VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ ANH DŨNG
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG TƯ PHÁP
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
: 60.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Nguyễn Minh Đoan
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa khọc của riêng tôi. Các số
liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn này đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ
công trình khoa học nào khác.
Tác giả luận văn
LÊ ANH DŨNG
UBND
Ủy ban nhân dân
VPHC
Vi phạm hành chính
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ
HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM ............................................ 6
1.1. Khái niệm, vị trí, chức năng và quá trình hình thành, phát triển của Phòng Tư
pháp ở Việt Nam .........................................................................................................6
1.2. Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Tư pháp ở Việt Nam ........12
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp ở Việt Nam .....21
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG TƯ
PHÁP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI .......................................................28
2.1. Các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội có ảnh hưởng đến
tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp .................................................................28
2.2. Thực tiễn tổ chức, hoạt động của Phòng Tư pháp trên địa bàn thành phố Hà Nội
...................................................................................................................................30
2.3. Đánh giá về tổ chức, hoạt động của Phòng Tư pháp trên địa bàn thành phố Hà
Nội và những kinh nghiệm được rút ra .....................................................................44
37
xã, thành phố Hà Nội từ năm 2013 đến năm 2016
2.4
Số lượng Tổ hòa giải và hòa giải viên ở cơ sở trên địa bàn
38
thành phố Hà Nội từ năm 2012 đến năm 2016
2.5
Kết quả hoạt động hòa giải của các Tổ hòa giải trên địa
bàn thành phố Hà Nội từ năm 2012 đến năm 2016
38
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bộ máy nhà nước được tạo thành bởi các cơ quan được tổ chức ở Trung
ương và địa phương, mỗi cơ quan được tổ chức ra để thực hiện thẩm quyền theo
quy định của pháp luật. Ở địa phương cơ quan nhà nước thực hiện thẩm quyền chấp
hành - điều hành là UBND gồm 3 cấp cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Ở cấp huyện,
để UBND cấp huyện thực hiện đảm bảo hiệu lực, hiệu quả các lĩnh vực kinh tế, văn
hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng tại địa phương thì cơ quan chuyên môn tham
mưu giúp UBND cùng cấp quản lý nhà nước theo lĩnh vực, ngành đóng vai trò rất
quan trọng, trong đó có Phòng Tư pháp thực hiện tham mưu, giúp việc phục vụ
chức năng, nhiệm vụ của UBND cấp huyện. Hoạt động của các cơ quan này là
phạm vi khác nhau như:
Đề tài cấp Bộ:“Tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp cấp huyện. Thực
trạng, giải pháp kiện toàn và nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động” của Lê Thị
Thu Ba, Thứ trưởng Bộ Tư pháp, năm 2005.
Đề tài cấp Bộ: “Xây dựng cơ chế thi tuyển Tư pháp quốc gia đáp ứng yêu
cầu cải cách Tư pháp” của PGS.TS Nguyễn Văn Huyên, Phó Giám đốc Học viện
Tư pháp, năm 2011.
Luận văn thạc sĩ : “Tổ chức và hoạt động của các cơ quan chuyên môn thuộc
Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội hiện nay” của Thạc sĩ Chu Văn
Liên, năm 2011.
Luận văn thạc sĩ:“Tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp từ thực tiễn tỉnh
Hưng Yên” của Thạc sĩ Lê Trọng Duẩn, năm 2015.
Luận văn thạc sĩ:“Tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp từ thực tiễn
huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội” của Thạc sĩ Lê Thị Hồng Thu, năm 2014.
Như vậy về tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp chưa có nhiều đề tài
nghiên cứu, thực tế đã có đề tài cấp Bộ nghiên cứu ở phạm vi cả nước về tổ chức và
hoạt động hoặc về vấn đề thi tuyển cán bộ, công chức Tư pháp hoặc đã có đề tài
nghiên cứu thực tế tại một Phòng Tư pháp cụ thể ở một huyện thuộc thành phố Hà
Nội. Nội dung các đề tài đã đề cập đến ở mức độ khác nhau, các nghiên cứu đã cung
cấp lượng kiến thức lý luận, thông tin gần như toàn diện đối với pháp luật nói chung
và pháp luật về tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp cấp huyện nói riêng. Các
đề tài đã tập trung mô tả các quy định của pháp luật, tổng kết thực tiễn và đề ra các
2
giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Phòng Tư pháp đến, các
đề tài có giá trị tham khảo rất quan trọng trong việc triển khai luận văn. Tuy nhiên,
có đề tài đã được nghiên cứu cách đây đã lâu, có đề tài vừa mới được bảo vệ cách
đây hai đến ba năm là luận cứ thời sự nhưng qua tìm hiểu, học viên thấy chưa có
Nam.
