Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT...............................................................................................1
DANH SÁCH CÁC BẢNG............................................................................................................2
DANH SÁCH CÁC HÌNH..............................................................................................................2
MỞ ĐẦU.........................................................................................................................................4
CHƯƠNG 1. THUỶ ĐIỆN VỪA VÀ NHỎ TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU..........8
1.1.Thuỷ điện vừa và nhỏ trong cơ cấu sử dụng năng lượng..............................................................8
1.1.1.Thuỷ điện vừa và nhỏ..................................................................................................8
1.1.2.Vai trò của thuỷ điện vừa và nhỏ trong nền kinh tế..............................................10
1.1.3.Vai trò của thuỷ điện vừa và nhỏ trong cơ cấu sử dụng năng lượng...................11
1.2.Biến đổi khí hậu.........................................................................................................................12
1.2.1.Biến đổi khí hậu và nguyên nhân gây biến đổi khí hậu.........................................12
1.2.2.Sự cần thiết phải hạn chế biến đổi khí hậu.............................................................18
1.3.Các nỗ lực nhằm hạn chế biến đổi khí hậu.................................................................................27
1.3.1.Quốc tế.........................................................................................................................27
1.3.2.Ở Việt Nam..................................................................................................................30
1.4.Đánh giá hiệu quả thủy điện vừa và nhỏ.....................................................................................31
1.4.1.Các tiêu chí lựa chọn thủy điện vừa và nhỏ............................................................31
1.4.2.Tính toán thủy năng và kinh tế năng lượng............................................................32
1.4.3.Tính toán chỉ tiêu kinh tế và xếp hạng các công trình thủy điện vừa và nhỏ.....34
CHƯƠNG 2.TIỀN NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN THỦY ĐIỆN VỪA VÀ NHỎ
CUẨ TỈNH LÀO CAI...................................................................................................................35
1.5.Tiềm năng phát triển thủy điện vừa và nhỏ tỉnh Lào Cai............................................................35
1.5.1.Điều kiện tự nhiên......................................................................................................35
1.5.2.Điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai và những thuận lợi khi đầu tư vào thủy
điện vừa và nhỏ....................................................................................................................38
1.6.Hiện trạng các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ tỉnh Lào Cai......................................................40
1.7.Nhu cầu điện của tỉnh Lào Cai đến năm 2010............................................................................44
1.8.Phương hướng phát triển của thủy điện Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010.....................................45
1.9.Quy hoạch bổ sung thủy điện vừa và nhỏ tỉnh Lào Cai..............................................................45
Công ước khung c ủa Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu
CDM Clean Development Mechanism
Cơ chế phát triển sạch
JI Joint Implementation
Cơ chế cùng thực hiện
IET International Emissions Trading
Cơ chế buôn bán phát thải quốc tế
TCXDVN 285 : 2000 Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam 285 : 2000
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Bảng số lượng dự án CDM v à CER............................................................................29
Bảng 2.2. Các công trình thủy điện vừa và nhỏ............................................................................41
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 1.1. Thay đổi nhiệt độ trung bình bề mặt toàn cầu trong 2000 năm qua ...........................13
Hình 1.2. Nhiệt độ trung bình bề mặt toàn cầu từ 1860 đến 2000...............................................13
Nguyễn Thị Phương Anh Kinh tế môi trường 46
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Hình 1.3. Các dòng bức xạ và hiệu ứng nhà kính.........................................................................16
Hình 1.4. Nồng độ CO2 trong khí quyển tăng trong thời gian 1870 - 2000 ...............................17
Hình 2.5. Bản đồ hành chính tỉnh Lào Cai....................................................................................35
Hình 2.6. Sơ đồ phân bố các công trình thủy điện vừa và nhỏ tỉnh Lào Cai...............................44
Nguyễn Thị Phương Anh Kinh tế môi trường 46
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài và mục đích nghiên cứu
Khí hậu trái đất đã và đang nóng lên và có tác động lớn tới nhiều hoạt
động kinh tế - xã hội của cả loài người. Gần 50 năm qua từ đầu những năm 50
đến nay đã xuất hiện 13 lần El Nino và 10 lần La Nina. El Nino 1982-1983 gây
ra lũ lụt nghiêm trọng ở Pêru, Equađo và nhiều vùng ở đông Thái Bình Dương,
mỗi thập kỷ.
