NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HOANG MẠC HÓA ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH THUẬN TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
----------------------

Bùi Thị Thanh Hương

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HOANG MẠC HÓA
ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH THUẬN
TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Chuyên ngành đào tạo

: Địa lý Tài nguyên và Môi trường

Mã số chuyên ngành

: 62 44 02 19

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ

Hà Nội, 2015


Luận án được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện Hàn lâm Khoa học
và Công nghệ Việt Nam


đe dọa trực tiếp của hạn hán. Trong bối cảnh BĐKH, mức độ ảnh hưởng của hạn hán
và HMH đến SXNN ngày càng tăng. Nếu từ năm 2000 trở về trước, hạn hán ở Bình
Thuận tập trung chủ yếu trong vụ hè thu và vụ mùa thì đến nay cũng có hạn hán ở cả
vụ đông xuân, thậm chí kéo dài đến vụ hè thu.
Nghiên cứu ảnh hưởng của hạn hán và HMH đến SXNN, đặc biệt là trồng trọt
để phân hóa mức độ ảnh hưởng đó theo lãnh thổ và đề xuất giải pháp ứng phó ưu tiên
theo từng đơn vị lãnh thổ là nghiên cứu mang tính cấp thiết, phục vụ thiết thực cho
công tác định hướng qui hoạch nông nghiệp của tỉnh Bình Thuận trong bối cảnh
BĐKH.
2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của hạn hán, HMH đến SXNN ở Bình Thuận
- Đề xuất lựa chọn một số giải pháp ứng phó với hạn hán và HMH cho trồng trọt
của tỉnh trong bối cảnh BĐKH.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan các công trình nghiên cứu ảnh hưởng của hạn hán và HMH đến
SXNN; xác lập cơ sở lý luận và PPNC ảnh hưởng của hạn hán và HMH đến
SXNN;
- Phân tích các nhân tố tự nhiên, KTXH ảnh hưởng đến hạn hán và HMH ở tỉnh
Bình Thuận;
- Đánh giá thực trạng và tiềm năng hạn hán và HMH ở Bình Thuận trong bối cảnh
BĐKH bằng phân tích SWOT- AHP;
- Đánh giá thực trạng và dự tính ảnh hưởng của hạn hán và HMH đến hoạt động
trồng trọt đến năm 2050 trên toàn tỉnh và theo các loại hình hoang mạc thông qua
bộ dấu hiệu chỉ thị;
- Thành lập BĐ đánh giá thực trạng ảnh hưởng của hạn hán và HMH tới SXNN giai
đoạn 1995 – 2010 và dự tính ảnh hưởng của hạn hán, HMH tới trồng trọt đến năm
2050;

1


những khuyến nghị định hướng qui hoạch nông nghiệp ở Bình Thuận đến 2050 theo
từng cụm xã bằng tích hợp GIS và SPSS.
7. Cơ sở tài liệu
Tài liệu, số liệu nghiên cứu của luận án được khai thác từ các cơ sở đáng tin
cậy như: kịch bản BĐKH (năm 2012) của Bộ Tài nguyên và Môi trường; dữ liệu
khí tượng thủy văn của Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia; tư liệu bản đồ:
Atlat Quốc gia Việt Nam, sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận, đề tài Nhà
nước KHCN- 07-01(2001), đề tài Nghị định thư Việt Nam – Bỉ (2011); dữ liệu
KTXH: cục thống kê tỉnh Bình Thuận, sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh
Bình Thuận, sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận. Tài liệu tham khảo của
luận án được khai thác từ các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và thu thập
dữ liệu từ 2 chuyến thực địa của NCS tại Bình Thuận.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2


8.1. Ý nghĩa khoa học:
- Luận án đã góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận nghiên cứu ảnh hưởng của HMH
đến SXNN trong bối cảnh BĐKH cho lãnh thổ cấp tỉnh.
- Luận án minh chứng một phương pháp đánh giá tổng hợp trong nghiên cứu địa lý
qua việc áp dụng phân tích SWOT-AHP để đánh giá tình trạng HMH, ảnh hưởng
HMH đến trồng trọt trong điều kiện BĐKH.
8.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của luận án là tư liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu
về hạn hán, HMH và ảnh hưởng của hạn hán, HMH đến trồng trọt trong điều kiện
BĐKH ở các huyện và xã tại tỉnh Bình Thuận.
- Cung cấp cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch trồng trọt và lập kế hoạch
thực thi các giải pháp ưu tiên ứng phó hạn hán, HMH ảnh hưởng đến trồng trọt
theo đơn vị hành chính cấp xã, cụm xã.
9. Cấu trúc luận án


