếp là sự tiếp xúc giữa người với người
trong cộng đồng xã hội qua đó xác lập và hiện thực hóa các mối quan hệ xã hội
của họ nhằm giúp họ thỏa mãn nhu cầu nhất định”
Dưới góc độ ngôn ngữ học cũng có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về
giao tiếp.
- Theo từ điển tiếng Việt:“Giao tiếp là sự tiếp xúc trao đổi với nhau giữa con
người với con người bằng ngôn ngữ” (1992), “Từ điển tiếng Việt”, Trung tâm
từ điển Ngôn ngữ, Hà Nội.
- Trong Đại từ điển tiếng Việt, tác giả Nguyễn Như Ý giải thích giao tiếp là
“Sự thông báo hay truyền đạt thông báo nhờ một hệ thống mã nào đó” [44]
- Theo Berge (1994), giao tiếp được hiểu như một “quá trình thông tin diễn
ra giữa ít nhất là hai người giao tiếp trao đổi với nhau, gắn với một ngữ cảnh và
một tình huống nhất định”. Như vậy giao tiếp cũng có thể định nghĩa như một
thuật ngữ chỉ loại, bao trùm tất cả các thông điệp được phát ra được hiểu là tin
đã được mã hóa thành lời nói hoặc lời viết, được truyện đi từ người phát đến
người nhận. [Dẫn theo 33]
- Diệp Quang Ban, Đinh Trọng Lạc (1991) cho rằng: “Giao tiếp là sự tiếp
- Chức năng định hướng hoạt động.
- Chức năng nhận thức (chức năng phản ánh).
- Chức năng đánh giá và điều chỉnh
Theo các nhà tâm lí học xã hội thì giao tiếp có hai chức năng cơ bản sau:
- Chức năng liên kết.
- Chức năng hòa nhập.
Theo các nhà tâm lí học Xô viết B. F. Lomov & A.A.Bodaliov thì giao tiếp
có ba chức năng cơ bản sau:
- Chức năng nhận thức: Thông tin, thông báo.
- Chức năng đánh giá thái độ.
18
- Chức năng điều chỉnh, điều khiển.
Nhưng các nhà ngôn ngữ học cấu trúc thì cho rằng giao tiếp thực hiện các
chức năng sau:
- Chức năng nhận thức: Nhờ có chức năng này mà con người có thể truyền
đạt, lĩnh hội các sự kiến, khái niệm, những giá trị trong quá trình giao tiếp.
- Chức năng duy trì sự tiếp xúc: chức năng này giúp người giao tiếp có thể
lấp chỗ trống khi tiến hành đối thoại.
- Chức năng siêu ngôn ngữ: là chức năng rút gọn- nói ít, hiểu nhiều trong
quá trình giao tiếp.
- Chức năng quy chiếu: đòi hỏi chủ thể giao tiếp phải hiểu được đặc điểm,
tâm lí của đối tượng giao tiếp để đảm bảo hiệu quả giao tiếp.
- Chức năng thơ mộng: thể hiện trong các cuộc giao tiếp có tính chất văn
hóa nghệ thuật.
Theo Ngô Công Hoàn: nếu coi giao tiếp là một phạm trù của Tâm lí học hiện
đại thì bản thân quá trình giao tiếp thực hiện các chức năng:
- Chức năng định hướng hoạt động của con người.
- Chức năng điều chỉnh, điều khiển hành vi của con người.
tương ứng với các cách gọi như trên ta còn có thể gọi là hiển ngôn (nói chỉ) hay
hàm ngôn (nói ví).
- Kiểu nói chỉ theo những quy ước rõ ràng ngôn ngữ nói hay viết với từ vựng,
ngữ nghĩa nhất định. Ngôn ngữ toán học, vi tính, chữ người mù thuộc kiểu này.
- Kiểu nói ví vận dụng giọng nói, tư thế, cử chỉ tức những kênh cận ngôn ngữ
hay phi ngôn ngữ diễn tả tình cảm, và những yếu tố chủ quan, quan hệ cảm xúc
giữa hai bên đối thoại. Ở đây không có những chỉ báo nói rõ mạch lạc, khung
cảnh, bối cảnh. Giữa hai kiểu này có thể ăn khớp hay không và mọi sự giao tiếp
đều diễn ra trong một bối cảnh nhất định.
- Ngôn ngữ tình thái (Ngôn ngữ biểu cảm về trạng thái tình cảm của người
nói) nhằm phản ánh khía cạnh tâm lí, xã hội của chủ thể, giúp cho đối tượng
hiểu được tốt hơn ý nghĩa của nội dung thông tin. Ngôn ngữ tình thái phản ánh
thái độ của người nói đối với thông tin mình nói ra, cách người đó đánh giá tính
20
hiện thực hay không hiện thực, mức độ của tính xác thực, tính tất yếu, tính khả
thi, tính chất mong muốn hay đáng tiếc của điều thông báo.