Lượng mưa năm cũng như lượng mưa tháng tuy không thể hiện rõ rệt xu
thế tăng hay giảm song đã xảy ra nhiều dị thường dáng kể: Mưa lớn cuối mùa
mưa, lũ đột ngột, hạn hán gay gắt. Mực nước biển dâng lên chừng 3-4 cm mỗi
thập kỷ. Theo các kết quả nghiên cứu về biến đổi khí hậu, trong các mốc thời
gian chính của thế kỷ tới, nhiệt độ trung bình tăng lên với mức 0,15 - 0,20
0
C mỗi
thập kỷ, lượng mưa sẽ nhiều hơn hay ít hơn hiện nay khoảng 10%. Song cường
độ mưa sẽ tăng lên 5 - 10% vào khoảng năm 2070 và mực nước biển có thể dâng
lên chừng 30 - 90 cm vào năm đó.
Nếu không ngăn ngừa được nguy cơ biến đổi khí hậu, tác động của sự
nóng lên toàn cầu sẽ hết sức nghiêm trọng. Mà nguyên nhân chính gây ra biến
đổi khí hậu chính là sự tăng lên của nồng độ các chất gây hiệu ứng nhà kính.
Lượng phát thải các khí nhà kính chủ yếu phụ thuộc vào hoạt động năng lượng
trong các ngành dầu khí, than, điện, cơ khí, hóa chất, giao thông và các hoạt
động phi năng lượng trong các ngành sản xuất xi măng, phân bón, canh tác lúa,
chăn nuôi, khai thác rừng...Trong khi các nhà máy điện chạy than phát thải một
lượng lớn các khí nhà kính thì các nhà máy thuỷ điện nhỏ dường như không thải
ra môi trường các khí độc như SO2, CO2, NO...Việc vận hành các nhà máy thuỷ
điện nhỏ, cũng không liên quan nhiều đến việc xử lý rác thải, không tạo nên các
trận mưa a xít, không làm chua đất, không làm thay đổi khí hậu, không làm
thủng tầng ô zôn ...
Đó chính là ưu thế của thuỷ điện nhỏ so với các loại hình nhà máy điện
khác. Bởi thế mà thuỷ điện nhỏ ngày càng trở nên phổ biến và mang lại không
chỉ lợi ích kinh tế mà nó còn giải quyết tốt vấn đề môi trường. Đặc điểm của địa
hình các tỉnh miền núi và trung du ở nước ta là nhiều sông suối nên rất phù hợp
cho phát triển thuỷ điện nhỏ. Nếu được đầu tư thích đáng, thuỷ điện nhỏ không
Nguyễn Thị Phương Anh Kinh tế môi trường 46
5
4. Lời cảm ơn
Trong quá trình làm chuyên đề thực tập em đã nhận được sự giúp đỡ tận
tình của PGS.TS. Lê Thu Hoa. Không chỉ hướng dẫn chuyên đề cô còn đóng
góp nhiều ý kiến quý giá.
Đồng thời em cũng nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của TS. Trần Hồng
Thái (Giám đốc Trung tâm Tư vấn Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường).
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Lê Thu Hoa và TS.Trần Hồng Thái
đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này
5. Lời cam đoan
Em xin cam đoan mọi thông tin và số liệu sử dụng trong chuyên đề này là
đúng sự thật và tuân thủ đúng nguyên tắc về bản quyền.
Người thực hiện
Nguyễn Thị Phương Anh
Nguyễn Thị Phương Anh Kinh tế môi trường 46
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 1. THUỶ ĐIỆN VỪA VÀ NHỎ TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI
KHÍ HẬU
1.1. Thuỷ điện vừa và nhỏ trong cơ cấu sử dụng năng lượng
1.1.1. Thuỷ điện vừa và nhỏ
1.1.1.1. Quy mô của các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ
Các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ là các nhà máy sản xuất điện được xây
dựng trên lưu vực các sông, suối nhằm tận dụng sức nước ở đây. Tuy nhiên quy
mô của chúng đúng
1.1.1.2. Công nghệ sử dụng trong nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ
Hệ thống điều khiển tổ máy (LCU-Local Control Unit):
Hệ thống LCU trong các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ phụ trách toàn bộ
phần điều khiển và giám sát mọi sự hoạt động của tổ máy trong phạm vi của nó,
như điều khiển và giám sát điều tốc, điều khiển kích từ, điều khiển và đo lường
các thiết bị thuộc tổ máy…
đảm đương được.
