Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu - Pdf 34

Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh
Cà Mau trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu


Chịu trách nhiệm xuất bản
Deutsche Gesellschaft für
Internationale Zusammenarbeit (GIZ) GmbH
Trụ sở đặt tại
Bonn và Eschborn, CHLB Đức
Chương trình Quản lý Tổng hợp Vùng Ven biển (ICMP)
Tầng 9, Landmark, 5B Tôn Đức Thắng, Quận 1, TP. HCM, Việt Nam
T + 84 838239811
F + 84 838239813
I www.giz.de/viet-nam
/>Biên soạn xong
2/2014
In
Dàn trang và trình bày
Goldensky co.,ltd
Hình ảnh
© GIZ
Tác giả
Trần Thị Phụng Hà
Nguyễn Thanh Bình
Biên tập
Lê Bá Cả
Báo cáo không phản ánh quan điểm của Chính phủ Việt Nam, Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia,
Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên bang Đức cũng như GIZ.
© GIZ 2014
GIZ chịu trách nhiệm nội dung của ấn phẩm này.
Dưới sự ủy quyền của


Lời cảm ơn
Nghiên cứu được thực hiện bởi hai giảng viên trường Đại học Cần Thơ, Trần Thị Phụng Hà và Nguyễn
Thanh Bình, chuyên ngành Xã hội học và Phát triển Nông thôn thuộc Khoa Khoa học Xã hội & Nhân văn
và Viện Nghiên cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long. Chúng tôi xin cám ơn tổ chức, cá nhân, thành
viên dự án GIZ và cán bộ địa phương đã hỗ trợ, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
nghiên cứu.
Trước hết xin cám ơn hai cán bộ GIZ Cà Mau: Nguyễn Thị Hồng Thụy và Nina Seib đã hỗ trợ tích cực
trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu từ việc giới thiệu tài liệu nghiên cứu, tổ chức chu đáo các
hội thảo cho đến đọc nhận xét góp ý từng trang của báo cáo. Chúng tôi rất cám ơn những ý kiến đóng
chân thành và xác đáng của hai bạn. Cũng như cán bộ GIZ Cà Mau, cô Ngân và anh Tĩnh đã tạo điều kiện
thuận lợi cho việc tổ chức chuyến đi thực tế và nhiều lần họp, hội thảo ở Cà Mau.
Chúng tôi xin cám ơn Ủy ban Nhân dân (UBND) Tỉnh Cà Mau và UBND Xã, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Sở Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Cà Mau đóng góp nhiều ý kiến
quan trọng trong các cuộc họp ở Cà Mau và địa phương.







Cô Bùi Anh ĐàoSở NNPTNT Cà Mau
Cô Huỳnh Kim DuyênHội Liên hiệp PN Cà Mau
Cô Nguyễn Thị Thùy Trang Hội Liên hiệp PN Cà Mau
Cô Lâm Mỹ Dung
Hội Liên hiệp PN xã Nguyễn Huân
Cô Lê Thanh Bình
Hội Liên hiệp PN Thị trấn Sông Đốc
Cô Trần Diễm Trang


1.3 Cơ sở lý thuyết.......................................................................................................................................................19



1.4 Giới hạn đề tài........................................................................................................................................................21



1.5 Phương pháp luận...............................................................................................................................................21



1.6 Địa bàn và mẫu nghiên cứu..............................................................................................................................24



1.7 Lược khảo tài liệu thứ cấp.................................................................................................................................29



1.8 Cấu trúc của báo cáo...........................................................................................................................................32

6


2. Các khía cạnh tổn thương về giới ở Cà Mau........................................................................34


2.1 Yếu tố tổn thương từ KT-XH..............................................................................................................................35




4.2 Nâng cao kiến thức và kỹ năng cho phụ nữ...............................................................................................69



4.3 Nâng cao nhận thức về BĐKH..........................................................................................................................70



4.4 Tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong tiến trình ra quyết định.................................................71



4.5 Lồng ghép BĐKH và bình đẳng giới trong kế hoạch phát triển KT-XH.............................................73



4.6 Hỗ trợ tín dụng cho những nhóm dễ bị tổn thương để phát triển kinh tế hộ...............................74



4.7 Giảm rủi ro trong nuôi trồng và đánh bắt thủy sản vùng biển............................................................75



