BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
CỤC TRỒNG TRỌT
BÁO CÁO
THÍCH ỨNG CỦA NGÀNH TRỒNG TRỌT
VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM
Hà Nội tháng 01/2010
LỜI NÓI ĐẦU
Đây là bản Báo cáo cuối cùng của Dự án: "Giảm thiểu và Thích ứng của ngành
Trồng trọt đối với Biến đổi khí hậu ở Việt Nam" do Cục Trồng trọt, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện tháng 1 năm 2010.
Dự án được thực hiện theo thoả thuận LOA - FAVIE, TCP/VIE/3201 ký kết ngày
12 tháng 8 năm 2009 giữa Đại diện của Tổ chức nông lương Liên hợp Quốc
(FAO) tại Việt Nam và Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,
Việt Nam.
Thay mặt Cục Trồng trọt, Tôi xin chân thành cảm ơn Tổ chức Nông lương Liên
hợp Quốc (FAO) đã tài trợ Dự án này, nếu không có sự tài trợ của FAO, nghiên
cứu này đã không thực hiện được.
Xin chân thành cảm ơn ông Andrew Speedy và ông Vũ Ngọc Tiến - đại diện của
tổ chức FAO tại Việt Nam, đặc biệt xin cảm ơn các nhà tư vấn trong nước và quốc
tế đã giúp đỡ chúng tôi thực hiện Dự án cũng như việc hoàn thành bản báo cáo
này.
Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Cục trưởng
Nguyễn Trí Ngọc
2
Kết quả và thảo luận
4.1. Khái quát về Việt Nam và ngành Trồng trọt
5
3.
4.
4.1.1. Khái quát về Việt Nam
4.1.2. Khái quát về Ngành Trồng trọt Việt Nam
4.2. Biến đổi khí hậu ở Việt Nam
4.3. Ảnh hưởng của BĐKH đối với Ngành Trồng trọt ở Việt Nam
4.3.1. Ảnh hưởng của BĐKH đối với đất trồng trọt
4.3.2. Ảnh hưởng của BĐKH đối với sản lượng cây trồng
4.3.3. Ảnh hưởng của BĐKH đối với An ninh lương thực và Thương mại
hoá hàng hoá nông nghiệp.
4.3.4. Quan điểm của nông dân về ảnh hưởng của BĐKH
4.4. Các biện pháp thích ứng của ngành trồng trọt với BĐKH ở Việt Nam
4.4.1. Khái quát về sự thích ứng đối với Ngành Trồng trọt
4.4.2. Các biện pháp thích ứng hiện tại
3
3
4
5
5
5
6
5.2. Các hợp phần của Dự án
40
5.3. Phương pháp
5.4. Khung kết quả của Dự án
5.5. Chỉ số đánh giá
41
42
46
3
6.
Kết luận
46
4
1. KHÁI QUÁT DỰ ÁN
Biến đổi khí hậu (BĐKH) và những tác động của nó đối với cuộc sống nhân loại
đã và đang trở thành vấn đề nóng bỏng đối với không chỉ các nhà môi trường học
mà còn với các nhà chính sách ở tất cả các quốc gia trên thế giới. BĐKH đang
diễn ra, kèm theo những thay đổi đáng kể về lượng mưa, nhiệt độ và những thay
đổi về tần suất, mức độ của chúng. Những biến đổi này sẽ ảnh hưởng đến hệ sinh
tiêu. Nước biển tăng lên sẽ nhấn chìm những cánh đồng mầu mỡ của Việt Nam, cụ
thể: Nếu mực nước biển tăng lên 1m, nó sẽ nhấn chìm 5000 km 2 ở ĐBSH và
15000-20000m2 ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) ảnh hưởng đến 12% diện
tích đất và 10% dân số Việt Nam.