thể hiện trong công trình nghiên cứu của các nhà khí tượng nông nghiệp như Nguyễn
Văn Viết, Dương Văn Khảm, Nguyễn Văn Liêm, Ngô Sĩ Giai, Đoàn Văn Điếm.
Nghiên cứu dự tính cảnh báo hạn (Nguyễn Quang Kim, Nguyễn Văn Thắng) dù đã
có nhiều thành tựu cả về nghiên cứu định tính và định lượng nhưng những dự tính tác
động chi tiết cho SXNN hay dự tính những tác động trong bối cảnh BĐKH vẫn còn
rất ít. Các công trình nghiên cứu đề xuất những giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng của
hạn hán và HMH tới SXNN (Ngô Đình Tuấn, Nguyễn Lập Dân, Đoàn Doãn Tuấn)
cũng chỉ dừng lại ở những đề xuất ứng phó chung mà chưa có đề xuất ứng phó cho
một lãnh thổ nhỏ (xã, huyện) trong bối cảnh BĐKH.
Ở tỉnh Bình Thuận, nhiều công trình nghiên cứu đã đóng góp những cơ sở khoa
học cho nghiên cứu ảnh hưởng của hạn hán và HMH đến môi trường tự nhiên,
KTXH của tỉnh nhưng những nghiên cứu đánh giá một cách toàn diện và chi tiết về
ảnh hưởng của hạn hán và HMH đến SXNN ở tỉnh Bình Thuận vẫn chỉ tập trung ở
dạng báo cáo thống kê thực trạng và đề xuất những giải pháp ứng phó ngắn hạn mà
chưa đặt SXNN của tỉnh Bình Thuận trong bối cảnh BĐKH khi xu hướng hạn hán
và HMH ngày một gia tăng.
Chính vì lẽ đó, nghiên cứu ảnh hưởng của hạn hán và HMH đến SXNN trong
bối cảnh BĐKH mang tính cấp thiết và có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
1.2. Cơ sở lý luận nghiên cứu ảnh hưởng của hạn hán và HMH đến SXNN
1.2.1. Những khái niệm cơ bản
(1) Hạn hán là một dị thường tạm thời, khác với sự khô cằn ở vùng ít mưa và
là đặc tính thường xuyên của khí hậu. (2) Hoang mạc hóa (FAO, 1995) là quá trình
tự nhiên và xã hội phá vỡ cân bằng sinh thái của đất, thảm thực vật, không khí và
nước ở những vùng khô hạn, bán khô hạn và bán ẩm ướt. Quá trình xảy ra liên tục,
qua nhiều giai đoạn, dẫn đến giảm sút hoặc tiêu diệt hoàn toàn khả năng dinh dưỡng
của đất trồng, giảm thiểu các điều kiện sinh sống và tăng thêm cảnh hoang tàn. (3)
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình
/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập
kỷ hoặc dài hơn (Công ước khung của LHQ về BĐKH).

đến nông nghiệp vùng ven biển là sự mất đất trồng do ngập nước, xói mòn và xâm
nhập mặn...
1.2.5. Quan điểm nghiên cứu
Những quan điểm khoa học chủ yếu sử dụng trong thực hiện các nhiệm vụ
nghiên cứu là: quan điểm hệ thống, quan điểm lãnh thổ, quan điểm lịch sử - viễn
cảnh và quan điểm thực tiễn.
1.2.6. Hướng tiếp cận nghiên cứu
Hai hướng tiếp cận được vận dụng trong thực hiện đề tài nghiên cứu là tiếp địa
lý tổng hợp và hướng tiếp cận sinh thái tài nguyên - môi trường.
1.3. Phương pháp, các bước nghiên cứu
1.3.1. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận án, NCS sử dụng 6 nhóm PPNC chính: (1) Phân tích tổng hợp
SWOT – AHP; (2) tích hợp GIS với viễn thám, bản đồ, Eto Calculator, Budget,
SPSS và SWOT - AHP; (3) điều tra xã hội học; (4) phương pháp chuyên gia; (5)
khảo sát thực địa; (6) thu thập, xử lý và phân tích tài liệu.
1.3.2. Các bước nghiên cứu:
- Bước 1: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên – KTXH đến hạn
hán, HMH ở hiện tại và tương lai theo kịch bản BĐKH bằng phân tích SWOT –
AHP thông qua quá trình xử lý và phân tích tổng hợp các dữ liệu về các nhân tố tự
nhiên, KTXH ảnh hưởng đến HMH, thực trạng và tiềm năng hạn hán, thoái hóa đất
và HMH.
- Bước 2: Đánh giá ảnh hưởng của hạn hán và HMH đến trồng trọt ở tỉnh Bình
Thuận trong bối cảnh BĐKH dựa trên bộ dấu hiệu chỉ thị được tìm ra bằng các
phân tích bán định lượng về những biến động sử dụng đất SXNN, năng suất cây
trồng, cơ cấu mùa vụ.
- Bước 3: Đề xuất giải pháp ứng phó ưu tiên với HMH đến 2050 theo từng cụm
xã bằng tích hợp SWOT – GIS và SPSS. Từ đó, một vài định hướng qui hoạch
SXNN tỉnh Bình Thuận đến 2050 được khuyến nghị.
5