4.8 Áp dụng phương pháp quản lý tổng hợp vùng ven biển.....................................................................76



Bảng 3-3: Hành động thích ứng để giảm nhẹ tổn thương.......................................................................................64
Bảng 4-1: Thu nhập ròng (triệu đồng/hộ/năm) và chia sẻ lao động giữa nam và nữ trong

một số hoạt động sinh kế ở địa phương....................................................................................................68
Bảng 4-2 : Số năm đi học giữa nam và nữ từ 15 tuổi trở lên....................................................................................70
Bảng 4-3: Khác biệt giữa nam và nữ khi hỏi về thuật ngữ BĐKH...........................................................................71

Danh mục hình
Hình 1-1: Khung lí thuyết đánh giá tổn thương của giới..........................................................................................22
Hình 1-2: Bản đồ Việt Nam và ĐBSCL...............................................................................................................................25
Hình 1-3: Bàn đồ Cà Mau và vị trí của 3 xã nghiên cứu..............................................................................................27
Hình 1-4: Bản đồ các huyện tổn thương vào năm 2030 và 2050...........................................................................30
Hình 1-5: DT nuôi tôm bị ngập nước (km2) của 3 huyện (tổng DT, đã ngập 2000,

sẽ ngập 2030 và 2050)........................................................................................................................................31
Hình 2-1: Yếu tố tổn thương liên quan đến KT-XH theo 4 lọai hình sinh kế.......................................................39
Hình 2-2: Yếu tố tổn thương liên quan đến con người theo 4 loại hình sinh kế..............................................40
Hình 2-3: Tính tổn thương từ giúp đỡ xã hội và cơ sở hạ tầng ảnh hưởng đến 4 loại hình sinh kế..........40
Hình 2-4: Tổn thương từ yếu tố tự nhiên, môi trường vật chất ảnh hưởng đến 4 loại hình sinh kế.........41
Hình 2-5: Thời tiết thất thường và mối nguy hiểm ảnh hưởng đến 4 loại hình sinh kế................................44
Hình 2-6 : Những khu vực xói lở thuộc địa bàn nghiên cứu....................................................................................49
Hình 3-1: Mối tương quan giữa tác động của BĐKH và khả năng đa dạng sinh kế........................................65
Hình 4-1: Chia sẻ công việc nhà giữa nam và nữ trong gia đình............................................................................67
Hình 4-2: Trình độ học vấn giữa nam và nữ ở địa bàn nghiên cứu........................................................................69
Bảng 4-3: Khác biệt giữa nam và nữ khi hỏi về thuật ngữ BĐKH...........................................................................72
Hình 4-4: Mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến đánh bắt và nuôi trồng thủy sản...............75

8




Sở Nông nghiệp Phát triển Nông thôn

ĐBSCL

Đồng bằng sông Cửu Long

DFID

Bộ Phát triển Quốc tế

DOET

Sở Giáo dục và Đào tạo

SLĐTBXH

Sở Lao động Thương binh và Xã hội

STNMT

Sở Tài nguyên và Môi trường

SKHĐT

Sở Kế hoạch và Đầu tư

FA

Hội Nông dân


Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn

KT-XH

Kinh tế - Xã hội

LVI

Chỉ số sinh kế tổn thương

MRC

Ủy ban Sông Mê Kông

NC

Nghiên cứu

VNCPTĐB

Viện Nghiên cứu phát triển Đồng bằng

NTPChương trình mục tiêu Quốc Gia Ứng phó với Biến đổi Khí hậu
UBND/PC

Ủy ban nhân dân (UBND)

9


Kế hoạch phát triển Kinh tế Xã hội

UB

Ủy ban

UBND

Ủy ban nhân dân

UNDP

Chương trình phát triển Liên hiệp quốc

VACBVườn Ao Chuồng Biogas (Hệ thống canh tác nông nghiệp tích hợp gồm
trồng trọt, nuôi trồng thủy sản và khí sinh học)
VASEP

Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam

WU

Hội Liên hiệp Phụ Nữ

YU

Đoàn thanh niên

XH


ngập lụt, xói mòn và những hậu quả của các cơn bão.
2.Không phải tất cả mọi người trong địa bàn nghiên cứu đều có mức độ rủi ro giống nhau. Người
nghèo là nhóm dễ bị tổn thương nhất. Nghèo dẫn đến nhiều hệ lụy như nợ nần, không có tài sản,
ít có mối quan hệ, không tiếp cận được dịch vụ và sự giúp đỡ từ người thân để tạo mối quan hệ
lâu dài. Nghèo liên quan đến các vấn đề khác như bị phân biệt đối xử, khó tiếp cận được với dịch
vụ y tế, giáo dục, nước sạch, thông tin liên lạc, điện gia dụng và thị trường. Người nghèo phải sống
trong môi trường ô nhiễm và thiếu an ninh, các nhà tranh vách lá tạm bợ dễ bị quét sập bởi gió
mạnh hoặc lốc xoáy; các tàu đánh bắt cũ kỹ và ngư cụ thô sơ dễ dàng bị tàn phá do bão, gió lốc.
3.Tiêu chí để phân biệt 3 nhóm: nghèo, ngày một nghèo và nhóm giảm nghèo được xây dựng bởi
ý kiến đánh giá của cộng đồng qua thảo luận nhóm. Các tiêu chí để phân nhóm nghèo dựa vào
3 nhóm tác nhân: (1) yếu tố KT-XH; (2) khả năng tiếp cận tài nguyên và mức độ phơi nhiễm trước
hiểm họa do thời tiết; và (3) khả năng thích ứng.
4.Trong địa bàn nghiên cứu, hộ nghèo có chủ hộ với số năm đi học/đến trường là 4.4 năm. và khoảng
75% trong số họ có vấn đề về sức khỏe, đặc biệt số hộ nghèo có nữ là chủ hộ chiếm đến 72%. Hộ
nghèo có ít đất sản xuất, với diện tích trung bình khoảng 4.500 m2 và giá trị dụng cụ lao động của
hộ chỉ khoảng 12 triệu đồng. Trong khi hộ giàu có số tiền vay trung bình là 83 triệu đồng thì người
nghèo chỉ vay 24,7 triệu đồng nhưng hầu như họ chỉ có thể vay ngoài hệ thống ngân hàng với lãi
suất cao. Điều đó cho thấy người nghèo khó tiếp cận nguồn vốn.
5.Trong 4 nhóm (nuôi tôm, đánh bắt, mò cua cá và làm thuê) thì nhóm đánh bắt vay số tiền lớn hơn
cả (65,6 triệu đồng) và độ lệch chuẩn (SD) cao chứng tỏ đây là nhóm có nguy cơ về tài chính nhiều
nhất. Vấn đề là cả bốn nhóm đều không tích lũy được và có thu nhập âm sau khi trừ chi phí cuộc
sống. Có khoảng 60% hộ dân (92% hộ làm mướn) cho rằng cuộc sống của họ ngày càng sa sút.

11


Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau
trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu

6.Do cuộc sống lệ thuộc tài nguyên thiên nhiên, vào thời tiết khí hậu, người dân nông thôn tổn