Đã xuất hiện những ảnh hưởng ban đầu của BĐKH và các nhà khoa học cho rằng
những tác động tiếp sau là không thể tránh khỏi cho dù bất cứ điều gì xảy ra với
quá trình thải khí nhà kính tương lai. Vấn đề hiện nay không phải là làm thế nào
để ngăn chặn BĐKH mà là làm thế nào để thích ứng với nó. Việt Nam có tiềm
năng làm giảm các tác động của BĐKH lên trồng trọt, vì vậy cần phải xây dựng và
thực hiện càng sớm càng tốt kế hoạch hành động cho ngành trông trọt để thích ứng
với BĐKH, giúp đảm bảo cuộc sống và sinh kế của các hộ nông dân.
Trong khuân khổ này, chúng tôi lập dự án xây dựng và thực hiện kế hoạch hành
động cho ngành trông trọt để thích ứng với BĐKH tại Việt Nam.
2. Mục tiêu
2.1. Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của Dự án là tăng cường thích ứng của ngành trồng trọt đối với
BĐKH để đảm bảo an ninh lương thực tại Việt Nam và bảo vệ môi trường.
2.2. Các mục tiêu cụ thể
- Đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đối với nông nghiệp nói chung và đối với ngành
trồng trọt nói riêng để xây dựng cơ sở dữ liệu về BĐKH phục vụ cho việc dự báo
các tác động của nó lên trồng trọt tại Việt Nam trong tương lai.
- Xây dựng năng lực và thực hiện các biện pháp thích ứng với BĐKH cho ngành
trồng trọt tại một số khu vực ở Việt Nam.
- Tăng cường hợp tác quốc tế và huy động mọi nguồn lực (cả trong nước và nước
ngoài) trợ giúp ngành trồng trọt trong việc thích ứng với BĐKH tại Việt Nam.
7
3. Phương pháp
3.1. Nghiên cứu lựa chọn điểm
hợp, sau đó được hoàn thiện cho cuộc khảo sát chính thức. Người phỏng vấn cũng
đã xem xét trước nội dung của bản câu hỏi, được giới thiệu và trực tiếp phỏng vấn.
8
b. Thảo luận nhóm (Focus group discussion - FGD)
FGD là 1 phương pháp dùng để thu thập những hiểu biết chung của mọi người về
vấn đề đưa ra tại điểm nghiên cứu, giúp trả lời một số câu hỏi. Hơn thế nữa, thảo
luận nhóm trong số những người cung cấp thông tin chính còn giúp kiểm định
được độ chính xác của thông tin thu được. Nói cách khác, FGD dùng để kiểm tra
chéo thông tin thu được từ các phương pháp thu thập thông tin khác.
Trong nghiên cứu nay, một vài FGD đã được tổ chức để lấy thông tin. Thứ nhất là
FGD với các nông hộ (những người khác nhau về tuổi tác, giới tính, địa vị xã hội,
kinh nghiệm…) để thấy được quan điểm của họ về sự xuất hiện của các hiện
tượng khí hậu lạ, ảnh hưởng của BĐKH và giải pháp thích ứng; Thứ hai là FGD
với nhân viên địa phương để có được nhận thức đầy đủ về BĐKH và sự ứng phó
của cộng đồng nơi đó, quan điểm của họ về BĐKH. Bắt đầu các cuộc thảo luận
bằng những câu hỏi mở, tạo cơ hội cho nhóm thảo luận nói rõ hơn về vấn đề đang
bàn luận.
c. Tổ chức hội thảo
Tổ chức 2 cuộc hội thảo về các vấn đề liên quan đến BĐKH với sự tham gia của
nhân viên Cục Trồng trọt, Cục Khí tượng thuỷ văn, Phòng Biến đổi khí hậu, Viện
nghiên cứu Môi trường Khí tượng thuỷ văn và các cơ quan liên quan khác để có
được thông tin chi tiết về BĐKH, để chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình thực hiện
các nghiên cứu và để tăng cường năng lực trong việc giải quyết các vấn đề về
BĐKH. Tâm điểm của hội thảo là đưa ra các biện pháp giảm thiểu và thích ứng
với BĐKH cho ngành trồng trọt bao gồm các chương trình nghiên cứu giống cây
trồng và biện pháp canh tác mới.
