Thưc hiện chính sách thi đua, khen thưởng từ thực tiễn ở viện hàn lâm khoa học xã hội việt nam - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI THỊ TUYẾT NHUNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THI ĐUA, KHEN THƢỞNG
TỪ THỰC TIỄN Ở VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
XÃ HỘI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60.34.04.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRẦN ĐÌNH HẢO

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá
nhân tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào. Các
số liệu, nội dung được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp lệ và
đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Tác giả

Bùi Thị Tuyết Nhung




DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CBCT

Cán bộ chuyên trách

CBQL

Cán bộ quản lý

CTKT

Công tác khen thưởng

CTTĐ

Công tác thi đua

KHXH

Khoa học Xã hội

KHXH & NV

Khoa học Xã hội và Nhân văn

NLĐ

Người lao động

Đánh giá thực trạng xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện
chính sách TĐKT

31

Bảng 2.3

Công tác tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn và tổ chức
thực hiện các quy định về TĐKT

33

Bảng 2.4

Đánh giá thực trạng phân công, phối hợp thực hiện chính

36

sách TĐKT
Bảng 2.5

Đánh giá thực trạng điều chỉnh chính sách TĐKT

41

Bảng 2.6

Đánh giá thực trạng theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện

43


DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu 2.1

Biểu đồ các danh hiệu thi đua cá nhân Viện Hàn lâm

47

KHXH Việt Nam giai đoạn 2012-2016

Biểu 2.2

Biểu đồ các danh hiệu thi đua tập thể Viện Hàn lâm
KHXH Việt Nam giai đoạn 2012-2016

48


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi đua, khen thưởng (TĐKT) là một nội dung lãnh đạo quan trọng trong
toàn bộ hoạt động Đảng và Nhà nước. Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân
tộc, thống nhất đất nước, cũng như trong công cuộc đổi mới hiện nay, TĐKT luôn
là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Ngay từ khi thành lập
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đến nay, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản
quy phạm pháp luật làm căn cứ pháp lý cho việc thực hiện công tác TĐKT, đề ra
những chủ trương, chính sách khen thưởng phù hợp với nhiệm vụ chính trị của từng
giai đoạn phát triển của đất nước. Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, quyết định,
chỉ thị, văn bản chỉ đạo về TĐKT làm cơ sở cho các cơ quan nhà nước từng bước
hoàn thiện chính sách về TĐKT. Các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề

hàng năm đối với các đơn vị và cá nhân... làm cơ sở pháp lý quan trọng cho các đơn
vị trong toàn Viện Hàn lâm tổ chức thực hiện phong trào thi đua và thực hiện chính
sách khen thưởng đạt được những kết quả rất tích cực.
Mặc dù được nhiều đơn vị thuộc, trực thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
triển khai, song các chính sách TĐKT chưa được duy trì thường xuyên liên tục; một
số chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về TĐKT chưa triển
khai đồng bộ tới cán bộ công chức, viên chức và người lao động; Luật Thi đua,
Khen thưởng và các văn bản hướng dẫn thi hành luật chưa được quán triệt đầy đủ,
trong thực hiện, vận dụng còn lúng túng. Phong trào thi đua có nơi còn biểu hiện
hình thức, thiếu thường xuyên, liên tục, phát động nhưng thiếu các biện pháp tổ
chức cần thiết bao gồm cả điều kiện và nguồn lực cán bộ để làm nòng cốt cho
phong trào. Trong chỉ đạo, nhiều đơn vị chưa coi trọng công tác kiểm tra, đôn đốc,
hướng dẫn, chưa tạo được sự phối hợp, liên kết của các đơn vị và các tổ chức có
liên quan, từ đó hạn chế tính động lực và hiệu quả của các phong trào thi đua...
Là một viên chức đang công tác tại Ban Thi đua - Khen thưởng Viện Hàn
lâm KHXH Việt Nam, để kết thúc khóa học này, tôi chọn đề tài “Thưc hiện chính
sách thi đua, khen thưởng từ thực tiễn ở Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt
Nam” và mong rằng đề tài này có thể góp phần vào công tác TĐKT ở cơ quan.