Hệ thống điều khiển thiết bị trạm (SYU-Switch Yard Unit )
SYU cho nhà máy thuỷ điện bao gồm việc điều khiển, giám sát hệ thống
các máy cắt, cầu dao trung áp, cao áp, tình trạng máy biến áp và bảo vệ liên
động hệ thống. Việc thực hiện thiết kế, chế tạo hệ thống SYU cũng có nhiều
phương án, nhiều giải pháp. Đối với những nhà máy có công suất tổ máy nhỏ (≤
6 MW) trong một số nhà máy người ta tích hợp luôn hệ thống này vào cùng với
hệ thống LCU cho điều khiển riêng mỗi tổ máy và trao đổi các tín hiệu liên động
giữa các hệ LCU, nhằm mục tiêu giảm suất đầu tư cho hệ thống. Với mục tiêu
phân định chức năng rõ ràng và dễ dàng quản lý, trao đổi tín hiệu liên động thì
việc thiết kế riêng hệ thống SYU là hợp lý, đặc biệt là đối với những nhà máy
thuỷ điện có nhiều tổ máy.
Hệ thống điều khiển các thiết bị cơ khí thuỷ công, các thiết bị phụ trợ
(SIAO-Spillway_Intake_Gate And Others)
Hệ thống thiết bị cơ khí thuỷ công trong các nhà máy thuỷ điện là một hệ
thống quan trọng, nó bao gồm các cửa nhận nước, các cửa xả tràn, ngoài ra có
thể bao gồm các cửa xả sâu hay các cửa van điều hoà trong một vài dự án cụ thể.
Nguyễn Thị Phương Anh Kinh tế môi trường 46
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Hệ thống nâng hạ các cửa van ngày nay đều sử dụng là hệ xilanh thuỷ lực nên ta
có thể biểu diễn trực quan hệ thống điều khiển các thiết bị cơ khí thuỷ công.
1.1.1.3. Đặc điểm kỹ thuật trong nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ
Bộ điều tốc:
Bộ điều tốc cho các turbin thuỷ lực ngày nay đa phần là dùng loại điều tốc
điện-thuỷ lực.
Các tổ máy phát điện có ba chế độ hoạt động cơ bản, một là khi máy phát
nối với lưới điện có công suất vô cùng lớn, hai là khi máy phát làm việc độc lập
và ba là khi máy phát làm việc trong chế độ song song. Trong mỗi chế độ làm
việc theo yêu cầu của người vận hành bộ điều tốc sẽ lựa chọn một chương trình
quyết được vấn đề việc làm cho người dân (đặc biệt là đối với khu vực miền núi
và vùng cao).
1.1.3. Vai trò của thuỷ điện vừa và nhỏ trong cơ cấu sử dụng năng lượng
Năm 2006, tổng năng lượng sản xuất của cả nước cũng đạt mức trên 46,8
triệu TOE (triệu tấn dầu tương đương), tăng 5,2% so với năm 2005; trong đó có
37 triệu tấn than sạch, 17,3 triệu tấn dầu thô, 7 tỷ m
3
khí thiên nhiên (gồm cả khí
đồng hành) và 19,6 tỷ kWh thủy điện. Sản xuất năng lượng có tốc độ tăng
trưởng bình quân giai đoạn 1991-2005 là 12,7%/năm; trong đó, tăng nhanh nhất
là khai thác dầu khí tăng 16,1%, tiếp đến là than tăng 13,4% và điện sản xuất
tăng 12,7%. Cơ cấu năng lượng sản xuất trong các năm 2005-2006 tương ứng
như: dầu mỏ chiếm 41,2% và 37,2%, than 36,8% và 44,2%, thủy điện 7,5% và
3,6%, khí thiên nhiên 14,5% và 15%.