3.3. Phân tích số liệu
triệu người, trong đó 75% làm nghề nông, lâm, thuỷ sản. Ngành nông nghiệp
chiếm 20% tổng GDP của cả nước, giá trị của ngành nông nghiệp là 77%, lâm
nghiệp là 4% và thuỷ sản là 19%. Việt Nam vẫn được coi là một nước đang phát
triển trên thế giới, với thu nhập bình quân đầu người năm 2008 là 1000
USD/người/năm. Sản lượng trồng trọt và chăn nuôi cũng như thị trường xuất khẩu
của các mặt hàng nông nghiệp chưa ổn định. Với tỷ lệ sinh con cao 2.2% đã gây
khó khăn cho phát triển kinh tế đất nước.
4.1.2. Khái quát về ngành Trồng trọt Việt Nam
Nông nghiệp nói chung và trồng trọt nói riêng là mảng kinh tế chính trong toàn
khu vực Đông Nam Châu Á, Việt Nam cũng vậy, nông nghiệp chiếm 20% tổng
GDP. Hiện tại khoảng 3/4 dân số sống ở khu vực nông thôn và nông nghiệp và các
hoạt động liên quan đến nông nghiệp là nguồn thu nhập chính của họ. Chính phủ
Việt Nam luôn luôn coi nông nghiệp là lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế và cho
rằng sự phát triển chỉ có ý nghĩa khi khu vực nông thôn đạt được thu nhập cao hơn
và một cuộc sống tốt đẹp hơn. Hơn thế nữa, Chính phủ cũng mong muốn ngành
nông nghiệp có được đóng góp đáng kể trong việc thu ngoại tệ, và những thành
công của ngành nông nghiệp vì thế rất quan trọng để Việt Nam đạt được những
mục tiêu quốc gia.
Nông nghiệp Việt Nam là sự kết hợp của trồng trọt như: lúa, ngô, khoai tây, rau và
chăn nuôi như: lợn, trâu, gia súc và gia cầm. Trồng trọt chiếm tới 3/4 tổng sản
phẩm đầu ra của ngành nông nghiệp, và chăn nuôi chiếm phần còn lại. (Tổng cục
thống kê, 2008). Giữa 7 vùng địa lý của đất nước, nông nghiệp tập trung ở 2 vùng
dân cư đông đúc nhất là ĐBSH ở miền Bắc và ĐBSCL ở miền Nam với cây trồng
chủ đạo là lúa và vật nuôi quen thuộc là lợn.
10
Hình 1: Bản đồ Việt Nam
Trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp: cây lương thực chiếm 60% tổng giá trị sản
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
9040,0
9410,0
9752,9
10028,3
10381,4
10496,9
10928,9
11316,4
11740,4
12320,3
12644,3
12507,0
12831,4
12983,3
13184,5
13287,0
13409,8
13555,6
13873,9
8399,1
8224,7
8322,5
8366,7
8437,8
8383,4
8359,7
8304,7
8542,0
542,0
578,7
584,3
598,9
655,8
716,7
694,3
728,2
808,2
889,4
778,1
786,0
845,8
835,0
857,1
861,5
841,7
846,0
805,8
758,5
809,9
902,3
1015,3
1153,4
1202,7
1257,8
1451,3
1475,8
1491,5
1510,8
1554,3
1633,6
1708,6
1821,7
1886,1
Cây ăn
quả
281,2
271,9
260,9
296,0
320,1
346,4
375,5
426,1
447,0
512,8