tăng. Nước biển dâng và lượng mưa tăng gây ngập úng; nhiệt độ tăng, độ ẩm giảm trong mùa khô
gây nắng nóng kéo dài. Ba huyện Trần văn Thời, Đầm Dơi và Ngọc Hiển đã nhiễm mặn hoàn toàn
và đã có mức độ ảnh hưởng bởi ngập lụt và bão khác nhau. Trần Văn Thời bị ảnh hưởng bởi ngập
lụt nhiều nhất trong ba huyện và Ngọc Hiển đối phó nhiều với bão lụt do huyện có địa hình thấp
và có bờ biển dài nên nhiều nơi trong huyện chịu tác hại do bão.
11.Địa phương khác nhau có mức độ tổn thương với BĐKH khác nhau phụ thuộc vào mức độ địa
phương ấy “phơi nhiễm” trước hiểm họa của BĐKH, trước sự cạn kiệt tài nguyên và các vấn đề khó
khăn về KT-XH. Việc quản lí rừng nghiêm ngặt ảnh hưởng đến sinh kế người dân mò cua bắt ốc và
do cạn kiệt tài nguyên ven bờ, rất nhiều hộ nghèo ở Đất Mũi đã bị tổn thương lớn. Họ không được
phép hưởng lợi tài nguyên rừng ngoài gỗ, trong khi nguồn tài nguyên biển cạn kiệt. Khắc nghiệt
hơn khi họ phải đối mặt với bão, gió xoáy, mưa thất thường và lở đất, đặc biệt là những hộ dân dọc
sông Kinh Đào. Thị trấn Sông Đốc có mức độ đô thị hóa cao, người nghèo và những người nhập cư
sống ven biển gặp khó khăn do ngập lụt, bão tố, hay mưa dầm gió lốc. Xã Nguyễn Huân có nhiều
hộ nghèo và gặp khó khăn vì phải bán sản phẩm giá rẻ cho vựa, lái do ít cơ hội cạnh tranh. Ngư dân
nghèo trong làng chài xã Mai Hoa phải kiếm sống, chống chọi với bão tố bằng những dụng cụ ghe,
lưới nghèo nàn, hư hỏng.

12


Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau
trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu

12.Đề tài đề nghị thang chỉ số đánh giá tổn thương dựa vào mức độ “phơi nhiễm” với BĐKH, tính “nhạy
cảm” của chủ thể trong hệ thống và khả năng thích ứng của cộng đồng, trong đó cụm 1 tập trung
vào tính nhạy cảm, cụm 2 tập trung và mức độ phơi nhiễm và cụm 3 thể hiện khả năng thích ứng.
Tuy nhiên khả năng thích ứng còn cần đo lường chi tiết kỹ hơn ở phần sau.

2. KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VÀ PHỤC HỒI ĐỐI VỚI BĐKH
13.Khả năng thích ứng với BĐKH có thể được xem như tập hợp các hoạt động hữu hình, nhìn thấy

kỹ thuật có sự tham gia), đây là cách tiếp cận mới đã được áp dụng thành công ở ĐBSCL. Tăng
nguồn thu nhập cũng có thể thông qua các hoạt động phi nông nghiệp, tạo việc làm nông thôn.
Để đảm bảo người dân có việc làm sau khi được đào tạo cần quan tâm: (i) xây dựng chương trình
huấn luyện cho phụ nữ dựa vào lợi thế từng địa phương và nhu cầu thực tế, (ii) liên kết Chương
trình với thị trường lao động, (iii) tạo việc làm cho phụ nữ thông qua phát triển công nghiệp và dịch
vụ tại địa phương như kinh doanh qui mô nhỏ, thủ công mỹ nghệ, du lịch, v.v.

13


Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau
trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu

18. Nâng cao kiến thức và kỹ năng cho phụ nữ
Kết quả khảo sát cho thấy người dân địa phương có trình độ học vấn thấp, nhất là phụ nữ. Nâng cao
kiến thức cho người lớn có thể thực hiện thông qua đào tạo ngắn hạn và khuyến nông; tuy nhiên,
bất bình đẳng giới cũng xảy ra khi xét ở khía cạnh tiếp cận huấn luyện và khuyến nông. Do vậy, điều
cần thiết là tạo điều kiện khuyến khích phụ nữ tham gia các khóa huấn luyện để nâng cao kiến thức
và kỹ năng trong sản xuất hướng đến cải thiện thu nhập cho bản thân và gia đình.
19. Nâng cao nhận thức về BĐKH
Nhận thức về BĐKH có thể được nâng cao thông qua các lớp tập huấn tại cộng đồng để phổ biến
những kiến thức cơ bản về nguyên nhân và hậu quả của BĐKH, cũng như các biện pháp giảm thiểu
cho cộng đồng địa phương. Nâng cao nhận thức về BĐKH cũng có thể thực hiện bằng cách tổ chức
các cuộc thi (Ví dụ: thi về kiến thức BĐKH) hay các chiến dịch tuyên truyền (ví dụ: nói không với túi
nylon) với sự tham gia của toàn cộng đồng kể cả nam và nữ giới. Các phương tiện truyền thông đại
chúng như truyền hình, báo chí, tờ rơi, áp phích, v.v cũng là những kênh quan trọng góp phần nâng
cao nhận thức của cộng đồng về BĐKH
20. Tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong tiến trình ra quyết định
Nâng cao nhận thức về giới cho cán bộ, công chức, viên chức nhà nước ở các cấp cũng là điều
cần phải làm. Việc này có thể thực hiện bằng cách tổ chức các khóa huấn luyện, hội thảo, hội nghị

Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau
trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu

và theo dõi giám sát chặt chẽ khi đầu tư. Mặt khác, hệ thống ngân hàng nhà nước nên có những
chính sách đặc biệt để mọi người dân địa phương có thể tiếp cận được, vì với chính sách hiện tại
một số người không thể vay mượn từ ngân hàng (Ví dụ: ghe tàu đánh bắt không được xem là tài
sản thế chấp để vay). Cuối cùng, nhà nước nên khoanh nợ cho những trường hợp gia đình họ gặp
phải những cú sốc, để họ được tiếp cận vốn ngân hàng.
23. Giảm rủi ro trong nuôi trồng và đánh bắt thủy sản vùng biển
Những hoạt động sinh kế chính ở vùng biển như đánh bắt và nuôi trồng thủy sản đang phải đối mặt
với nhiều rủi ro liên quan đến BĐKH và ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm môi trường, mưa quá nhiều, bão
và lốc xoáy được đánh giá ở mức rất quan trọng ảnh hưởng đến nghề đánh bắt thủy sản; trong khi đó,
các yếu tố được đánh giá ảnh hưởng quan trọng đến nuôi trồng thủy sản bao gồm ô nhiễm môi trường
(nước), dịch bệnh, mưa nhiều và bão. Tất cả các yếu tố này đều có xu hướng tăng cả về tần suất xuất hiện
và cường độ trong những năm gần đây. Do đó, quản lý rủi ro trong lĩnh vực đánh bắt và nuôi trồng thủy
sản đóng một vai trò quan trọng để giảm thiệt hại và ổn định sinh kế cho người dân địa phương. Giảm
thiểu rủi ro có thể thông qua: (i) cải tiến công tác dự báo thời tiết và hệ thống cảnh báo sớm để thông
tin cho người dân biết sớm và chính xác khi thời tiết xấu, (ii) giảm ô nhiễm môi trường, (iii) quản lý dịch
bệnh tôm, (iv) quản lý tôm giống, và (v) chuyển giao kỹ thuật phù hợp.
24. Áp dụng phương pháp quản lý tổng hợp vùng ven biển
Ở khu vực ĐBSCL, phương pháp quản lý tổng hợp vùng ven biển (ICZM – Integrated Coastal Zone
Management) đã được áp dụng thông qua dự án hợp tác phát triển Việt-Đức “Quản lý tài nguyên thiên
nhiên vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng”. Do đó, chúng tôi đề xuất ứng dụng cách tiếp cận ICZM để nâng
cao khả năng phục hồi và giảm tính tổn thương do những biến đổi kể cả yếu tố khí hậu và phi khí hậu ở
vùng biển tỉnh Cà Mau. Những kiến nghị dưới đây có thể hỗ trợ cho việc áp dụng ICZM ở Cà Mau: (i) tổ
chức một chuyến tham quan cho cán bộ lãnh đạo tỉnh để họ thấy cơ hội áp dụng và có chủ trương ủng
hộ ICZM, (ii) tổ chức hội thảo, hội nghị, tham quan chia sẻ kinh nghiệm cho các bên có liên quan ở các
cấp nhằm nâng cao nhận thức và tìm sự đồng thuận của các bên có liên quan để thực hiện ICZM, (iii)
tổ chức các khóa huấn luyện về nguyên lý ICZM và kỹ năng triển khai ICZM cho cán bộ các cấp để thực
hiện mô hình thí điểm ICZM ở cộng đồng, (iv) triển khai thí điểm ICZM, đảm bảo rằng cả nam giới và nữ