Đặc biệt, nhu cầu điện của nước ta luôn phát triển ở mức cao trong những
năm qua (khoảng 13 - 14% năm). Dự báo những năm tới, các doanh nghiệp
(DN) tiếp tục đầu tư mạnh. Mặt khác, đầu tư vào dự án thủy điện còn khẳng
định sự đa dạng trong sản xuất kinh doanh của các DN, nhất là đối với các DN
kinh tế lớn đã và đang xây dựng tập đoàn. Với các DN trong ngành xây lắp, việc
làm chủ đầu tư các dự án thủy điện vừa và nhỏ không chỉ tận dụng được thiết bị,
lao động... mà còn là bước tập dượt để làm chủ đầu tư xây dựng những dự án
lớn.
Nguyễn Thị Phương Anh Kinh tế môi trường 46
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Trong điều kiện thiếu nguồn điện như hiện nay thì tổng công suất từ thủy
điện vừa và nhỏ cung cấp cho hệ thống là sự đóng góp đáng kể song phải có quy
hoạch rõ ràng, thống nhất quản lý để kiểm soát. Do một số công trình thủy điện
lớn chậm tiến độ nên các công trình thủy điện vừa và nhỏ có thể đưa vào vận
hành trong năm 2007 và 2008.
C))
Nguồn:[www.ipcc.ch]
Từ khoảng giữa thế kỷ XIX, nhờ đo đạc chính xác bằng các dụng cụ,
chúng ta mới có được số liệu định lượng chi tiết về BĐKH trong hơn một thế kỷ
qua. Những số liệu có được cho thấy, xu thế chung là nhiệt độ trung bình toàn
cầu đã tăng lên đáng kể. Những kết quả đo đạc và nghiên cứu hiện nay cho thấy,
nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỷ XX đã tăng lên 0,6
0
C (±
0,2
0
C). Hình 1.1 và hình 1.2 mô phỏng xu thế diễn biến của nhiệt độ nói trên.
Hình 1.2. Nhiệt độ trung bình bề mặt toàn cầu từ 1860 đến 2000
Nguồn:[www.ipcc.ch]
Nguyễn Thị Phương Anh Kinh tế môi trường 46
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Các nhà khoa học đều nhất trí rằng, tình trạng nóng nhất xảy ra trong 50
năm cuối của thế kỷ XX là do hậu quả hoạt động của con người, đó là một sự
thật hiển nhiên.
Sang những năm đầu thế kỷ XXI, nhiệt độ tiếp tục tăng. Có thể lấy năm
2003 làm minh chứng. Nhiệt độ trung bình toàn cầu năm 2003 tăng 0,46
0
C so
với trung bình thời kỳ 1971 - 2000, là năm ấm thứ ba kể từ năm 1861. Trong đó,
chuẩn sai nhiệt độ bán cầu Bắc là + 0,59
0
C và bán cầu Nam: +0,32
0
C. Năm ấm
khí quyển (vượt quá khả năng chịu tải của hệ thống hấp thụ tự nhiên). Để hiểu rõ
về nguyên nhân gây ra BĐKH và các tác động của nó, chúng ta sẽ xem xét
những vấn đề sau:
• Hiệu ứng nhà kính
• Nguyên nhân gây ra BĐKH ngày nay
• Các tác động của BĐKH
1.2.1.1. Hiệu ứng nhà kính
Mặt trời là nguồn nhiệt duy nhất từ bên ngoài trái đất. Mặt trời phát ra bức
xạ sóng ngắn, chủ yếu ở dạng bức xạ ánh sáng và bức xạ tử ngoại. Khi luồng
bức xạ này đến trái đất, 25% bức xạ bị khí quyển của trái đất giữ lại, 25% bị
mây phản xạ trở lại vào không trung. Phần bức xạ còn lại xuống tới mặt đất và
đốt nóng bề mặt trái đất. Trái đất, với nhiệt độ trung bình khoảng 15
0
C, nên phát
xạ từ bề mặt trái đất là bức xạ sóng dài (tức là bức xạ hồng ngọai).
Có rất nhiều khí chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong khí quyển (khí hiếm),
nhưng có ảnh hưởng lớn đến bức xạ khí quyển, như H
2
O, O
3
, CO
2
, CFC v.v...