Thứ hai, Phân tích, đánh giá thực trạng việc tổ chức và hoạt động của Phòng
Tư pháp từ thực tiễn thành phố Hà Nội qua đó thấy được những kết quả, tồn tại và
nguyên nhân của thực trạng đó trong tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp.
Thứ ba, Đưa ra các quan điểm, giải pháp đổi mới về tổ chức, chất lượng hoạt
động của Phòng Tư pháp đáp ứng tình hình, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận, thực tiễn về vị trí, vai trò,
nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Tư pháp; các đề xuất quan điểm, giải pháp tiếp tục
củng cố, kiện toàn về tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp.
- Do thời gian có hạn, nên học viên tập trung nghiên cứu thực trạng tổ chức
và hoạt động (về hoạt động, tập trung nghiên cứu một số nhiệm vụ, quyền hạn, còn
các nhiệm vụ, quyền hạn khác, dành học viên khác tiếp tục nghiên cứu, bổ sung lý
luận và thực tiễn cho việc tổ chức và hoạt động về Phòng Tư pháp) của Phòng Tư
pháp của 30 quận, huyện và thị xã từ thực tiễn thành phố Hà Nội trong khoảng 4
đến 5 năm trở lại đây.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Trên cơ sở các nguyên lý cơ bản và phương pháp luận duy vật
biện chứng; chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về nhà nước và pháp luật; những quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà
nước về tổ chức bộ máy nhà nước về tổ chức chính quyền. Luận văn đã tiếp thu có
chọn lọc sau khi tham khảo một số công trình nghiên cứu khoa học, các tác phẩm,
bài viết của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu về công tác tư pháp; về tổ chức
và hoạt động của Phòng Tư pháp để khẳng định việc nghiên cứu của luận văn nhằm
tiếp tục nâng cao hiệu quả về tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp nói chung và
Phòng Tư pháp thuộc thành phố Hà Nội nói riêng.
4
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, vị trí, chức năng và quá trình hình thành, phát triển của
Phòng Tư pháp ở Việt Nam
1.1.1. Khái niệm, vị trí, chức năng của Phòng Tư pháp
Trong tác phẩm Tinh thần pháp luật (Quyển IX) Montesquieu đã khái niệm
quyền lập pháp là quyền “làm ra luật,…sửa đổi hay hủy bỏ luật đã ban hành” còn
quyền hành pháp là quyền “quyết định việc hòa hay chiến, gửi đại sứ đi các nước,
thiết lập an ninh, đề phòng xâm lược” còn quyền tư pháp là quyền “trừng trị tội
phạm, phân xử tranh chấp giữa các cá nhân” [………., tr. 105-106]. Như vậy, theo
quan niện của Montesquieu quyền Tư pháp là quyền phán xét tội, phân xử vụ việc
tranh chấp dựa trên cơ sở áp dụng luật do cơ quan lập pháp đã làm ra để xác định
quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm, hậu quả pháp lý của các bên tham gia tranh chấp
dựa trên các tình tiết khách quan. Quyền tư pháp được thực hiện là năng kính phản
chiếu quyền lập pháp mang giá trị xã hội khi luật được áp dụng và được tôn trọng
thực thi trên thực tế.
Ở Việt Nam thuật ngữ “Tư pháp” được tiếp cận ở các góc độ rộng, hẹp khác
nhau và có sự khác biệt nhất định với quan niệm của Montesquieu nhưng đều thống
nhất quyền tư pháp là quyền xét xử trên cơ sở luật định. Hiểu theo nghĩa này thì
trong tổ chức bộ máy nhà nước ta hiện nay, quyền tư pháp thuộc Tòa án nhân dân
và thực hiện cải cách tư pháp mà trọng tậm là cải cách Tòa án.