2


2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Về TĐKT nói chung và chính sách TĐKT nói riêng đến nay đã có nhiều nhà
nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận, nhiều quan điểm, cách đánh giá khác nhau. Có
thể kể tên một số công trình nghiên cứu đáng chú ý sau:
Tài liệu dạng sách, tiêu biểu có:
- Nguyễn Viết Vượng (2006), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Lao động, Hà Nội.
- Ban Thi đua - khen thưởng Trung ương (2008), Đảng, Bác Hồ với thi đua

- Nguyễn Đình Châu (2014), Tăng cường làm tốt công tác thi đua, khen
thưởng góp phần thực hiện thắng lợi chiến lược xây dựng con người mới của Đảng
trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 213 (tháng 5), tr. 58-60.
- Phùng Ngọc Tấn (2014), Giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực
hiện pháp luật về TĐKT, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10, tr. 3-13.
- Lê Văn Phong (2014), Công tác thi đua, khen thưởng ở Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh (2009-2014), Tạp chí Lịch sử Đảng, số 9, tr. 52-56.
Các công trình kể trên đã đề cập đến một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
công tác TĐKT: khái niệm, hình thức, vai trò, nội dung, yêu cầu công tác thi đua,
công tác khen thưởng, kinh nghiệm của một số nước để từ đó đề ra các giải pháp
nhằm hoàn thiện công tác TĐKT, pháp luật TĐKT mà các công trình tiến hành
nghiên cứu. Đây là nguồn tài liệu có giá trị cho hướng nghiên cứu của đề tài, là cơ
sở để luận văn kế thừa có chọn lọc phục vụ cho công tác nghiên cứu. Mặc dù, các
công trình trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của công tác TĐKT. Tuy
nhiên, cho đến nay nghiên cứu trực tiếp về Thực hiện chính sách thi đua, khen
thưởng từ thực tiễn Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam theo tìm hiểu của tác giả đến
nay chưa có đề tài nào nghiên cứu.

4


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích thực trạng thực hiện chính sách
thi đua, khen thưởng tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam giai đoạn 2012-2016, từ đó
đề xuất giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách TĐKT tại Viện Hàn lâm
KHXH Việt Nam.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn tập trung làm rõ
các nội dung sau đây:
+ Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện chính sách TĐKT
tại Việt Nam.

Phụ lục, gồm 3 chương, 8 tiết.
Chương 1: Lý luận chung về thực hiện chính sách thi đua, khen thưởng
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách thi đua, khen thưởng ở Viện Hàn
lâm KHXH Việt Nam hiện nay
Chương 3: Tăng cường thực hiện chính sách thi đua, khen thưởng ở Viện
Hàn lâm KHXH Việt Nam

6


Chƣơng 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
THI ĐUA, KHEN THƢỞNG
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm thi đua, khen thưởng
* Khái niệm thi đua
Khái niệm thi đua được hiểu theo khía cạnh khác nhau:
Theo C. Mác: "Thi đua nảy nở trong quá trình hợp tác lao động, trong hoạt
động chung và kế hoạch của con người. Sự tiếp xúc xã hội tạo nên thi đua và sự
nâng cao theo lối đặc biệt nghị lực sinh động tăng thêm nghị lực cho riêng từng
người".
Theo V.I.Lênin: “Lần đầu tiên trong xã hội chủ nghĩa đã tạo ra khả năng áp
dụng thi đua một cách rộng rãi, với một quy mô thực sự to lớn, tạo ra khả năng thu
hút thật sự đa số nhân dân lao động vào vũ đài hoạt động, khiến họ có thể hiểu rõ
bản thân mình, dốc hết năng lực của mình, phát hiện những tài năng mà nhân dân
sẵn có cả một nguồn vô tận”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thi đua là công việc diễn ra hàng ngày, trên tất cả
các mặt hoạt động trong một tập thể, do những cá nhân tiến hành, nhằm đạt kết quả
tốt hơn. Người viết: “Tưởng lầm rằng thi đua là một việc khác với những việc hàng
ngày. Thật ra công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua. Thí dụ từ trước đến

khen thưởng là hoạt động mang tính pháp lý của các tổ chức có thẩm quyền và của
cơ quan Nhà nước và có quyết định khen thưởng của các cơ quan, tổ chức này.
Cùng với việc ban hành quyết định khen thưởng còn có sự cổ vũ, động viên bằng
vật chất tương ứng với mức độ cống hiến, công lao và theo theo quy định.
Từ phân tích trên có thể đưa ra khái niệm: khen thưởng là hoạt động của các
cơ quan, các tổ chức có thẩm quyền để ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng,
thành tích xuất sắc trong hoạt động của cá nhân, tập thể, góp phần thực hiện nhiệm
vụ của đơn vị, địa phương, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