Cà Mau chịu tác động nhiều bởi BĐKH cực đoan như bão nhiệt đới, lũ lụt và xói lở. Các hoạt động tạo
thu nhập như nuôi tôm, trồng trọt và đánh bắt thủy sản đang bị đe dọa trước những thảm họa thiên
nhiên. Trong tương lai gần, BĐKH được dự báo sẽ tác động mạnh đến đời sống người dân địa phương
hơn nữa.
Không phải tất cả người dân trong địa bàn nghiên cứu đều chịu rủi ro như nhau hoặc họ sẽ có chiến lược
sinh kế như nhau để đối phó với BĐKH. Từng địa bàn và mỗi mô hình sinh kế sẽ chịu tác động bởi BĐKH
khác nhau. Mô hình nào có độ phơi nhiễm và nhạy cảm cao với tác động của BĐKH sẽ bị tổn thương
nhiều. Tương tự, mô hình nào có chiến lược thích ứng tốt và khả năng phục hồi cao sẽ ít tổn thương

17


Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau
trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu

hơn. Tính tổn thương đối với BĐKH của một quốc gia phụ thuộc vào tiềm năng KT-XH của nước ấy, người
nghèo và những người yếu thế như phụ nữ, trẻ em, người già trong nước nghèo là những đối tượng dễ
bị tổn thương nhất.
Về mặt văn hóa, Việt Nam bị ảnh hưởng bởi Nho giáo suốt hàng ngàn năm qua. Vai trò của phụ nữ trong
gia đình và xã hội không được đề cao và công nhận là cần thiết cho sự phát triển của xã hội. Phụ nữ đảm
trách cùng lúc 3 nhiệm vụ (sản xuất, tái sản suất và cộng đồng); tuy nhiên, họ được mặc định thực hiện
những việc tái sản xuất và những nhiệm vụ không được thù lao như sinh đẻ, chăm sóc con cái, quán
xuyến nhà cửa. Họ có thể làm những việc tạo thêm thu nhập như mua bán nhỏ, bán hàng rong, chăn
nuôi, trồng trọt v.v… nhưng những công viêc này mang thu nhập ít, không ổn định nên thường không
được đánh giá cao. Vì vậy, PN bị bất lợi trong XH. Bên cạnh PN, những người nghèo, trẻ em, người già,
người bệnh là đối tượng thiệt thòi dưới tác động của BĐKH (Kasperson & Kasperso, 2001).
Nhận biết được điều này, dự án GIZ với tên gọi “Lồng ghép sự thích ứng với BĐKH vào công tác quy
hoạch quản lý vùng ven biển tỉnh Cà Mau” là một phần trong nhóm dự án về “BĐKH và các hệ sinh thái”
(ICMP/CCCEP) tại Việt Nam nhấn mạnh vấn đề giới như một chủ đề độc lập và liên ngành (không thuộc
hẳn về một hợp phần nào trong 4 hợp phần của dự án) và cần được đưa vào xem xét và hành động

5.Khuyến nghị đưa ra các biện pháp/phương pháp/chương trình cần thiết lập hoặc áp dụng để cải
thiện khả năng chống chịu.
6.Đưa ra các biện pháp/hành động/cách tiếp cận/cách thức lồng ghép các hoạt động giảm bớt
tính tổn thương của giới dưới tác động của BĐKH vào tiến trình lập kế hoạch phát triển KTXH
(giai đoạn 5 năm và kế hoạch hàng năm) của tỉnh Cà Mau.