Tuy nhiên, hiểu theo nghĩa rộng “Tư pháp” không chỉ được quan niệm là xét
xử thuộc thẩm quyền của Tòa án mà còn hiểu là toàn bộ hoạt động bảo vệ pháp luật,
kiểm soát quyền lực ở cả quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Trong
đó quyền hành pháp là hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật liên quan đến bảo vệ
quyền con người, bổ trợ tư pháp phục vụ chính con người trong xã hội hiện tại. Đây
chính là cơ sở nền tảng hình thành hoạt động tư pháp hành chính, bổ trợ tư pháp
thuộc cơ quan hành pháp.
6
ngoài ra theo quy định, Quốc hội quyết định thành lập đơn vị hành chính-kinh tế
đặc biệt. Chính quyền địa phương ở mỗi cấp đều được tổ chức hai cơ quan là
7
HĐND và UBND, trong đó HĐND do nhân dân địa phương bầu ra và UBND do
HĐND cùng cấp bầu ra, UBND là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, HĐND
cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.
Thực hiện nhiệm vụ chấp hành và điều hành của cơ quan hành chính nhà
nước tại địa phương, UBND cấp huyện có thẩm quyền trong việc thi hành pháp
luật, quản lý nhà nước trong phạm vi địa phương, thực hiện các nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội…; thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến
pháp và pháp luật, xây dựng chính quyền về địa giới hành chính, giáo dục, đào
tạo,văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội,
hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp …; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được cấp trên
phân cấp, ủy quyền …
Để giúp UBND cấp huyện thực hiện những nhiệm vụ trên. Theo quy định
của luật, UBND cấp huyện được thành lập các cơ quan chuyên môn của mình để
thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước về ngành,
lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền
của UBND cấp huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống
nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương; chịu sự chỉ đạo, quản
lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công
tác của UBND cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên
môn, nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên thuộc UBND cấp tỉnh.
Thực hiện chức năng tham mưu, giúp việc UBND cấp huyện trong lĩnh vực
hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp. Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn được
giao thực hiện tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà
UBHC không tổ chức HĐND.
- Ngày 19/11/1946, Việt Nam đã có bản Hiến pháp đầu tiên đặt nền móng
cho tổ chức bộ máy nhà nước, thể chế chính trị, kinh tế-xã hội…của đất nước sau
khi giành độc lập. Hiến pháp ghi nhận đất nước Việt Nam là một khối thống nhất
Trung Nam Bắc không thể phân chia. Việc tổ chức bộ máy chính quyền địa phương
tại Hiến pháp 1946 cơ bản kế thừa các quy định về tổ chức chính quyền địa phương
tại hai Sắc lệnh năm 1945 đã quy định.
- Do yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng Miền Bắc xây dựng CNXH, Miền Nam
tiếp tục kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ngày 31/12/1959, Quốc hội đã thông qua
9
bản Hiến pháp thứ hai, Hiến pháp năm 1959 quy định chính quyền địa phương được
tổ chức theo cấp hành chính, cụ thể giai đoạn này ở mỗi cấp hành chính của chính
quyền địa phương đều tổ chức hai cơ quan là HĐND và UBHC (Điều 78, 79 Hiến
pháp 1959).
Tại Điều 3 Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ ngày 14/9/1960 quy định về tổ
chức các Bộ và cơ quan ngang Bộ, không quy định về tổ chức Bộ Tư pháp, ở cấp
tỉnh, cấp huyện không tổ chức cơ quan tư pháp. Do đó giai đoạn này tổ chức và hoạt
động của ngành tư pháp từ trung ương đến địa phương chưa được ghi nhận. Công
tác tư pháp theo quy định tại Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 và
Điều 9 Pháp lệnh số 18/LCT ngày 30/3/1961 quy định về tổ chức và hoạt động của
Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân các địa phương thì Tòa án nhân dân
cấp tỉnh trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính tương đương có nhiệm vụ xây
dựng tổ chức tư pháp, tập huấn cán bộ tư pháp cho xã, phường thị trấn về công tác
tuyên truyền pháp luật cho nhân dân tại địa phương.