Trong số này, có những khí vốn có sẵn trong khí quyển, như H
2
O, CO
2
v.v...,
trong khi một số khác, như chlorofluorocarbon (CFC
s
Thành phần khí quyển là yếu tố tương đối ít biến động so với nhiều yếu tố
khác. Nói đúng hơn là, với những khoảng thời gian ngắn, thành phần khí quyển
được coi là yếu tố không đổi. Thay đổi nồng độ của bất kỳ khí nào trong khí
quyển cũng sẽ ảnh hưởng đến năng lượng đi tới và thoát ra khỏi trái đất. Nói
cách khác, là làm thay đổi cán cân bức xạ của trái đất. Sự tăng nồng độ của các
khí nhà kính làm nóng tầng đối lưu và nguội tầng bình lưu, được coi là nguyên
nhân chủ yếu gây ra sự BĐKH toàn cầu hiện nay.
Nguyễn Thị Phương Anh Kinh tế môi trường 46
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Hình 1.4. Nồng độ CO
2
trong khí quyển tăng trong thời gian 1870 - 2000
Nguồn:[unep.org]
1.2.1.2. Nguyên nhân gây biến đổi khí hậu hiện nay
BĐKH có thể do hai nguyên nhân: bởi những quá trình tự nhiên và bởi
ảnh hưởng của con người.
Chìa khóa của những quá trình tự nhiên là sự biến động của cường độ bức
xạ mặt trời chiếu xuống trái đất và lượng bụi núi lửa tập trung nhiều phản xạ bức
xạ mặt trời vào không trung. Cả hai yếu tố đó ảnh hưởng đến tổng lượng bức xạ
mặt trời được hấp thụ bởi hệ thống khí hậu. Về những quá trình tự nhiên, chúng
ta đã có dịp đề cập đến ở phần trên: “Biến đổi khí hậu”.
Phần lớn các nhà khoa học đều khẳng định rằng, hoạt động của con người
đã và đang làm BĐKH toàn cầu trở nên rõ ràng hơn. Nguyên nhân chủ yếu của
sự biến đổi đó là sự tăng nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển dẫn đến tăng
hiệu ứng nhà kính. Đặc biệt quan trọng là khí điôxit cácbon (CO
2
) được tạo
thành do sử dụng năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch (như dầu mỏ, than đá, khí
tự nhiên...), phá rừng và chuyển đổi sử dụng đất.
Xuất phát từ những tác động xấu do BĐKH gây ra và do yêu cầu của quá
trình phát triển kinh tế - xã hội nên việc hạn chế BĐKH là hết sức cần thiết và
quan trọng.
Trong khuôn khổ chuyên đề xin đưa ra các tác động của BĐKH (trên cơ
sở nghiên cứu tài liệu “Thông tin BĐKH của Bộ Tài nguyên và Môi trường”)
như sau:
Nguyễn Thị Phương Anh Kinh tế môi trường 46
18
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.2.2.1. Tác động của biến đổi khí hậu tới các hệ sinh thái và đa dạng
sinh học
Các hệ sinh thái trên trái đất cùng với muôn loài khác nhau (ta thường gọi
là đa dạng sinh học) là nguồn giá trị kinh tế, môi trường và văn hóa của loài
người. BĐKH sẽ làm dịch chuyển các vùng khí hậu. Các loài sẽ phải phản ứng
thích nghi với các điều kiện khí hậu mới. Sự thay đổi của các loài sẽ làm thay
đổi thành phần và phân bố địa lý của các hệ sinh thái này.
Trước hết, do nóng lên toàn cầu, các ranh giới nhiệt của các hệ sinh thái
lục địa và nước ngọt sẽ dịch chuyển về phía cực, đồng thời cũng dịch chuyển lên
cao hơn. Khi ấy các loài thực vật, động vật nhiệt đới có thể phát triển ở các vĩ độ
cao hơn hoặc trên những vùng núi và cao nguyên cao hơn trước. Trái lại, các
loài ưa lạnh bị thu hẹp lại, hoặc phải di cư đi nơi khác. Một điều đáng chú ý là
sự dịch chuyển ranh giới khí hậu được ghi nhận là đã xảy ra ở một số nơi trên
thế giới. Vùng Bình nguyên lớn ở Mỹ chính là một ví dụ về nơi chịu ảnh hưởng
điển hình của của sự dịch chuyển ranh giới khí hậu đã xảy ra trong 30 năm cuối
của thế kỷ. Người ta cũng nhận thấy một số loài chim ở châu Âu mùa xuân di cư
muộn hơn.