565,0
Diện tích (1000ha)
Năm
Tổng
diện tích
Lúa
Năng suất (1000 tấn)
Ngô
Tổng
Lúa
Ngô
1990
6.476,9
6.042,8
431,8
19.897,7
19.225,1
1993
7.058,3
6.559,4
496,5
23.720,5
22.836,5
882,2
1994
7.135,7
6.598,6
534,6
24.673,7
23.528,2
1.143,9
1995
7.099,7
662,9
29.182,9
27.523,9
1.650,6
1998
8.016,0
7.362,7
649,7
30.758,6
29.145,5
1.612,0
1999
8.348,6
7.653,6
34.272,9
32.108,4
2.161,7
2002
8.322,5
7.504,3
816,0
36.960,7
34.447,2
2.511,2
2003
8.366,7
7.452,2
912,7
37.706,9
3.787,1
2006
8.359,7
7.324,8
1.033,1
39.706,2
35.849,5
3.854,6
2007
8.304,7
7.207,4
1.096,1
40.247,4
35.942,7
4.303,2
67,3
Cà phê
119,3
115,1
103,7
101,3
123,9
Cao su
221,7
220,6
212,4
242,5
258,4
Hạt tiêu
9,2
8,9
6,4
6,7
6,5
Hạt điều
79,0
122,5
172,7
Dừa
212,3
116,3
120,8
122,5
122,9
126,2
129,3
186,4
254,2
340,3
370,6
477,7
561,9
565,3
522,2
510,2
496,8
497,4
497,0
509,3
530,9
278,4
254,2
347,5
382,0
394,9
412,0
415,8
428,8
261,5
295,9
348,1
401,8
439,9
402,7
172,9
181,1
169,9
163,4
163,5
161,3
155,8
140,4
133,6
133,1
132,0
133,9
135,3
138,3
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam, 2009
Trong những năm gần đây, do BĐKH cùng với việc gia tăng dân số và các ngành
công nghiệp, nông nghiệp Việt Nam cũng như các nước Đông Nam Á đang phải
chịu những áp lực về môi trường.
4.2. Biến đổi khí hậu ở Việt Nam
BĐKH ngày nay đang là mối quan tâm lớn của toàn thế giới, nó đã và đang ảnh
hưởng đến Việt Nam và khu vực Châu Á. Theo báo cáo của IPCC (2007), nhiệt độ
1. Tây Bắc
0.5
0.7 - 0.8 1.2 - 1.3 1.4 - 1.7 1.6 - 2.4
2. Đông Bắc
0.5
0.7
1.2 - 1.3 1.4 - 1.6 1.6 - 2.3
3. Đồng Bằng Bắc 0.5
0.7
1.2 - 1.3 1.4 - 1.6 1.5 - 2.3
Bộ
4. Bắc Trung Bộ
0.6
0.8 - 0.9 1.4 - 1.5 1.6 - 1.8 1.8 - 2.6
5. Nam Trung Bộ
0.4
0.6
0.9 - 1.0 1.0 - 1.2 1.2 - 1.8
6. Tây Nguyên
0.3
0.5
0.8
0.9 - 1.0 1.0 - 1.5
7. Nam Bộ
0.4
0.6
1.0
1.1 - 1.3 1.3 - 1.9
2100
2050
2060
2080
2010
1. Tây Bắc
1.4
1.6
- 2.1 - 2.2
3.6
3.7
- 4.1
4.5
- 4.6
6.8
- 4.8 - 9.3
2. Đông Bắc
1.4
15
4. Bắc Trung Bộ
1.5
1.8
- 2.2
3.8
3.7
- 4.3
4.8
- 4.9
7.1
- 5.0 - 9.7
5. Nam Trung Bộ
0.7
1.0
1.6
1.7
0.7
0.8
1.0
- 1.0
1.4
- 1.0 - 1.9
Lưu ý: Dựa vào dự báo bốc nhiệt cao và thấp ; Nguồn: MONRE, 2009
Ở hầu hết các vùng miền của Việt Nam, số trận mưa trung bình hàng tháng giảm,
đặc biệt là giữa tháng 7 - 8, nhưng lại tăng vào tháng 9 - 11. Số trận mưa giữa các
vùng biến động khá lớn, mật độ trận mưa tăng đáng kể nhưng lại mang tính cục
bộ, tập trung ở một số vùng và khó dự đoán, do đó dễ gây lũ lụt.