1.3 Cơ sở lý thuyết
Nghiên cứu sử dụng khái niệm tính tổn thương được định nghĩa bởi Ủy ban Quốc tế về BĐKH (IPCC). Tổn
thương là “mức độ mà một hệ thống không thể chịu được hoặc không có khả năng chống lại các tác
động tiêu cực của BĐKH, bao gồm tính biến động cực đoan của khí hậu. Tính tổn thương là hàm số của
tính chất, cường độ, tần suất của BĐKH và nó thay đổi theo mức độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm và năng
lực thích ứng của hệ thống đó” (Kasperson & Kasperso, 2001). Sterlacchini (2011) định nghĩa mức độ
phơi nhiễm là “sự hiện diện (theo vị trí) của một hệ thống (bao gồm sinh kế, các dịch vụ môi trường, các
nguồn tài nguyên, cơ sở hạ tầng, các tài sản văn hóa xã hội v.v..) bị ảnh hưởng bởi những bất lợi từ các
hiện tượng thời tiết tự nhiên”. Độ nhạy cảm là “mức độ mà một hệ thống bị ảnh hưởng, kể cả tiêu cực
hoặc tích cực, do sự thay đổi về khí hậu hoặc các yếu tố liên quan đến khí hậu”. Các hệ thống khác nhau
có mức độ nhạy cảm khác nhau với BĐKH, vì vậy, mức độ tác động của BĐKH lên các hệ thống khác nhau
là khác nhau. Khả năng thích ứng là “năng lực của một một hệ thống nhằm ứng phó với BĐKH (bao gồm
tính thay đổi và cực đoan của khí hậu) để giảm những thiệt hại, tận dụng các cơ hội có lợi, hoặc để đối
phó với những hậu quả của hiện tượng khí hậu”
Khi tăng độ nhạy cảm và sự phơi nhiễm thì tính dễ tổn thương sẽ tăng, khi tăng sự thích ứng của hệ
thống (dựa vào sự giàu có, kỹ thuật, tiếp cận thông tin, quan hệ xã hội v.v...) thì tính tổn thương sẽ giảm.
Để giảm tính tổn thương, chúng ta cần phát huy khả năng thích ứng hoặc làm nhẹ tổn thương hoặc cả
hai (Nair & Bharat, 2011).
Có rất nhiều khung lí thuyết, phương pháp và công cụ nghiên cứu tính tổn thương, tính thích ứng và
khả năng phục hồi đã được đề xuất để mô tả quá trình khiến con người và môi trường bị tổn thương.
Nghiên cứu này áp dụng khung lý thuyết của Nair & Bharat (2011) để xác định ai, nhóm, cộng đồng, nơi
chốn nào phơi nhiễm nhiều nhất dưới tác động và nguy hiểm của khí hậu, nhạy cảm nhất với những

19

KT-XH

Tự nhiên, sinh học

Bên trong

Xã hội-nhân khẩu: tỉ lệ nữ, tỉ lệ trẻ
em dưới 15 tuổi và người già trên
60 tuổi, phần trăm nữ chủ hộ, tỉ lệ
PN có hơn 2 con.
Sinh kế: đa dạng sinh kế, nguồn thu
nhập, di cư tìm việc
Sức khỏe: căn bệnh thường xuyên,
bệnh PN, tiếp cận dịch vụ chăm sóc
sức khỏe
Giáo dục và cơ hội nghề nghiệp cho
nam giới và PN
Điều kiện cơ sở hạ tầng
Mạng XH và vốn XH

Môi trường nghèo nàn, ô nhiễm
Tài nguyên thiên nhiên: rừng, biển,
nước
Sử dụng đất: nông nghiệp, thủy sản,
rừng
Đa dạng sinh học: ít và suy thoái

Bên ngoài

Chính sách nhà nước, lạm phát,

bên cạnh đánh bắt và nuôi tôm như làm thuê, khai thác tài nguyên bãi bồi (mò cua bắt cá) hoặc lâm sản
ngoài gỗ, mua bán nhỏ, dịch vụ v.v.... Tương tự như vậy, chúng tôi không thể khảo sát nông hộ và phỏng
vấn sâu tất cả các hộ dân trên. Thay vào đó, đề tài nghiên cứu 3 huyện trong đó lựa chọn ra 3 xã điển
hình để tìm hiểu tác động của BĐKH và khả năng thích ứng của người dân.
Đề tài cũng không thể nghiên cứu tất cả các thuộc tính và hậu quả của BĐKH mà chỉ tập trung vào
những hiện tượng phổ biến nơi địa bàn nghiên cứu như bão, ngập nước, trượt đất, xói lở, nắng nóng
kéo dài và mưa dầm. Do vậy, đề tài sẽ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của người dân để phát
hiện các chiến lược sinh kế phù hợp nhằm giảm nhẹ những tác động của thời tiết cực đoan.