8


1.1.2. Khái niệm chính sách thi đua, khen thưởng
Chính sách được hiểu là tập hợp các quyết định hay chương trình hành động
do tập thể các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó
thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. “Chính sách công là một tập hợp các quyết
định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp,
công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác
định” [31, tr.12]. Chính sách công là chính sách của Nhà nước là tập hợp các quyết
định chính trị có liên quan của Nhà nước với mục tiêu giải pháp cụ thể nhằm giải
quyết một vấn đề kinh tế, xã hội nhất định, theo ý chí của Đảng cầm quyền.
Chính sách TĐKT là một hợp phần của chính sách công. Luật TĐKT đã xác
định: “Thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập
thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc;
Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích
bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ
tổ quốc. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về TĐKT trong phạm vi cả nước”.
Hiện nay, chưa có một khái niệm cụ thể nào về Chính sách TĐKT. Từ khái
niệm chung của chính sách công, cùng với các khái niệm về thi đua, khen thưởng có
thể định nghĩa: Chính sách TĐKT là tập hợp các quy định của Chính phủ nhằm đưa

thành phần kinh tế tích cực học tập, lao động, sản xuất, kinh doanh, nhất là phong
trào thi đua xây dựng nông thôn mới và thực hiện tốt công tác khen thưởng; từ đó
tạo động lực thi đua hoàn thành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước đưa nước ta sớm trở thành một nước công nghiệp phát triển.
1.2. Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nƣớc về thi đua, khen thƣởng
1.2.1. Quan điểm của Đảng về thi đua, khen thưởng
Trong Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 03/6/1998 của Bộ chính trị về đổi mới
TĐKT trong giai đoạn mới đã chỉ rõ: “Làm rõ vị trí, vai trò quan trọng của thi đua,
khen thưởng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng
mới, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý nhà nước đối với thi đua, khen

10


thưởng; kiện toàn và đổi mới tổ chức - cán bộ của cơ quan tham mưu thi đua, khen
thưởng, đổi mới nội dung và hình thức thi đua, khen thưởng..."
Tiếp tục thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về TĐKT và đổi mới,
đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, ngày 21 tháng 5 năm 2004, Bộ Chính trị ban
hành Chỉ thị số 39-CT/TW, một lần nữa khẳng định rõ: Tiếp tục quán triệt nội dung
đổi mới TĐKT theo tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước và tinh thần Chỉ thị
35-CT/TW, ngày 03 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII); qua đó nâng
cao hơn nữa nhận thức, trách nhiệm về TĐKT; đồng thời tổ chức tốt việc hướng
dẫn, thực hiện Luật TĐKT. Các cấp ủy, tổ chức đảng, thủ trưởng cơ quan, đơn vị
phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo thi đua. Mỗi chi bộ, đảng viên cần phát huy tốt vai
trò tiên phong gương mẫu và là hạt nhân trong các phong trào thi đua ở cơ sở.
Chính quyền, Mặt trận và đoàn thể các cấp phải phối hợp chặt chẽ trong việc tổ
chức chỉ đạo thi đua, làm cho phong trào thi đua trở thành phong trào hành động
cách mạng sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân.
1.2.2. Chính sách của Nhà nước về thi đua, khen thưởng
Văn bản pháp luật là cơ sở pháp lý và công cụ để nhà nước quản lý xã hội nói