Gió mùa Đông Nam sẽ ảnh hưởng lớn đến lượng mưa của Việt Nam. Một nghiên
cứu gần đây về lượng mưa của Việt Nam trong tương lai cho biết, lượng mưa hàng
năm ở hầu hết các khu vực sẽ tăng 5 - 10% vào cuối thế kỷ (Cuong 2008), Miền
Nam Việt Nam sẽ khô hanh hơn (ADB, 2009)
(3) Hiện tượng thời tiết bất thường tăng lên
IPCC (2007) đã tổng kết trong 1 báo cáo những thay đổi về khí hậu như các đợt
nóng, số ngày nóng tăng, số ngày lạnh giảm cùng với những cảnh báo khác ở
Đông Nam Á từ năm 1950. Báo các cũng nhấn mạnh sự tăng lên của các trận mưa
lớn trong khu vực từ 1900 - 2005, các cơn lốc xoáy trong mùa hè (tháng 7 - 8) và
mùa thu (tháng 9 - 11). Năm 2004, số lượng các trận sụt lở, bão và bão nhiệt đới
tăng chưa từng thấy (21 cơn bão nhiệt đới). Những hiện tượng cùng cực bất
thường này gây lụt lội và sụt lở trên diện rộng tại nhiều vùng miền, ảnh hưởng đến
tài sản và mạng sống của nhiều người.
Các hiện thời tiết tượng bất thường của Việt Nam bắt nguồn từ các cơn bão nhiệt
càng ngày càng nhanh trong những năm gần đây. Theo Arendt cùng đồng nghiệp
(2002) và Rignot cùng đồng nghiệp (2003), mực nước biển tăng 3.1 mm mỗi năm
trong thập kỷ qua so với 1.7–2.4 mm mỗi năm trong cả thế kỷ XX. Tuy nhiên tỷ lệ
tăng này lại khác nhau giữa các khu vực. Ở Việt Nam, mực nước biển tăng từ 2.5 3.0 cm mỗi thập kỷ trong vòng 50 năm qua, nhưng mỗi khu vực tăng một khác.
Bảng 6. Dự báo mực nước biển tăng
đoạn 1988-1999)
Dự báo
2020 2030 2040
1. Thấp (B1)
11
17
23
2. Trung bình 23
17
23
(B2)
3. Cao (A1F1)
12
17
24
ở Việt Nam qua các năm (So với giai
Năm
2050 2060 2070 2080 2090 2010
28
35
42
50
57
65
quan điểm của các nhà khoa học, họ cho rằng mực nước biển sẽ tăng ít nhất 1 mét
vào năm 2100. Nếu băng ở Đảo băng và Tây Nam cực tan hết thì mực nước biển
sẽ tăng lên nhiều mét, tuy nhiên sẽ phải mất vài trăm năm để điều này xảy ra.
(5) Nhận thức của nông dân vềsự xuất hiện của biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Hầu hết những nông dân được phỏng vấn đều cho rằng biến đổi khí hậu xuất hiện
khá rõ ràng qua những biến đổi về các ngày nóng, lạnh, mưa to bất thường, bão, lũ
và mực nước biển tăng lên (bảng 7).
