VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƢƠNG THỊ HỒNG HẰNG
QUYỀN TỰ DO KINH DOANH
CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƢƠNG THỊ HỒNG HẰNG
QUYỀN TỰ DO KINH DOANH
CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
liệu nghiên cứu trong luận văn chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình thức
nào. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước học viện về sự cam đoan này.
Đà Nẵng, ngày
tháng năm 2017
Tác giả
Trương Thị Hồng Hằng
M CL C
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TỰ
DO KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI ............................ 8
1.1. Bàn luận về quyền tự do kinh doanh và quyền tự do kinh doanh của ngân
hàng thƣơng mại ................................................................................................ 8
1.2. Bàn luận về pháp luật về quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thƣơng
mại và bảo đảm quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại bằng pháp
luật ................................................................................................................... 11
1.3. Các yếu tố chi phối quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại ở
Việt Nam ......................................................................................................... 19
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TỰ DO KINH
DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI........................................... 28
2.1. Thực trạng quy định và thực tiễn quyền tự do thành lập ngân hàng thƣơng
mại ................................................................................................................... 28
2.2. Thực trạng quy định và thực tiễn về quyền tự do lựa chọn đối tác của
NHTM ............................................................................................................. 33
2.3. Thực trạng quy định và thực tiễn về quyền tự do của NHTM trong ký kết
và thực hiện hợp đồng ..................................................................................... 41
kinh doanh trở thành quyền hiến định: “Công dân có quyền tự do kinh doanh
theo quy định của pháp luật” (Điều 57) và tiếp tục đƣợc ghi nhận trong Hiến
pháp năm 2013 “Mọi ngƣời có quyền tự do kinh doanh trong những ngành
nghề mà pháp luật không cấm” (Điều 33). Việc ghi nhận và đảm bảo quyền tự
do kinh doanh của công dân có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc huy
động nguồn lực để phát triển kinh tế. Vì vậy, việc đảm bảo quyền tự do kinh
doanh của các chủ thể trong nền kinh tế là một vấn đề hết sức cấp thiết. Một
trong những chủ thể quan trọng nhất góp phần không nhỏ vào sự phát triển
của nền kinh tế đất nƣớc đó chính là các NHTM. Do đó, việc đảm bảo quyền
tự do kinh doanh của NHTM là vấn đề quan trọng để đƣa đất nƣớc phát triển
phồn thịnh.
Ngân hàng thƣơng mại đã tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển
của nền kinh tế hàng hóa. Sự phát triển của hệ thống NHTM đã có tác động
rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế. Ngƣợc lại, kinh
tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị
1
trƣờng cũng tác động rất lớn đến hoạt động của các NHTM. Việt Nam đang
xây dựng nền kinh tế thị trƣờng, có sự quản lý và điều tiết của nhà nƣớc thì
các chế định về NHTM đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta rất quan tâm và không
ngừng hoàn thiện qua các văn bản pháp luật để tạo ra khung pháp lý quan
trọng, đảm bảo quyền tự do kinh doanh và tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế
phát triển.
Ngân hàng nói chung và các NHTM nói riêng có vai trò hết sức quan
trọng, là trung gian của nền kinh tế, góp phần phát triển kinh tế đất nƣớc. Tuy
nhiên, hoạt động ngân hàng là một lĩnh vực kinh doanh đặc thù mang tính rủi
ro cao, tác động dây chuyền đến các khía cạnh khác của nền kinh tế nên nếu
không có những quy định chặt chẽ của pháp luật thì sẽ tác động tiêu cực đến
- Bài viết: “Hoàn thiện pháp luật về biện pháp bảo đảm nhìn từ quyền tự
do hợp đồng”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 7/2004 của tác giả Nguyễn
Am Hiểu.
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Vấn đề bảo đảm an toàn của hoạt động
ngân hàng và quyền tự do kinh doanh của các tổ chức tín dụng” của tác giả
Kim Thị Huyền, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, năm 2008. Luận văn đã phân
tích những vấn đề cốt lõi trong bảo đảm an toàn của hoạt động ngân hàng nói
chung và phân tích quyền tự do kinh doanh của các tổ chức tín dụng, từ đó đã
đƣa ra các quan điểm và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao an toàn của
hoạt động ngân hàng nói riêng nhƣng vẫn đảm bảo quyền tự do kinh doanh
của các tổ chức tín dụng nói chung.