Chính trị đã ban hành chỉ thị số 39-CT/TW về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào
thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến.
Luật TĐKT ra đời cùng các văn bản pháp quy của nhà nước như Nghị định số
121/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ qui định chi tiết và hướng dẫn một
số điều của Luật TĐKT, và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TĐKT;
Nghị định số 122/2005/NĐ-CP ngày 04/10/2005 của Chính phủ quy định tổ chức
làm TĐKT; Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TĐKT và Luật sửa đổi bổ sung
một số điều của Luật TĐKT; Thông tư 02/2011/TT-BNV ngày 24/01/2011 của Bộ
Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 42/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính
phủ; Thông tư số 12/2012/TT-BGDĐT ngày 03/4/2012 của Bộ Giáo dục hướng dẫn
TĐKT trong ngành giáo dục; Nghị định 39/2012/NĐ-CP ngày 27/4/2012 quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TĐKT và Luật sửa đổi bổ sung
một số điều của Luật TĐKT.

12


Sau 08 năm thực hiện Luật TĐKT và qua tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số
39-CT/TW ngày 21/5/2004 của Bộ Chính trị “Về tiếp tục đổi mới đẩy mạnh phong
trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến”
cho thấy: thi đua và khen thưởng ngày càng có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây
dựng, bảo vệ Tổ quốc và trong đời sống xã hội. Qua thực tiễn, từ khi Nhà nước ban
hành Luật TĐKT, TĐKT đã có bước chuyển biến tích cực; nhiều phong trào thi đua
đã được các bộ, ngành, địa phương, các đơn vị cơ sở phát động và triển khai sâu
rộng, bám sát nhiệm vụ chính trị; công tác khen thưởng ngày càng đi vào nề nếp,
chặt chẽ và đạt được những kết quả cơ bản trên các mặt như: khen thưởng thành
tích trong 2 cuộc kháng chiến, khen thưởng niên hạn, khen thưởng quá trình cống
hiến, khen thưởng thành tích đột xuất, khen thưởng theo chuyên đề, khen thưởng
thường xuyên và khen thưởng đối ngoại. Công tác khen thưởng đã kịp thời động

giải pháp cơ bản. Trước hết là phải nâng cao nhận thức về công tác TĐKT; ban
hành và tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về
nhận thức ở tất cả các cấp lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương, trong đội ngũ
cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân về tầm quan trọng và ý nghĩa của chính
sách TĐKT; vị trí, vai trò của công tác TĐKT trong cuộc sống.
Giải pháp chính sách TĐKT bao gồm nhóm giải pháp liên quan đến mục tiêu
chính sách và nhóm giải pháp liên quan đến công cụ chính sách.
Nhóm giải pháp liên quan đến mục tiêu chính sách bao gồm:
- Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các phong trào thi đua
- Giải pháp nâng cao chất lượng công tác khen thưởng
Nhóm giải pháp liên quan đến công cụ chính sách bao gồm:
- Giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và vai trò của
người đứng đầu trong thực hiện chính sách TĐKT
- Giải pháp tạo sự chuyển biến trong nhận thức đối với việc thực hiện chính
sách TĐKT
- Giải pháp về phát huy vai trò của công tác tuyên truyền và công tác phối hợp
trong việc thực hiện chính sách TĐKT

14


- Giải pháp nâng cao chất lượng công tác tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn
nghiệp vụ TĐKT
- Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của khối, cụm thi đua
- Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng TĐKT các cấp
- Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác TĐKT các cấp
1.3.2. Công cụ chính sách TĐKT
Thực tiễn cho thấy, bất kỳ một chính sách nào nếu chỉ các giải pháp chính
sách đồng bộ nhưng không có các công cụ chính sách thì khó mà thực hiện được.
Công cụ chính sách là hệ thống các phương tiện truyền dẫn các phương thức tác