- Sau khi thống nhất đất nước, nước ta đổi tên nước thành Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam vào năm 1976 và Hiến pháp năm 1980 ra đời kế thừa những
quy định của Hiến pháp năm 1946 và năm 1959 là bản Hiến pháp có ý nghĩa quan
vụ phải nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân, quản lý xã hội bằng pháp luật,
khẳng định đường lối xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do
Nhân dân, vì Nhân dân. Ngày 26/7/1993, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số
12/TTLB quy định hệ thống các cơ quan pháp chế được thành lập ở các cấp, trong
đó cấp tỉnh có Sở pháp chế hoặc Ty pháp chế; cấp huyện có Phòng hoặc Tổ pháp
chế; cấp xã có Tổ pháp chế hoặc cán bộ pháp chế. Như vậy, giai đoạn này ở cấp
huyện đã có bộ phận chuyên môn giúp việc UBND cấp huyện về công tác pháp chế
là tiền thân của Phòng Tư pháp ngay nay.
Căn cứ quy định trên, năm 1993 trên địa bàn tỉnh Hà Tây đã tổ chức thành
lập Phòng Tư pháp tại 14 huyện, thị xã. Tuy nhiên, thời điểm năm 2001 tại thành
phố Hà Nội (cũ), Phòng Tư pháp cấp huyện lại được sáp nhập vào Văn phòng
HĐND và UBND cùng cấp.
Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994 và năm 2003 đã cụ thể hóa các
quy định của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước trong
đó có cơ quan tư pháp của chính quyền địa phương. Ngày 06/6/2003, Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 62/2003/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và tổ chức bộ máy của Bộ Tư pháp.
11
Do việc tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện chưa
thống nhất trong cả nước, ngày 29/9/2004, Chính phủ ban hành Nghị định số
172/2004/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp
huyện theo quy định thì Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn của UBND cấp
huyện. Năm 2004, trên địa bàn thành phố Hà Nội (cũ) tại các UBND quận, huyện
đã thành lập Phòng Tư pháp, cho đến nay theo quy định của Luật Tổ chức HĐND
và UBND năm 2003, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Nghị định
số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008, Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014
của Chính phủ quy định tổ chức của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp
Việc bố trí, sắp xếp đủ số lượng cán bộ, công chức; bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản
lý hợp lý cho Phòng Tư pháp là nhân tố quyết định để Phòng Tư pháp có khả năng
thực hiện và hoàn thành tốt các nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo quy định của
pháp luật. Ngày 31/12/2015, Bộ Nội vụ phê duyệt danh mục vị trí việc làm trong cơ
quan, tổ chức hành chính của Thành phố tại Quyết định số 2076/QĐ-BNV. Ngày
06/3/2017, UBND thành phố Hà Nội ban hành Kế hoạch số 1553/KH-UBND về
triển khai hoàn thiện đề án vị trí việc làm đối với cán bộ, công chức, viên chức
trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập của Thủ đô.
1.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Tư pháp
1.2.2.1. Về công tác xây dựng pháp luật
Pháp luật là hành lang pháp lý, công cụ đảm bảo thực hiện quản lý xã hội của
nhà nước nói chung và của các cấp chính quyền ở địa phương nói riêng. Pháp luật
được ban hành với hình thức văn bản QPPL có chứa quy phạm pháp luật, được ban
hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định của pháp luật,
trong đó QPPL là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng
nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc trong phạm
vi đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và
được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Do pháp luật có hiệu lực, tác động đến các mặt
của đời sống xã hội trong khoảng thời gian dài, không gian, phạm vi của địa phương
nên việc ban hành văn bản QPPL, ở mỗi cấp chính quyền phải được thực hiện theo
trình tự, thủ tục pháp luật quy định rất chặt chẽ trong đó quy trình thẩm định có vai
trò kiểm tra, rà soát, đối chiếu tính thống nhất, tính hợp hiến, hợp pháp của dự thảo
văn bản QPPL trước khi được ban hành. Đây là nhiệm vụ quan trọng của chính
quyền địa phương, thể hiện chức năng quản lý nhà nước của chính quyền địa
phương, góp phần đảm bảo sự chỉ đạo, quản lý thống nhất của bộ máy hành chính
13
nhà nước bằng pháp luật từ trung ương đến cơ sở. Ở cấp huyện, việc xây dựng pháp
37/2008/QĐ-TTg ngày 12/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
chương trình PBGDPL từ năm 2008 đến năm 2012. Nhận thấy, việc PBGDPL là
nhiệm vụ đầu tiên để đưa pháp luật đến với thực tiễn đời sống xã hội ngay sau khi
được ban hành là công tác PBGDPL, ngày 20/6/2012, Quốc hội đã ban hành Luật
Phổ biến, giáo dục pháp luật và Chính phủ đã ban hành Nghị định số 128/2013/NĐCP ngày 04/4/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật là cơ sở
pháp lý quan trọng để toàn bộ hệ thống chính trị của các cấp, các ngành và địa
phương tổ chức thực hiện công tác này [9, tr. 2].