* Phương tiện phi ngôn ngữ:
Giao tiếp phi ngôn ngữ được thể hiện thông qua sự vận động của cơ thể
như cử chỉ, tư thế, nét mặt; thông qua cách trang phục hoặc tạo ra khoảng không
gian nhất định khi tiếp xúc. Giao tiếp phi ngôn ngữ ra đời trước giao tiếp ngôn
ngữ, có cội nguồn sinh học dựa trên cơ sở hành vi bản năng gắn liền với quá
trình tiến hoá, di truyền từ thế giới động vật. Trong giao tiếp phi ngôn ngữ,
không phải lúc nào cũng có sự tham gia của ý thức, vì thế nên qua hình thức
giao tiếp này người ta thường bộc lộ chân thật các cảm nghĩ, thái độ, ý kiến…
của mình, tuy nhiên lại không dễ hiểu được chúng. Đây là kiểu giao tiếp được
thể hiện thông qua sự vận động của cơ thể như cử chỉ, tư thế, nét mặt, giọng
nói… Thông qua các trang phục hoặc tạo ra khoảng không gian nhất định khi
tuần tuổi đã bắt đầu giao tiếp, tuy sơ đẳng nhưng đó là một dạng hoạt động rất
đặc thù của con người. Nó tạo ra cái mà tâm lí học gọi là “cộng sinh cảm xúc”
của trẻ với người nuôi dạy trẻ, đây là một nhân tố rất cần cho sự phát triển tâm lí
và sinh lí của trẻ.
Đến tuổi thiếu niên, giao tiếp lại nổi lên một lần nữa với vai trò quan trọng
đặc biệt đối với sự phát triển tâm lí, nhân cách của cá nhân. Có nhiều ý kiến cho
rằng, trong nhiều trường hợp, ở lứa tuổi này, giao tiếp bạn bè có ảnh hưởng tới
hứng thú, tinh thần, thái độ học tập hơn là học tập. Thậm chí có nhiều công trình
nghiên cứu cho rằng, ở tuổi thiếu niên, các cơ chế xã hội, chuẩn mực xã hội và
phần nào tri thức đi vào từng em qua con đường giao tiếp.
Nhờ có giao tiếp, con người học được cách đánh giá hành vi và thái độ, lĩnh
hội được các tiêu chuẩn đạo đức từ cuộc sống, kiểm tra và vận dụng các tiêu
chuẩn đó vào thực tiễn. Thiếu sự giao tiếp thì những phẩm chất nhân cách quan
trọng nhất như tinh thần trách nhiệm, nghĩa vụ, tính nguyên tắc, lòng vị tha, sự
trung thực, lòng thành trong giao tiếp… không thể có được.
Trong quá trình giao tiếp, con người không chỉ nhận thức được người khác
mà còn nhận thức chính bản thân mình. Bất kì người nào cũng đều đối chiếu cái
mà họ quan sát được ở mình với cái mà họ nhìn thấy ở những người xung
22
quanh, từ đó họ thu nhận được thông tin cần thiết để hình thành một thái độ, giá
trị. Phạm vi giao tiếp càng rộng, hình thức giao tiếp càng đa dạng thì những
thông tin càng muôn màu muôn vẻ, càng phong phú.
Giao tiếp là điều kiện tồn tại của con người, không có giao tiếp với người
khác con người cảm thấy cô đơn và đôi khi trở thành bệnh hoạn. C.Mác đã chỉ ra
rằng: “Sự phát triển của mỗi cá nhân được quy định bởi sự phát triển của tất cả
các cá nhân khác mà họ giao lưu một cách trực tiếp”. Con người có rất nhiều nhu
cầu, nhưng quan trọng hơn hết đó là nhu cầu được tiếp xúc với người khác. Nhu
cầu về sự tiếp xúc tình cảm với người khác là mặt quan trọng của nhu cầu giao
con người như là thành viên của xã hội, như là nhân cách”. Thông qua giao tiếp,
cá nhân dễ dàng gia nhập vào các mối quan hệ xã hội với những cá nhân khác và
với toàn xã hội.
Giao tiếp có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Giao tiếp có mặt trong
mọi hoạt động của con người. Có thể khẳng định: nếu không có giao tiếp thì
không có sự tồn tại xã hội, vì xã hội là một cộng đồng người có sự ràng buộc, liên
kết với nhau. Qua giao tiếp, con người biết được các giá trị xã hội của người khác
và bản thân, trên cơ sở đó, cá nhân tự điều khiển, điều chỉnh bản thân theo các
chuẩn mực xã hội, do đó nhân cách của con người ngày càng hoàn thiện hơn.
Tóm lại, cuộc sống là một chuỗi hoạt động và giao tiếp của con người, nó
chính là sự tạo lập và xử lí một loạt các mối quan hệ: con người - con người; con
người - thế giới tự nhiên; con người - xã hội (quá khứ, hiện tại, tương lai)… xảy
ra xung quanh cuộc sống của mỗi cá thể. Bằng hoạt động và giao tiếp của mình,
mỗi người trở thành người, xã hội hóa bản thân, gia nhập vào các quan hệ xã
hội, chuyển hóa các quan hệ này thành của chính mình, nhập tâm các quan hệ ấy
thành tâm lí, ý thức, nhân cách… như C. Mác đã khẳng định “Trong tính hiện
thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. Các
quan hệ người - người được thể hiện trong sự giao tiếp, giao tiếp có mặt trong
mọi hoạt động của con người. Trong hoạt động, con người phải xác định được
quan hệ giữa nhóm người này với nhóm người kia, thậm chí là cả thế hệ trước
với thế hệ sau. Do đó giao tiếp là điều kiện tất yếu của sự hình thành và phát
triên tâm lí người .
24
1.2.2. Kĩ năng giao tiếp
1.2.2.1. Khái niệm kĩ năng và kĩ năng giao tiếp
* Khái niệm kĩ năng:
Theo Từ điển tiếng Việt, kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu
nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế. [26]