nguồn nước....
Các yếu tố TN – KTXH hiện tại làm gia tăng HMH ở Bình Thuận có những tác
động quá mức của con người vào tài nguyên như: phá rừng đầu nguồn, khai thác
khoáng sản ven biển dẫn đến phá hủy cảnh quan và môi trường sinh thái; phương pháp
canh tác lạc hậu, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật làm ô nhiễm môi trường
đất và thoái hóa đất đai... Các yếu tố tự nhiên cũng có vai trò không nhỏ làm gia tăng
HMH ở Bình Thuận như: lượng mưa trung bình năm thấp (dưới 800mm ở vùng
duyên hải), lượng mưa phân hóa mạnh mẽ theo mùa trên toàn tỉnh. Lượng bốc hơi
trung bình năm cao (trên 1400mm) ở khu vực phía Bắc. Hạn nặng vào mùa khô
thường xảy ra ở khu vực phía Bắc và duyên hải. Nhưng hạn hán lại trở nên khó giải
quyết hơn tại một số vùng khi nguồn nước ngầm còn nghèo do vùng này cấu tạo bởi
thể địa chất không chứa nước và nghèo nước. Cùng với sự xuất hiện các thảm thực vật
nhiệt đới khô điển hình (truông bụi gai, trảng cỏ thứ sinh, rừng thưa nửa rụng lá...) là sự
6


xuất hiện hiện tượng đất đai bị thoái hóa nặng, (nhiễm mặn, nhiễm phèn), đất nghèo
dinh dưỡng, khô cằn. Trầm trọng hơn là sự xuất hiện các hoang mạc cát hay hiện
tượng cát bay, cát chảy xâm lấn đồng ruộng, lấp đầy sông, hồ.
Các yếu tố TN – KTXH tương lai làm hạn chế HMH ở Bình Thuận: theo kịch bản
BĐKH, lượng mưa mùa mưa sẽ tăng dần. Hệ thống thủy lợi của Bình Thuận sẽ có
nhiều thay đổi tích cực do được tỉnh đầu tư, qui hoạch phát triển. Với vai trò của qui
hoạch sử dụng đất nhiều vùng chuyên canh cây nông - lâm nghiệp sẽ góp phần mở
rộng lớp phủ thực vật. Đồng thời các vùng đất lâm nghiệp được bảo vệ và phát triển,
đặc biệt là các khu rừng đầu nguồn ở phía Tây và rừng phòng hộ ở phía Đông. Việc
mở rộng và phát triển các vùng du lịch sinh thái cũng góp phần tăng trưởng kinh tế gắn
liền với phát triển bền vững. Đặc biệt, người dân sẽ dần thay đổi tư duy ứng phó với
hạn hán, HMH, tiếp thu nhanh nhiều kĩ thuật mới (tưới tiết kiệm nước, thu trữ nước
mặt nước ngầm, sử dụng nước hồi qui, cải tạo vùng đất thoái hóa...), thay đổi cơ cấu
cây trồng, cơ cấu mùa vụ sẽ là những nhân tố giảm thiểu và hạn chế những tác động


2.3. Thực trạng và tiềm năng hạn hán ở tỉnh Bình Thuận trong bối cảnh
BĐKH
2.3.1. Hạn khí tượng
Hạn khí tượng chủ yếu là hạn vào mùa khô, tập trung ở vùng duyên hải phía Bắc
(Tuy Phong, Bắc Bình và một phần thành phố Phan Thiết. Dự tính đến năm 2050, thời
gian mùa khô sẽ kéo dài thêm 42 ngày ở Bắc Bình Thuận và 13 ngày ở Nam Bình
Thuận, sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng hạn khí tượng vào mùa khô của tỉnh.
2.3.2. Hạn thủy văn
Hạn thủy văn trên hầu hết các hệ thống sông suối đều ở mức hạn nhẹ hoặc hạn
vừa, song theo dự tính đến năm 2050, mức giảm trung bình từ 7-8% lưu lượng dòng
chảy trung bình năm so với thời kì 1980 - 1999.
2.3.3. Hạn nông nghiệp
Hạn nông nghiệp chủ yếu ở mức hạn đáng kể và hạn nặng (chiếm 81,6% diện
tích toàn tỉnh), hạn nghiêm trọng chiếm 6,1% diện tích toàn tỉnh ở duyên hải phía Bắc.
Theo dự tính, trong bối cảnh BĐKH, diện tích hạn nông nghiệp nghiêm trọng sẽ tiếp
tục mở rộng đến 9% (năm 2030) và 9,6% (năm 2050) sẽ là một thách thức cho SXNN
ở hai huyện Tuy Phong và Bắc Bình.
2.4. Thực trạng và tiềm năng HMH trong bối cảnh BĐKH
Hiện tại, đất thoái hoá nặng có diện tích 154.336 ha (chiếm 19,76%), phân bố chủ
yếu ở các cồn cát, trảng cát dưới các trảng cỏ và trên đất xói mòn trơ sỏi đá thuộc các
huyện ven biển. Phần lớn diện tích đất thoái hoá nặng ở dưới trảng cỏ và trên những
cồn cát ở các huyện Bắc Bình (28.564 ha), Hàm Thuận Bắc (12.959 ha), Hàm Thuận
Nam (28.017 ha), Tánh Linh (22.033 ha), Hàm Tân (21147,7 ha). Dự tính, tỷ lệ diện
tích đất bị thoái hóa so với diện tích tự nhiên còn cao ở một số địa phương như Tuy
Phong (65,5%), Bắc Bình (61,4%), Hàm Thuận Bắc (68,8%). Loại thoái hóa tiềm
năng ở các địa phương này chủ yếu là thoái hóa bạc màu, sét hóa và thoái hóa trơ sỏi
đá.
Hoang mạc, dù là cảnh quan sinh thái đặc thù của Bình Thuận, song trong bối
cảnh BĐKH và tác động ngày một mạnh mẽ từ hoạt động khai thác tài nguyên của

tỉnh Bình Thuận theo các địa phương giai đoạn 1995 – 2010

Thống kê từ bản đồ dự tính (hình 2.21)