Giúp UBND cấp huyện về công tác này, UBND huyện thành lập Hội đồng
phối hợp PBGDPL và Phòng Tư pháp là cơ quan thường trực của Hội đồng thực
hiện tham mưu giúp Hội đồng PBGDPL và UBND cấp huyện công tác PBGDPL
trên địa bàn.
1.2.2.3. Về công tác hòa giải ở cơ sở
Hoà giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp
đạt được thoả thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và
tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy tình
cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư, phòng
ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng
dân cư.Do đó hòa giải cơ sở là một hoạt động mang tính xã hội tự nguyện ở cơ sở
thôn xóm, bản ấp, khu dân cư hoặc nơi họp chợ, điểm du lịch, vui chơi giải trí, hoạt
động này xuất phát từ đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta như: “Tắt lửa tối
đèn có nhau” hoặc “Bán anh em xa, mua láng giềng gần” …Thông qua hoạt động
hòa giải ở cơ sở góp phần hạn chế các tranh chấp dân sự, phòng ngừa tội phạm, vận
động nhân dân sống và làm việc theo pháp luật, tăng cường đoàn kết trong nội bộ,
cộng đồng dân cư, củng cố tình làng nghĩa xóm, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã
hội ổn định, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội. Quan tâm làm tốt công tác
này ngay từ cơ sở thôn, xóm, khu dân cư, tổ dân phố vì quá trình hòa giải đã hóa
giải được các tranh chấp, mẫu thuẫn nhỏ trong nội bộ nhân dân ngay từ khi phát
sinh, ngay từ gốc rễ, giải quyết được từ gốc rễ với quan điểm từ mẫu thuẫn, tranh
15/2014/NĐ-CP 27/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều
và biện pháp thi hành Luật Hòa giải. Ngày 22/12/2014, UBND thành phố Hà Nội
ban hành Quyết định số 92/2014/QĐ-UBND về áp dụng mức chi công tác hòa giải
ở cơ sở.
1.2.2.4. Về công tác kiểm soát thủ tục hành chính
16
Hệ thống pháp luật thống nhất, hợp hiến, hợp pháp, có tính khả thi ghi nhận
quyền, nghĩa vụ của tổ chức cá nhân được thực hiện, thông qua đó Nhà nước thực
hiện quản lý xã hội một cách hiệu lực, hiệu quả trên cơ sở là một hệ thống pháp luật
có khả năng điều chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội được gọi là pháp luật nội
dung; ngoài ra còn có pháp luật hình thức sẽ quy định cách thức, trình tự, thủ tục
thực hiện các quy định của luật nội dung. Ví dụ: Khiếu nại về việc nhà nước thu hồi
đất thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải căn cứ vào quy định của pháp luật Đất
đai để giải quyết (luật nội dung), còn quy trình, thủ tục thực hiện giải quyết cơ quan
nhà nước sẽ phải căn cứ vào pháp luật về khiếu nại đã quy định để làm theo (luật
hình thức)…
Để đáp ứng các việc do tổ chức, cá nhân yêu cầu diễn ra hàng ngày nói trên
để Nhà nước có cơ sở phục vụ nhân dân thì đòi hỏi cũng phải có pháp luật quy định
về cách thức, trình tự, cách thức, trách nhiệm của cơ quan nhà nước phục vụ; đồng
thời quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của
mình (luật hình thức) về một công việc cụ thể giữa Nhà nước và tổ chức, cá nhân,
Nhà nước quy định các thủ tục hành chính, mỗi loại việc yêu cầu có một thủ tục để
Nhà nước giải quyết cho tổ chức, cá nhân gọi là thủ tục hành chính (dịch vụ công-là
dịch vụ do Nhà nước trực tiếp thực hiện). Vậy có thể hiểu thủ tục hành chính là
trình tự, cách thức thực hiện hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước,
người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá
nhân, tổ chức yêu cầu.
giao cho Bộ Tư pháp và ở UBND cấp tỉnh giao Sở Tư pháp thực hiện.