1.5 Phương pháp luận
Khung lí thuyết
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm xác định nguồn gốc của tổn thương, lí do bị tổn thương và cách
những nhóm nam giới và PN hành động để giảm nhẹ tổn thương trong điều kiện hiện tại và trong bối
cảnh BĐKH tương lai. Những khái niệm được mô tả trong Hình 1-1 được kế thừa bởi nhiều nghiên cứu
trước đây để mô tả tính tổn thương đối với địa bàn và cộng đồng cụ thể (Carew-Reid, 2008; Hung, 2012;
IMHEN, 2013; Mackay & Russell, 2011). Nghiên cứu nhấn mạnh những yếu tố then chốt gây tổn thương

21


Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau
trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu

mà người dân ven biển Cà Mau và hệ sinh thái đang gánh chịu, những yếu tố đó có thể do (hoặc không
do) hậu quả của BĐKH. Sự tiếp cận này nhằm xác định các khia cạnh liên quan đến tổn thương như ai bị
tổn thương (nam hay nữ), chiến lược thích ứng của họ, các chương trình và chính sách hợp lý để có thể
giảm nhẹ những tổn thương đối với BĐKH (Hình 1-1).
Hình 1-1: Khung lí thuyết đánh giá tổn thương của giới

Phân tích tổn thương

điều kiện địa lý và nhiều mô hình sinh kế khác nhau. Các đại biểu so sánh tính tổn thương trên từng khu
vực qua sự đa dạng nhưng đặc thù của nơi ấy. Nội dung cuộc họp này là đánh giá xếp hạng các nhân tố
gây tổn thương ở địa bàn bằng cách đo sơ bộ tính phơi nhiễm, tính nhạy cảm và khả năng thích ứng của
địa phương. Để thực hiện điều này, đại biểu liệt kê các nhân tố gây tổn thương, đánh giá xác suất tính
phơi nhiễm và so sánh kết quả giữa các huyện. Danh sách các yếu tố tổn thương được nhóm lại thành 3
cụm: KT-XH; điều kiện tự nhiên sinh học-vật chất; và yếu tố tác động của BĐKH. Đại biểu đánh giá mức
độ phơi nhiễm ở mỗi nhân tố theo thang điểm 10 (từ 1 là thấp nhất đến 10 là cao nhất) và tính nhạy cảm
theo thang điểm 5 (từ 1 là thấp nhất đến 5 là cao nhất).
Ba huyện Trần Văn Thời, Đầm Dơi and Ngọc Hiển được lựa chọn để nghiên cứu do chúng có số điểm của
sự phơi nhiễm và nhạy cảm đến những tác động của BĐKH cao nhất (Ví dụ như bị ảnh hưởng bởi mưa
dầm, bão, lở đất, nước biển dâng và ngập lụt) (Bảng 1-2).

22


Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau
trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu

Bảng 1-2: Các nhân tố gây tổn thương và tác động (điểm số) của chúng đến 3 huyện

Huyện
Trần Văn Thời

Đầm Dơi

Ngọc Hiển

30

45

 ịch vụ chăm soc sức khỏe nghèo
nàn

20

30

12

Điều kiện giao thông kém

2

16

25

Cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên

20

5

30

D
 ịch bệnh, suy thoái môi trường,
ô nhiễm

35

Hội Liên hiệp PN, Thảo luận nhóm cấp Tỉnh, 2013

Tương tự, Thị trấn Sông Đốc (huyện Trần Văn Thời), xã Nguyễn Huân (huyện Đầm Dơi) và xã Đất Mũi
(huyện Ngọc Hiển) được lựa chọn để nghiên cứu tiếp.
Bảng 1-3: Thông tin thu thập được từ cuộc họp sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn
có sự tham gia (PRA)

Nội dung

Phương pháp

Mô tả hoạt động sinh kế

Lịch mùa vụ

Xác định những nguy cơ và nhân tố tổn thương

Xếp hạng và cho điểm ma trận-trực tiếp

Sự phơi nhiễm và tính nhạy cảm đối với các tổn
thương

Xếp hạng và cho điểm ma trận-trực tiếp

Định vị sinh kế và nhân tố tổn thương

Vẽ bản đồ, sơ đồ

Ghi chép sự thích ứng và khả năng phục hồi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status