9


Hình 2.23: Dự tính diện tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên –
KTXH đến HMH ở tỉnh Bình Thuận phân theo các địa phương đến năm 2050
Qua bản đồ Đánh giá dự tính cho thấy, mức độ ảnh hưởng mạnh của các nhân tố
tự nhiên – KTXH sẽ gia tăng (tăng từ 155412,1 ha lên đến 163805,5 ha vào năm
2050). Nhìn chung, mức độ biểu hiện này không thay đổi sau 30 năm nữa trong bối
cảnh BĐKH ở các huyện phía Nam của tỉnh, song lại gia tăng diện tích ở các huyện
phía Bắc, trong đó, Tuy Phong là địa phương có diện tích tăng nhanh từ 32.527 ha lên
tới 44.349 ha vào năm 2050.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Hiện nay, Bình Thuận đang phải đối mặt với hạn hán và HMH, có 47,7% diện
tích toàn tỉnh chịu ảnh hưởng hạn vào mùa khô, tập trung ở vùng duyên hải (Tuy
Phong, Bắc Bình và Phan Thiết) có 53,1% diện tích của tỉnh chịu ảnh hưởng của hạn
nông nghiệp ở mức hạn nghiêm trọng và hạn nặng. Bình Thuận có đến 19,6% diện
tích đất bị thoái hóa, 21,5% diện tích bị hoang mạc hóa đã và đang đe dọa SXNN. Nên
hạn hán và HMH là một hiện tượng tự nhiên bất lợi, khá đặc thù ở Bình Thuận. Trong
bối cảnh BĐKH, đến năm 2050, nhiệt độ trung bình năm sẽ tăng 1,40C, lượng mưa
trung bình năm tăng khoảng 1,5% trên toàn tỉnh nhưng lại giảm khoảng 8% lượng
mưa vào đồng ở khu vực phía Bắc và Đông Bắc. Hạn nông nghiệp ở mức hạn nặng và
hạn nghiêm trọng được dự tính sẽ tăng lên tới 59,9% diện tích. Hoang mạc sẽ mở rộng,
chiếm 37,4%, trong đó, hoang mạc cát sẽ chiếm đến 15,3% và hoang mạc đất cằn
cũng chiếm đến 19,6% diện tích.
Luận án đã đánh giá được thực trạng và dự tính mức độ ảnh hưởng của các nhân
tố tự nhiên – KTXH đến HMH trong bối cảnh BĐKH bằng tích SWOT – AHP và

Bảng 3.4: Diện tích cây trồng bị thiệt hại nặng do hạn hán của Bình Thuận
giai đoạn 1997 -2010
Lúa
Cây trồng khác

1997
30

1998
2279

2003
3528

2004
16217

2005
16000

2006
-

2008
168

2010
5005

-

3.3.1. Tình hình biến động
Bằng phương pháp điều tra xã hội học (điều tra cấp xã) với sự hỗ trợ của phần
mềm xử lý số liệu thống kê SPSS, tác giả luận án đã tìm ra những thay đổi cơ cấu mùa
vụ cây trồng trong khu vực nhỏ. Kết quả thu được như sau:
Cơ cấu mùa vụ lúa, sau hơn 10 năm, đã có nhiều thay đổi, tỷ trọng các xã trồng
lúa mùa đang có xu hướng chững lại và giảm nhẹ. Cơ cấu mùa vụ ngô khá đa dạng với
5 vụ khác nhau. Ngô vụ đông xuân vẫn chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng tiếp tục gia
tăng sau 15 năm. Cơ cấu mùa vụ cây khoai lang tập trung ở hai vụ chính: đông xuân
(tháng 12 – tháng 4) và vụ mùa sớm (tháng 7 – tháng 9) và có chuyển dịch rõ nét, từ vụ
hè thu sang vụ đông xuân. Cơ cấu mùa vụ sắn gồm 3 vụ chính. Bắc Bình, Tuy Phong,
Hàm Thuận Bắc là những huyện trồng nhiều sắn. Cơ cấu mùa vụ lạc gồm 3 vụ chính
và phổ biến là vụ đông xuân và vụ xuân. Cơ cấu mùa vụ thuốc lá không thay đổi sau
15 năm, được trồng chủ yếu vào vụ đông xuân (từ tháng 10 đến tháng 12). Cơ cấu mùa
vụ bông tập trung ở 3 vụ chính, vụ đông xuân (tháng 11 – tháng 2), vụ mùa (tháng 5 –
11