BĐKH dẫn tới điều kiện khí hậu khắc nghiệt hơn như hạn hán, cháy rừng,
lũ lụt v.v... sẽ làm cho các loài có khả năng bị giảm nhiều hơn nữa.
Các vùng núi cao cũng sẽ chịu tác động mạnh. Nhiều loài có vú và loài
chim sẽ bị giảm do điều kiện sinh sống không thích hợp, nguồn dinh dưỡng bị
đều dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng và ảnh hưởng đến nhiều hoạt động từ
nông nghiệp, nghề cá, hàng hải, năng lượng, cung cấp nước sinh hoạt v.v...
Những tác động này khác nhau đối với từng địa phương.
1.2.2.3. Tác động của biến đổi khí hậu tới vùng duyên hải và đất thấp
Hiện nay, trên toàn thế giới có khoảng 46 triệu người đang bị nguy cơ
ngập lụt và nước dâng do bão đe dọa. Nếu không có các giải pháp thích ứng, nếu
nước biển dâng lên 50cm, số người bị nguy cơ ngập lụt thường xuyên sẽ tăng
gấp đôi, tức là 92 triệu người, 60% số người tăng lên này là ở Nam Á và 20% ở
Đông Nam Á. Nếu nước biển dâng cao thêm 1m, con số này sẽ là 118 triệu
người, chưa kể đến dân số, nói chung, và dân số trong vùng biển, nói riêng, sẽ
Nguyễn Thị Phương Anh Kinh tế môi trường 46
20
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
tiếp tục tăng. Các vùng đất thấp ven biển vốn là những nơi rất nhạy cảm về môi
trường, những thay đổi nhỏ của mực nước biển có thể dẫn đến những hậu quả
lớn lao, không chỉ đơn thuần là mất diện tích canh tác.
Mực nước biển tăng sẽ làm một số vùng đất ngập nước biến mất, một số
vùng khác được hình thành. Tuy nhiên, hệ sinh thái của các vùng đất thấp và đất
ngập nước đã thích nghi với mực nước biển dâng chậm trong hàng ngàn năm
qua, nếu mực nước biển tăng nhanh quá mức độ thích nghi, do tác động của xói
mòn và ngập lụt, hệ sinh thái ven biển trên các vùng đất ngập nước không thích
nghi kịp có thể bị mất.
Ngoài tác động lớn nhất của nước biển dâng đến nông nghiệp vùng ven
biển là sự mất đất trồng do đất bị ngập nước như đã nói ở trên, một tác động
khác có ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp và các hoạt động khác là các vấn đề
như bồi lắng, xói mòn và xâm nhập mặn.
1.2.2.4. Tác động của biến đổi khí hậu tới Nông - Lâm - Ngư nghiệp
Hệ thống sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp có quan hệ khá mật thiết với
thời tiết khí hậu. Vì thế BĐKH tất yếu sẽ tác động mạnh mẽ đến các đối tượng
này. Cụ thể:
Nhiệt độ cao kết hợp với ánh sáng dồi dào sẽ thúc đẩy quá trình quang
hợp dẫn đến tăng cường quá trình đồng hóa của cây xanh. Đặc biệt, hàm lượng
CO
2
tăng sẽ góp phần làm tăng sự phát triển hệ sinh thái rừng. Tuy vậy, do độ
bốc thoát hơi tăng lên nên độ ẩm đất sẽ giảm, kết quả là chỉ số tăng trưởng sinh
khối của cây rừng có thể sẽ giảm đi.
Nguy cơ diệt chủng của động vật và thực vật gia tăng, một số loài thực
vật quan trọng như: trầm hương, hoàng đàn, pơ mu, gõ đỏ, lát hoa, gụ mật... sẽ
có thể bị suy kiệt.