Bảng 7. Ý kiến của nông dân về sự xuất hiện của biến đổi khí hậu
T.Bình N.Địn S.Trăng C.Mau
h
1. Số mẫu
28.0
25.0
26.0
26.0
Sự xuất hiện của BĐKH: % có
100.0
92.0
96.2
100.0
3. Ý kiến về số ngày cực nóng /
nóng bất thường
27
25
24
25
- Tăng nhiều (%)
100.0
84.0
83.3
7.7
15.4
- Giảm nhiều (%)
0.0
0.0
7.7
0.0
5. Ý kiến về số lượng các trận
mưa lớn bất thường
28
24
24
25
- Tăng nhiều (%)
85.7
83.3
41.7
28.0
- Tăng ít (%)
10.7
12.5
45.8
64.0
- Không đổi (%)
3.6
0.0
0.0
4.0
- Giảm ít (%)
0.0
12.0
0.0
13.3
0.0
- Giảm nhiều (%)
8.0
0.0
0.0
0.0
7. Ý kiến về mực nước biển
19
16
10
9
- Tăng nhiều (%)
73.7
62.5
20.0
33.3
- Tăng ít (%)
15.8
31.3
40.0
66.7
- Không đổi (%)
10.5
6.3
20.0
0.0
- Giảm ít (%)
53.7
33.3
9.3
3.7
Nguồn : Khảo sát thực địa, 2009
18
4.3. Ảnh hưởng của BĐKH đối với Ngành Trồng trọt ở Việt Nam
IPCC đã lưu ý (IPCC, 2001b) BĐKH sẽ mang đến nhiều hậu quả tiêu cực như: tần
suất các đợt nóng nắng sẽ cao hơn, cường độ các các trận bão, lũ và hạn hán cũng
mạnh hơn, mực nước biển tăng nhanh, lây lan bệnh tật và mất đi sự đa dạng sinh
học.
4.3.1. Ảnh hưởng của BĐKH đối với đất Trồng trọt
a. Mực nước biển dâng
Trong 50 năm qua, mực nước biển ở Việt Nam tăng thêm 2.5 - 3.0 cm mỗi thập
kỷ. Theo dự đoán của MONRE (2009), mực nước biển ở Việt Nam sẽ tăng thêm
28 - 33 cm vào năm 2050 và 65 - 100 cm năm 2100. Theo ước tính của Ngân hàng
Thế giới, tại những khu vực bị ảnh hưởng của các nước đang phát triển, mực nước
biển sẽ tăng từ 1 - 5 mét. Việt Nam là quốc gia bị ảnh hưởng nhiều thứ 2, 10%
tổng diện tích bị tác động (sau Bahamas)
. Hình 2: Các quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất: Diện tích đất
Nguồn: Ngân hàng Thế giới, 2007
Theo VFEJ 16-9-2009 (Vietnam Forum of Environmental Journalists), mực nước
biển cứ tăng lên 1 mét thì 14 triệu dân ở ĐBSCL sẽ bị ảnh hưởng, bên cạnh đó nó
còn gây ngập lụt cho khoảng 40.000 km 2 đất đồng bằng và khoảng 17.000 km 2 đất
ở khu vực duyên hải. Cũng theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Đào Xuân Học
(SGGP online, 2009), trong một cuộc hội thảo về BĐKH ở Việt Nam do Bộ
1 < H ≤ 1.5m
724
1,007
421
1.5 < H ≤ 2m
459
1,270
1,880
2 < H ≤ 2.5
288
414
592
2.5 < H ≤ 3
212
281
323
H>3m
66
84
102
Total H > 0.5m
2,813
3,660
3,815
Nguồn: Đào Xuân Học, 2009
Bảng 9. Hiện trạng lũ lụt tại vùng đồng bằng Duyên hải Miền Trung
(1,000ha)
Mực nước biển tăng
Mực nước biển tăng 1m
Diện
24.96
7.49
3.74
12.48
7.49
- Thừa Thiên – Huế 45.70
13.92
6.28
27.85
15.50
2. Trung bộ
172
33
74
53
103
- Đà Nẵng - Quảng 50
6
14
10
18
Nam
- Quảng Ngãi
55
10
25
15
35
- Bình Định
35
377.96
479.77
+ Ngập hoàn toàn
2.01
114.64
157.78
+ Bán ngập
1.43
263.32
321.99
2. Trong đê
25.56
55.61
67.57
+ Ngập hoàn toàn
Long (Unit: 1000 ha)
1. Năm 2004
2. Mực nước biển tăng 0.69m 0.69m
3. Mực nước biển tăng 0.69m of 1m
Diện tích bị xâm mặn
1.303
1.493
1.637
So với năm 2004
+ 190
+ 334
Nguồn: Đào Xuân Học, 2009
Hầu hết các chuyên gia cho rằng lý do chính của qúa trình xâm nhập mặn là vì
không có đủ lượng nước ngọt (nhất là trong mùa mưa) đổ vào các sông để rửa trôi
nước muối. Phá rừng, mở rộng hệ thống tưới tiêu ngược dòng, tăng diện tích đất
sử dụng, xây đập thuỷ lợi và biển lấn cũng là những nguyên nhân gây ngập mặn.