1.4.1


2

Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách TĐKT

1.4.2


3

Phân công, phối hợp thực hiện chính sách TĐKT

1.4.3


4

Duy trì chính sách Thi đua, khen thưởng

1.4.4


5

Điều chỉnh chính sách Thi đua, khen thưởng

1.4.5


1.4.2. Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách thi đua, khen thưởng
Đây là việc phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách cho các đối tượng có
liên quan. Việc tuyên truyền, phổ biến chính sách có thể được thực hiện thông qua
các lớp tập huấn nghiệp vụ để quán triệt nội dung hay có thể đăng tải, tuyên truyền
trên báo chí, trang thông tin điện tử để cho các đối tượng thụ hưởng được biết và
thực hiện chính sách. Việc xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách
phải bảo đảm chính xác, cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện. Thực hiện tốt công tác tuyên
truyền, phổ biến thì chính sách sẽ được các đối tượng thụ hưởng tiếp nhận một cách
nhanh chóng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai thực hiện chính sách.
Trong những năm qua, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về TĐKT đã
được Đảng, Nhà nước ta quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, coi đó là một trong những
nhiệm vụ quan trọng. Đồng thời, với sự nỗ lực các cấp, các ngành trong hệ thống
chính trị, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về TĐKT đã có những chuyển biến
tích cực, góp phần nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân trong xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc. Các phong trào thi đua được diễn ra sôi nổi, rộng khắp. Công
tác khen thưởng phát huy được vai trò động viên, khích lệ mọi tầng lớp nhân dân.
1.4.3. Phân công, phối hợp thực hiện chính sách thi đua, khen thưởng
Muốn tổ chức thực hiện chính sách TĐKT có hiệu quả cần phải phân công,
phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành, hội đoàn thể, các địa phương và mọi tầng lớp
nhân dân trong tham gia thực hiện chính sách TĐKT và quá trình này ảnh hưởng
đến kết quả thực hiện mục tiêu chính sách. Trong phân công nhiệm vụ cần đặc biệt
chú ý đến khả năng, trình độ năng lực chuyên môn và thế mạnh của từng tổ chức, cá
nhân, hạn chế tình trạng chồng chéo nhiệm vụ và trách nhiệm không rõ ràng. Hoạt
động phân công, phối hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện chính sách TĐKT một
cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao
hiệu lực, hiệu quả chính sách TĐKT.

17





việc điều chỉnh các biện pháp, cơ chế chính sách TĐKT diễn ra rất linh hoạt, vì thế
cơ quan quản lý nhà nước về TĐKT cấp trung ương và các ngành, các cấp chủ động
điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách để thực hiện có hiệu quả chính sách TĐKT,
miễn là không làm thay đổi mục tiêu của chính sách TĐKT.
Một nguyên tắc cần chấp hành khi điều chỉnh chính sách TĐKT là để chính
sách tiếp tục tồn tại, chỉ được điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu
chính sách TĐKT hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế. Nếu điều
chỉnh là thay đổi mục tiêu, nghĩa là làm thay đổi chính sách TĐKT, thì coi như
chính sách TĐKT không tồn tại.
1.4.6. Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách thi đua, khen thưởng
Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách TĐKT là nhằm bảo đảm
cho các hoạt động TĐKT được diễn ra bình thường theo đúng quy định của pháp
luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; nhằm tuyên truyền sâu
rộng để quần chúng nhân dân tham gia các phong trào thi đua, thực hiện công tác
khen thưởng để từ đó nắm rõ quan điểm, chính sách, pháp luật về TĐKT của Đảng
và Nhà nước.
Phát hiện kịp thời, kiên quyết xử lý nghiêm các vi phạm về TĐKT, các vi
phạm trong quản lý nhà nước về TĐKT nhằm bảo đảm các chính sách, pháp luật về
TĐKT của Đảng, Nhà nước được thực hiện, cũng như phát huy những giá trị tốt đẹp
của công tác TĐKT.
Trên thực tế khi triển khai thực hiện chính sách TĐKT không phải cơ quan, tổ
chức nào cũng làm tốt, làm nhanh như nhau vì thế cần phải đôn đốc để vừa thúc đẩy
các cơ quan, tổ chức, cá nhân nỗ lực nhiều hơn nữa để hoàn thành nhiệm vụ, vừa
phòng, chống những hành vi vi phạm quy định trong thực hiện chính sách TĐKT.
1.4.7. Đánh giá tổng kết việc thực hiện chính sách thi đua, khen thưởng
Tổ chức thực hiện chính sách TĐKT được tiến hành liên tục trong thời gian
duy trì chính sách TĐKT. Có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ kết quả thực hiện


trị đối với việc thực hiện chính sách TĐKT.

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status