Nhiệt độ và mức độ khô hạn gia tăng làm tăng nguy cơ cháy rừng, phát
triển sâu bệnh, dịch bệnh phá hoại cây rừng.
Đối với Ngư nghiệp
Nước mặn lấn sâu vào lục địa, làm mất nơi sinh sống thích hợp của một
số loài thủy sản nước ngọt. Rừng ngập mặn bị thu hẹp, ảnh hưởng đến hệ sinh
thái một số loài thủy sản.
Khả năng cố định chất hữu cơ của hệ sinh thái rong biển giảm dẫn đến
giảm nguồn cung cấp sản phẩm quang hợp và chất dinh dưỡng cho sinh vật đáy.
Do vậy, chất lượng môi trường sống của nhiều loại thủy sản bị xấu đi.
Nguyễn Thị Phương Anh Kinh tế môi trường 46
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Mực nước biển dâng làm cho chế độ thủy lý, thủy hóa và thủy sinh xấu đi.
Kết quả là các quần xã sinh vật hiện hữu thay đổi cấu trúc và thành phần, trữ
lượng bổ sung giảm sút nghiêm trọng. Dự báo trữ lượng các loài hải sản kinh tế
bị giảm sút ít nhất 1/3 so với hiện nay.
Các loại thực vật nổi, mắt xích đầu tiên của chuỗi thức ăn cho động vật
nổi bị hủy diệt hoặc làm giảm mạnh động vật nổi, do đó làm giảm nguồn thức
ăn chủ yếu của các động vật tầng giữa và tầng trên. Hậu quả là:
• Cá di cư đến vùng biển khác (di cư thụ động).
Nhu cầu nước cho công nghiệp sẽ tăng lên nhanh chóng cùng quá trình
công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Những khó khăn trong việc cung cấp nước do
BĐKH cũng sẽ là những tác động đáng lưu ý đối với lĩnh vực công nghiệp như
công nghệ chế tạo, công nghệ dệt, công nghệ khai thác và chế biến khoáng sản.
1.2.2.6. Tác động của biến đổi khí hậu tới Năng lượng – Giao thông vận
tải
Đối với năng lượng
Chế độ mưa bị biến dạng do BĐKH tất yếu sẽ có tác động đến thủy điện ở
các vùng. Nhiệt độ tăng lên kèm theo lượng bốc hơi tăng cũng góp phần thay đổi
lượng dự trữ và lưu lượng của các hồ thủy điện, ảnh hưởng đến khả năng sản
xuất và điều tiết kế hoạch sản xuất thủy điện. Nhu cầu tưới trên các vùng hạ lưu
cũng tăng nhất là vào thời kỳ mùa khô hoặc xẩy ra hạn hán sẽ ảnh hưởng tới khả
năng cân đối nguồn nước, điều tiết hồ, thực hiện kế hoạch phát điện. Cường độ
mưa quá lớn do bão không chỉ gây khó khăn cho quá trình điều tiết hồ chứa mà
còn gây lũ lụt, đe dọa an toàn cho vùng hạ lưu.
Những đợt nắng nóng xuất hiện nhiều hơn sẽ góp phần tạo ra nhiều hơn
những sự cố cho nguồn phát, mạng chuyển tải điện.
Hệ thống sử dụng nguồn năng lượng gió và bức xạ mặt trời đang được
khuyến cáo phát triển trong các chiến lược quốc gia về cân đối năng lượng, giảm
phát thải khí nhà kính. BĐKH dẫn đến những biến động trong cấu trúc của chế
độ gió và bức xạ như tăng hệ thống mây đối lưu, giảm bức xạ sóng ngắn, tăng
bức xạ sóng dài, tăng mức biến động của tốc độ gió, thời gian nắng... (IPCC,
Nguyễn Thị Phương Anh Kinh tế môi trường 46
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
2001). Tình hình trên sẽ ảnh hưởng đến tiềm năng, do đó đến khả năng khai thác
nguồn năng lượng tái tạo này.
Hoạt động của các dàn khoan dầu được xây dựng trên biển, hệ thống vận
chuyển dầu và khí và các nhà máy điện chạy khí được xây dựng ven biển sẽ bị
ảnh hưởng do nước biển dâng cao thêm, gia tăng những thiên tai trên biển làm