Ở ĐBSH, nước mặn từ biển tràn vào các sông khoảng 25-40 km, còn ở duyên hải
21
Miền Trung là 30-40 km. Các nhân viên của Sở NN & PTNT ở tỉnh Thái Bình báo
cáo hiện tượng mực nước biển tăng lên cùng với hạn hán trong mùa khô khiến cho
nước mặn từ các cửa sông Tra Ly, Balat, Hoa tràn vào 15-20km.
Hình 2. Bản đồ đánh giá tài nguyên nông nghiệp ở ĐBSCL khi BĐKH
(Nguồn: Tran, Nguyen Ngoc - 2009)
Hình minh hoạ cho thấy từ năm 2002 - 2005 lượng muối ở 3 sông (Cua Dai, Ham
ĐBSH (2 khu vực nông nghiệp quan trọng nhất của đất nước) sẽ đe doạ sinh kế
của người nông dân, kim nghạch xuất khẩu ngành nông nghiệp như lúa gạo (vì
Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới) và có thể cả an ninh lương
thực quốc gia.
Hình 3: Bản đồ xâm nhập mặn tối đa mùa khô năm 2004
Hiện trạng Miền Nam Việt Nam khi nước biển dâng lên 1m
(Nguồn: Hoan, Nguyen Vu - 2009)
23
Tóm lại, có thể nói rằng nếu mực nước biển tăng lên 1 mét thì 1.5-2 triệu ha đất
trồng lúa của ĐBSCL và 0.3-0.5 triệu ha của ĐBSH sẽ không sử dụng được nữa vì
bị ngập và xâm mặn.
Hình 4: Bản đồ ranh giới mặn 4% vùng Đồng Bằng Sông Hồng
(Nguồn: Hoan, Nguyen Vu 2009)
4.3.2. Ảnh hưởng của BĐKH đến sản lượng cây trồng
Murdiyarso (2000) dự đoán, vào cuối thế kỷ 21 sản lượng lúa sẽ giảm 3.8% do
ảnh hưởng của đất bạc màu, tăng nhiệt và khan hiếm nước. Theo dự tính A1FI,
vào năm 2020 khi nhiệt độ tăng lên 0.83–0.92°C thì sản lượng cây trồng sẽ giảm
2.5-10%; đến năm 2050, khi nhiệt độ tăng lên 1.32–2.32°C thì sản lượng cây trồng
sẽ giảm 5–30%. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây của Cline (2007) cho rằng
vào cuối thế kỷ này, sản lượng mùa màng ở Châu Á sẽ giảm 19%. Còn theo Zhai
và Zhuang (2009), nếu sản lượng mùa màng giảm như vậy thì đến 2080 GDP sẽ
giảm 1.4% hàng năm, còn nếu tình trạng này trở nên xấu hơn thì mức giảm sẽ là
1.7%.
Tại Việt Nam, Dynamic-Ecological simulation model dự đoán sản lượng lúa xuân
sẽ giảm 2.4% vào năm 2020 và 11.6% vào năm 2070 (theo A1B). Lúa hè chịu ảnh
-0.8
-3.2
-4.5
- Hà Nội
-1.0
-3.7
-5.0
- Đà Nẵng
-1.2
-4.2
-5.7
- Hồ Chí Minh
-0.2
-1.7
-2.8
3. Ngô
-0.53
-0.77
-1.87
- Hà Nội
+0.7
+7.2
+7.1
- Đà Nẵng
-0.7
-3.1
-4.2
- Hồ Chí Minh
-1.6
-6.4