tháng 10), vụ mùa sớm (tháng 7 – tháng 9). Mùa vụ của cây bông có xu hướng chuyển
dịch từ vụ mùa sang vụ đông xuân, điển hình ở hai huyện Bắc Bình và Tuy Phong. Cơ
cấu mùa vụ dưa lấy hạt chủ yếu là vụ mùa từ tháng 5 đến tháng 10. Sau hơn 10 năm,
diện tích trồng dưa lấy hạt có xu hướng tăng nhẹ, điển hình tại các địa phương như Tuy
Phong, Hàm Thuận Bắc và Đức Linh. Cơ cấu mùa vụ mè bao gồm hai vụ chính: vụ hè
thu (tháng 3 đến tháng 7) và vụ hè thu muộn (tháng 5 đến tháng 7), các huyện phía Bắc
như Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc trồng mè vào vụ hè thu (tháng 3 đến tháng 7), các
huyện phía Nam như Hàm Thuận Nam và Hàm Tân lại trồng mè vào vụ hè thu muộn
(tháng 5 đến tháng 7).
3.3.2. Xác định thời kì trồng trọt thích hợp bằng dữ liệu khí tượng và phần mềm
Eto Calculator.
Bằng cách sử dụng phần mềm Eto Calculator xử lý các dữ liệu khí tượng, thổ
nhưỡng, thời kì trồng trọt thích hợp theo từng trạm khí tượng đã được xác định. Kết

200

Thời
gian
trồng
trọt tốt
(ngày)

Vùng nội ngoại suy từ các trạm khí tượng

Duyên hải phía Bắc thuộc huyện Tuy Phong ở các
xã: Vĩnh Hảo, Phước Thể, Liên Hương, Bình Thạnh.
Chợ Lầu, Hồng Thái, Hòa Thắng, Hồng Phong (Bắc
Bình) và thành phố Phan Thiết.
1/5 huyện Hàm Thuận Bắc, 1/2 huyện Hàm Thuận
Nam, 1/2 huyện Hàm Tân, 3/4 huyện Tánh Linh, 3/4
huyện Đức Linh
1/4 huyện Đức Linh (ĐaKai, Sùng Nhơn, Mê Pu),
1/4 huyện Tánh Linh (Đức Phú, Đức Nghi, Măng
Tô, Bắc Ruộng)

Thời kỳ
Thời
chuyển tiếp
gian
(ngày)
có thể
gieo
trồng
T1

26

3.3.3. Dấu hiệu chỉ thị hạn hán và HMH qua nghiên cứu cơ cấu mùa vụ
Dấu hiệu thứ nhất, nếu chỉ xét riêng điều kiện khí tượng, khoảng thời gian khô
hạn, không thích hợp cho gieo trồng, còn khá dài ở một số khu vực duyên hải tỉnh
Bình Thuận. Thời gian không thể trồng trọt tốt tương ứng với khoảng thời gian khô
hạn trong năm kéo dài trên 200 ngày (6 – 8 tháng) ở vùng duyên hải phía Bắc trên
12


địa bàn các xã: Vĩnh Hảo, Phước Thể, Liên Hương, Bình Thạnh (huyện Tuy
Phong). Trong khi thời gian mùa vụ (khoảng thời gian có thể trồng trọt tốt) lại chưa
đủ, chỉ có khoảng 78 ngày từ trung tuần tháng 9 nhưng chỉ đến đầu tháng 12. Trên
các vùng hoang mạc cát kéo dài từ Chợ Lầu, Hồng Thái, Hòa Thắng, Hồng Phong
(Bắc Bình) và toàn bộ thành phố Phan Thiết, có khoảng thời gian không thể trồng
trọt tốt kéo dài khoảng 5 đến 6 tháng (từ tháng 12 đến tháng 5). Như vậy, mức độ
ảnh hưởng của hạn hán và HMH đến cơ cấu mùa vụ khu vực này có xu hướng giảm
đi rõ rệt so với khu vực duyên hải phía Bắc.
Dấu hiệu thứ hai, một số cây trồng có khả năng chịu hạn tốt được chuyển đổi
trồng vào thời kì khô hạn trong năm. Đó là nhiều diện tích khoai lang ở Hàm Thuận
Nam, Đức Linh và Tánh Linh đã chuyển đổi thời gian gieo trồng từ vụ hè thu sang
vụ đông xuân; nhiều diện tích trồng sắn được chuyển đổi sang vụ hè thu muộn
(tháng 5 – tháng 7) hoặc vụ đông xuân (tháng 12 đến tháng 4). Cây lạc cũng có
hướng chuyển dịch dần từ vụ hè, vụ đông xuân sang vụ xuân, khoảng thời gian khô
hạn nhất trong năm. Đặc biệt tại Hàm Tân, Phan Thiết và Hàm Thuận Nam, cây lạc
được trồng xen dưới các vùng trồng cây ăn quả (cây thanh long, cây xoài) nhằm giữ
độ ẩm đất vào mùa khô và giảm nguy cơ xói mòn đất vào mùa mưa. Mùa vụ của
cây bông có xu hướng chuyển dịch từ vụ mùa sang vụ đông xuân, điển hình ở hai
huyện Bắc Bình và Tuy Phong.
Dấu hiệu thứ ba, tỷ trọng các xã trồng lúa mùa đang có xu hướng chững lại