Xác định trọng tâm cải cách hành chính và cải cách chế độ công vụ, công
chức, của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 22/5/2013
về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020. Ngày
19/8/2013, Bộ Tư pháp đã ban hành Văn bản số 5957/BTP-KSTT về triển khai thực
hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về công tác kiểm soát TTHC, Bộ Tư pháp yêu
cầu rà soát, kiện toàn cán bộ đầu mối thực hiện kiểm soát TTHC ở các cơ quan, đơn
vị trong đó yêu cầu đối với UBND cấp huyện, bố trí tối thiểu từ 02 cán bộ đầu mối
là lãnh đạo UBND huyện và một cán bộ lãnh đạo Phòng Tư pháp [3, tr. 3] để thực
hiện nhiệm vụ đầu mối kiểm soát TTHC.
1.2.2.5. Về công tác quản lý và đăng ký hộ tịch
Một con người từ khi sinh ra cho đến khi chết đi có liên quan đến những việc
như: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ,
18
con; xác định lại dân tộc, giới tính; thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch; thay đổi
quốc tịch; chấm dứt nuôi con nuôi…được gọi là những sự kiện về Hộ tịch-nhân
thân của một con người. Những việc hộ tịch khi được đăng ký bởi cơ quan nhà
nước có thẩm quyền sẽ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt về hộ tịch đối với
một con người, tác động trực tiếp tới việc thực hiện quyền, nghĩa vụ cơ bản của con
người. Nhà nước thực hiện quản lý thực trạng, biến động về hộ tịch để nhà nước
bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, gia đình đồng thời thông qua đó
Nhà nước xây dựng các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng
gắn liền với chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình trong từng giai đoạn cụ thể
của bất cứ quốc gia nào. Ở Việt Nam, với một quốc gia hơn 90 triệu dân, quản lý
nhà nước về hộ tịch là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp, các ngành và chính
quyền từ trung ương đến cơ sở, ngày 20/11/2014 Quốc hội đã ban hành Luật Hộ
tịch khẳng định tầm quan trọng của công tác này trong thực tiễn đòi hỏi phải nâng
Chính phủ ban hành… và (iii) HĐND thành phố trực thuộc trung ương cũng có
thẩm quyền ban hành Nghị quyết quy định mức phạt vi phạm trong hoạt động xây
dựng, văn hóa trong phạm vi địa phương theo nguyên tắc mức phạt gấp 2 lần mức
phạt Chính phủ đã quy định trong Nghị định thuộc lĩnh vực xây dựng. Năm 2012,
Quốc hội đã ban hành Luật Xử lý VPHC năm 2012 thay thế Pháp lệnh Xử lý VPHC
năm 2002. Đồng thời Chính phủ đã quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi
hành tại Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 (Nghị định số 81) quy định
trách nhiệm của UBND cấp huyện báo cáo công tác thi hành pháp luật về xử lý
VPHC trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của địa phương; đồng thời UBND
cấp huyện trong quá trình thi hành pháp luật về xử lý VPHC, nếu phát hiện các quy
định về xử lý VPHC không khả thi, không phù hợp với thực tiễn hoặc chồng chéo,
mâu thuẫn, thì kiến nghị cơ quan chủ trì soạn thảo hoặc Bộ Tư pháp để nghiên cứu,
xử lý. Nhiệm vụ trên, theo quy định của pháp luật được giao cho Phòng Tư pháp
tham mưu, giúp Chủ tịch UBND cấp huyện báo cáo tình hình thi hành pháp luật về
xử lý VPHC tại địa phương.
Như vậy theo quy định của pháp luật về xử lý VPHC, Phòng Tư pháp có
nhiệm vụ giúp UBND cùng cấp theo dõi, hướng dẫn việc thi hành (áp dụng) pháp
luật về xử lý VPHC trên địa bàn cấp huyện, đồng thời tổng hợp giúp UBND cấp
huyện báo cáo, kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung đối, bãi bỏ với những
khó khăn, vướng mắc, các quy định chồng chéo, không khả thi...trong quá trình thi
hành pháp luật về xử lý VPHC tại địa phương.
1.2.2.7.Thực hiện các nhiệm vụ khác do UBND cấp huyện giao hoặc theo
quy định của pháp luật
20