Lúa mất trắng
(năng suất giảm 100%)
Lúa giảm năng suất từ 50 - 99%
Lúa giảm năng suất dưới 50%
Tổng giá trị thiệt hại (tỷ đồng)

1997 1998

2003

30 2279

2

2004
442

_

_

180

5327

_

_

3346

Theo các địa phương, thiệt hại về năng suất do hạn hán tập trung chủ yếu ở các
huyện: Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc và Hàm Thuận Nam.
Bảng 3.11. Diện tích lúa bị suy giảm năng suất 100%(mất trắng vụ) do hạn hán
phân theo các địa phương (đơn vị: ha)
Huyện
Tuy Phong
Bắc Bình
Hàm Thuận Bắc
Hàm Thuận Nam
Phan Thiết
La Gi
Hàm Tân
Đức Linh
Tánh Linh
Toàn tỉnh

2003
0
0
0
0
0
0
1
1
0
2

2004
25

0
0
563

2010
367
567
150
380
0
0
0
54
61
1579

Nguồn:Ban chỉ huy Phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn tỉnh Bình Thuận

Dấu hiệu thứ hai, hạn hán làm năng suất các loại cây trồng khác cũng bị suy
giảm. Bên cạnh lúa, nhiều diện tích gieo trồng các loại cây trồng khác như: ngô,
sắn, đậu tương, bông, điều, thanh long, dưa lấy hạt, cao su... cũng chịu thiệt hại về
năng suất do hạn hán. Năm 2004, bắp lai đạt 32 tạ/ha thấp hơn năm 2003 là 22
tạ/ha. Các cây hoa màu khác cũng chỉ đạt khoảng 52% so với cùng kỳ năm trước.
Bảng 3.12: Diện tích cây trồng (trừ lúa) bị suy giảm năng suất do hạn hán
(đơn vị: ha)
Cây trồng giảm năng suất
giảm 100% (mất trắng)
Cây trồng giảm năng suất dưới
40%
Giá trị thiệt hại (tỷ đồng)


_

_

15324

2,7

61,3

112,4

3,2

2,3

14,5

Nguồn:Ban chỉ huy Phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn tỉnh Bình Thuận
14


Theo bảng 3.12, toàn tỉnh có đến 22501 ha cây trồng bị mất trắng do hạn hán.
Con số này lại tăng lên vào năm 2005 với 39137 ha và giảm nhẹ xuống còn 9199 ha
vào năm 2010. Giá trị thiệt hại của hạn hán gây ra cho các cây trồng khác còn lớn
hơn thiệt hại gây ra cho sản xuất lúa. Năm 2004, thiệt hại do hạn hán gây ra cho các
loại cây trồng (trừ lúa) là 61,3 tỷ và lên tới 112,4 tỷ vào năm 2006.
Dấu hiệu thứ ba, năng suất cây trồng không thể đạt 100% năng suất tiềm năng
trên đất cát và đất sét ở vùng duyên hải Bình Thuận nếu không có sự hỗ trợ của hệ

(S2): Lượng mưa vào mùa mưa tương đối
khá.
(S3): Rừng kín thường xanh và thảm cây
trồng lâu năm có mức độ tập trung khá và
chất lượng tốt.
(S4): Người dân ở Bình Thuận có nhiều kinh
nghiệm ứng phó với hạn hán và HMH.
(S5): Quá trình đô thị hóa và CNH đang thu

Điểm yếu (W)
(ảnh hưởng tiêu cực ở hiện tại)
(W1): Lượng mưa trung bình năm thấp, phân
hóa mạnh mẽ theo mùa.
(W2): Lượng bốc hơi trung bình năm cao (trên
1400mm).
(W3): Thời gian khô hạn trong năm không thích
hợp cho gieo trồng còn khá dài.
(W4): Các hoang mạc cát và các hiện tượng cát
bay, cát chảy xâm lấn đồng ruộng, lấp đầy sông,
hồ.
(W5): Nguồn nước ngầm nghèo ở một vài nơi.

15


hút đầu tư khoa học công nghệ.
(S6): Hệ thống thủy lợi và kĩ thuật thủy lợi
đáp ứng được yêu cầu tưới tiêu.
(S7): Năng suất nhiều loại cây trồng thích ứng
với hạn hán và HMH tăng.

(O7): Diện tích cây trồng thích ứng với hạn
hán và HMH sẽ được mở rộng.
(O8): Một số cây trồng chịu hạn được chuyển
đổi trồng vào thời kì khô hạn trong năm.

Thách thức (T)
(ảnh hưởng tiêu cực ở tương lai)
(T1): Hoang mạc đất cằn sẽ mở rộng (hình
2.19).
(T2): Hoang mạc cát sẽ mở rộng (hình 2.19).
(T3): Đất bị thoái hóa, bạc màu sẽ gia tăng
(hình 2.17).
(T4): Hoang mạc muối sẽ mở rộng (hình 2.19).
(T5): Lượng mưa mùa khô sẽ giảm, thời gian
mùa khô sẽ kéo dài hơn.
(T6): Diện tích hạn nông nghiệp nặng và
nghiêm trọng sẽ mở rộng diện tích (hình 2.16).
(T7): Sức ép của dân số đông và quá trình đô thị
hóa lên tài nguyên môi trường.
(T8): Nhiều diện tích lúa tiềm năng chưa được
đưa vào khai thác.
(T9): Diện tích lúa bị suy giảm và chuyển đổi
sang các loại hình sử dụng đất khác.
(T10):Tỷ trọng các xã trồng lúa mùa đang có xu
hướng giảm nhẹ.

3.5.1.2. Dự tính ảnh hưởng của hạn hán và HMH đến trồng trọt theo kịch bản
BĐKH bằng phương pháp AHP(Analytic Hierarchy Process)
Bằng phương pháp chuyên gia thông qua phiếu xin ý kiến chuyên gia, NCS đã
phân tích và tổng hợp các ý kiến tư vấn để tìm ra trọng số của từng nhân tố bằng phương

Bảng 3.18: Khảo sát thực trạng canh tác tại các trọng điểm HMH
Hoang
mạc

Hoang
mạc cát

Loại Loại hình canh tác
đất
Đất cát - Dưa lấy hạt (2 vụ);
đỏ
- Đậu, đỗ (2 vụ);
- Lạc (1 vụ)+ Dưa lấy hạt (1 vụ);
- Sắn xen điều.

Phân bố theo xã

Đất cát - Đậu, đỗ ( 2 vụ); Dưa lấy hạt ( 2 vụ);
trắng
Sắn + điều;
vàng - Sắn+ Dưa lấy hạt;
- Dưa lấy hạt (1 vụ)+ khoai lang (1 vụ);
- Sắn, điều, khoai lang, nho, xoài, mẵng
cầu.
Đất cát - Đậu, đỗ;
trắng - Dưa lấy hạt, sắn, mè, điều;
và đất - Sắn+ dưa lấy hạt;
cát
- Dưa lấy hạt (1 vụ) + khoai lang (1 vụ);
biển

Chí Công, Hòa Minh; Bắc Bình: Hòa Thắng,
Lương Sơn, Hồng Phong, Hồng Thái; Hàm Thuận
Bắc: Thiện Nghi, Hàm Nhơn;
Phan Thiết : Mũi Né, Hàm Tiến, Tiến Lợi; Hàm
Thuận Nam: Hàm Minh, Hàm Cường;
LaGi: Tân Tiến, Tân An, Tân Phước; Hàm Tân:
Sơn Mỹ, Tân Thắng.
Tuy Phong: Vĩnh Hảo, Phú Lạc, Phong Phú; Bắc
Bình: Phan Hòa, Hải Ninh, Bình An, Lương Sơn,
Phan Thanh; Hàm Thuận Bắc: Hàm Liêm, Hàm
Thắng, Hàm Hiệp; Hàm Thuận Nam: Hàm Cần,
Hàm Kiệm; Phan Thiết: Tiến Thành, Tiến Lợi, Mũi
Né; LaGi: Tân Tiến, Tân An;
Hàm Tân: Tân Đức, Tân Phúc, Sông Phan, Tân
Lập;


Hoang mạc đá

Hoang mạc muối

- Mô hình chuyên trồng cây ăn quả:
thanh long, xoài, đu đủ, nhãn, na; Mô
hình nông lâm kết hợp: cây ăn quả
(điều, xoài, na, nhãn, mãng cầu), xoan
chịu hạn, cây cóc hành, hành tỏi....
- Mô hình nông lâm kết hợp: cây ăn quả
(điều, xoài, na, nhãn, mãng cầu), cây
keo lá tràm;
- Chăn thả dê, cừu...

lợi, 7 xã sẽ xuất hiện tình trạng thoái hóa đất và ảnh hưởng của hoang mạc đất cằn như Gia
Huynh, Suối Kiết (Tánh Linh), Tân Đức, Tân Phúc, Tân Minh, Sông Phan, thị trấn Hàm Tân
(Hàm Tân). Đồng thời, do đất được cải tạo tốt, 2 xã Hàm Cường và Hàm Mỹ (Hàm Thuận
Nam) sẽ chuyển từ khu vực chịu ảnh hưởng của hoang mạc cát sang khu vực chịu tác động của
hoang mạc đất cằn.
3.5.4. Trọng điểm hoang mạc muối và hoang mạc đá
Vùng hoang mạc đá còn bị bỏ hóa, các hoạt động canh tác còn thưa thớt và kém phát
triển. Mô hình nông lâm kết hợp: cây ăn quả (điều, xoài, na, nhãn, mãng cầu), cây keo lá tràm
hay canh tác ngô (1 vụ hoặc 2 vụ) xuất hiện rải rác ở một số nơi.
Hoang mạc muối là khu vực tích muối kiềm Cacbonnat Natri của các loại đá giàu kiềm,
trên các địa hình thoải đồng bằng và đồng bằng đồi bóc mòn rửa trôi, phân bố nhiều ở Vĩnh
Hảo – Tuy Phong. Hầu hết các khu vực bị nhiễm mặn hiện nay đều bị bỏ hoang hoặc phân bố
rải rác ven các cánh đồng sản xuất muối.
18


3.5.5. Xây dựng bản đồ đánh giá ảnh hưởng của hạn hán và HMH đến trồng trọt trong
bối cảnh BĐKH
Kết quả thống kê từ 2 bản đồ Đánh giá thực trạng và dự tính ảnh hưởng của hạn hán và
HMH đến trồng trọt ở tỉnh Bình Thuận được thể hiện trong bảng 3.25 và hình 3.18:
Bảng 3.25: Diện tích và tỷ lệ so với diện tích tự nhiên của các cấp độ ảnh hưởng của hạn
hán và HMH đến trồng trọt ở tỉnh Bình Thuận
Cấp độ
Cấp 1
Cấp 2
Cấp 3
Cấp 4
Cấp 5
Cấp 6
Cấp 7

49621,38

26,7
19,9
23,3
6,7
12,3
6,5
6,4

Thống kê từ bản đồ đánh giá thực trạng và dự tính ảnh hưởng (hình 3.20, hình 3.21)

Hình 3.18: Thay đổi số xã theo các cấp độ ảnh hưởng của hạn hán và HMH đến trồng
trọt giai đoạn 1995 – 2010 và 2050

Hình 3.19: Thay đổi số xã chịu ảnh hưởng của các loại hình hoang mạc chủ yếu giai đoạn
1995 – 2010 và năm 2050
19




3.6. Đề xuất giải pháp cho ngành trồng trọt ứng phó với hạn hán và HMH
trong bối cảnh BĐKH ở Bình Thuận
3.6.1. Đánh giá thực trạng triển khai các giải pháp ứng phó với hạn hán và
HMH bằng phân tích SWOT
Bằng cách tổng hợp thông tin từ các phiếu điều tra cấp xã kết hợp tham khảo
các tài liệu của địa phương, 7 nhóm giải pháp (chọn cây trồng thích ứng với hạn hán
và HMH, mô hình canh tác nông nghiệp phù hợp, xây dựng các công trình thủy lợi,
sử dụng kĩ thuật tiết kiệm nước, cải tạo đất, tăng diện tích và chất lượng lớp phủ



thấp. Cụm 9 (C9) gồm 6 xã thuộc huyện Đức Linh và Tánh Linh, nơi ít chịu ảnh
hưởng bởi hạn hán và HMH ở cấp 1, cấp 2. Cụm 10 (C10) gồm 15 xã phân bố rải
rác ở phía Tây các huyện trong tỉnh. Các xã này đều nằm trong khu vực miền núi,
có lớp phủ rừng phát triển nên ít chịu ảnh hưởng của hạn hán và HMH. Cụm
11(C11) gồm 13 xã miền núi phía Tây của tỉnh.
3.6.3. Đề xuất định hướng qui hoạch nông nghiệp tỉnh Bình Thuận đến 2050
Bằng những phân tích có cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn, kết hợp với nghiên
cứu BĐ qui hoạch phát triển nông nghiệp tỉnh Bình Thuận đến 2020, những định
hướng qui hoạch phát triển nông nghiệp tỉnh Bình Thuận đến năm 2050 phù hợp
với bối cảnh BĐKH được khuyến nghị như sau:
(1). Hình thành vùng nông sản đặc trưng ở vùng duyên hải phía Bắc: Để
thích ứng với điều kiện khô hạn, nhiều loại cây được ưu tiên trồng trọt như: ngô,
sắn, mè, đậu tượng, lạc, xoài, nho, điều, thanh long, cây hành, cây tỏi, cây bụp dấm,
cây muốn biển... Trên cơ sở đánh giá thích nghi sinh thái cho cây nho, vùng thích
nghi cao có diện tích 1639,32 ha phân bố ở hạ lưu sông Lòng Sông thuộc địa bàn 2
xã Phước Thể, Phú Lạc của huyện Tuy Phong. Trong điều kiện thực tiễn và trong
bối cảnh BĐKH, đến năm 2050, vùng trồng nho tốt được đề xuất mở rộng thêm
khoảng 227,28 ha, tại hai xã Phước Thể, Liên Hương huyện Tuy Phong, trên cơ sở
chuyển đổi từ vùng đất trồng kém hiệu quả (đất trồng cây ăn quả, cây công nghiệp
lâu năm, cây hàng năm) thành những trang trại trồng nho, có đầu tư thâm canh sâu
gắn với ổn định thị trường tiêu thụ. Nếu vùng này được qui hoạch tốt, gắn liền với
ổn định thị trường tiêu thụ cho sản phẩm sau thu hoạch thì đây sẽ là vùng nông sản
đặc sắc, thu hút nhiều đầu tư và khách du lịch, góp phần biến thách thức của một
trong những khu vực khô hạn nhất cả nước thành cơ hội phát triển trong tương lai.
(2). Hình thành vùng đồng cỏ chăn nuôi gia súc lớn ở vùng đồi cát ven biển
huyện Bắc Bình: Nhìn chung trong khu vực này sản xuất canh tác khó khăn do địa
hình cao, ít mưa, nước ngầm ít, sâu. Trong qui hoạch phát triển nông nghiệp tỉnh
Bình Thuận đến 2020, hướng phát triển là trồng rừng chống sa mạc hóa được ưu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status