- Bài viết “Tự do kinh doanh: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác
giả Bùi Xuân Hải, đăng trên Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật số 05/2011. Bài
viết này tác giả cũng đã phân tích quyền tự do kinh doanh đƣợc quy định cụ
thể nhƣ thế nào và thực tiễn áp dụng quyền tự do kinh doanh hiện nay
Các công trình nghiên cứu trên đã phần nào làm sáng tỏ những quy định
của pháp luật hiện hành và thực trạng quyền tự do kinh doanh của công dân,
3
quyền cơ bản và quan trọng trong nền kinh tế thị trƣờng hội nhập nhƣ hiện
nay. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nêu trên đều tiếp cận vấn đề quyền tự
do kinh doanh nói chung và vấn đề bảo đảm an toàn của các tổ chức tín dụng
gần nhƣ chƣa có công trình khoa học nào đề cập đến quyền tự do kinh doanh
trong lĩnh vực ngân hàng nói chung và quyền tự do kinh doanh của NHTM
nói riêng. Các công trình nghiên cứu này đã đem lại cho tác giả những tri thức
lí luận và thực tiễn rất sâu sắc để tiếp tục đi sâu nghiên cứu vấn đề pháp luật
về quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại.
Chính vì vậy, trong đề tài nghiên cứu của mình, tác giả mong muốn làm
doanh của NHTM theo pháp luật Việt Nam, mà chỉ giới hạn nghiên cứu về
một số quyền tự do cơ bản nhƣ: quyền tự do thành lập NHTM, quyền tự do
lựa chọn đối tác, quyền tự do ký kết và thực hiện hợp đồng, quyền tự do thỏa
thuận các phƣơng thức giải quyết tranh chấp, quyền tự do thỏa thuận áp dụng
các biện pháp bảo đảm tiền vay.
Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về
quyền tự do kinh doanh của NHTM theo pháp luật Việt Nam (Tính đến tháng
01/2017).
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài đƣợc nghiên cứu dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin cũng
nhƣ trên cơ sở các quan điểm, chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng
Cộng sản Việt Nam.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh đó, đề tài áp dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể nhƣ sau:
Phƣơng pháp phân tích: chủ yếu đƣợc áp dụng khi nghiên cứu các quy
định của pháp luật hiện hành về quyền tự do kinh doanh của NHTM theo
5
pháp luật Việt Nam.
Phƣơng pháp thống kê: chủ yếu đƣợc áp dụng khi nghiên cứu thực tiễn
triển khai thực hiện các văn bản pháp luật quy định về quyền tự do kinh
doanh của NHTM theo pháp luật Việt Nam.
Phƣơng pháp so sánh: chủ yếu đƣợc áp dụng khi nghiên cứu các quy
định về mối quan hệ giữa quyền tự do kinh doanh của NHTM theo pháp luật
Việt Nam và các nƣớc trên thế giới.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TỰ DO
KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1. Bàn luận về quyền tự do kinh doanh và quyền tự do kinh doanh
của ngân hàng thƣơng mại
Với xu thế toàn cầu hóa nhƣ hiện nay, các nƣớc trên thế giới nói chung,
Việt Nam nói riêng luôn tìm mọi cách hội nhập quốc tế, tận dụng mọi nguồn
lực nhằm đƣa đất nƣớc phát triển. Để làm đƣợc điều này, trƣớc hết Đảng và
Nhà nƣớc cần định hƣớng và tạo ra một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh nhằm
mục đích vừa phát triển kinh tế vừa mở rộng quyền tự do của công dân đặc
biệt là quyền tự do kinh doanh.
Các nhà tƣ tƣởng Mác xít cổ điển đã chứng minh: “Để phát triển thuận
lợi tƣ bản thì phải để cho tự do buôn bán” và “cạnh tranh là phƣơng thuốc duy
nhất chống lại nhà tƣ bản, một phƣơng thuốc mà các nhà kinh tế chính trị học
cho là ảnh hƣởng tốt đến cả việc nâng cao tiền công lẫn hạ giá hàng hóa, có
lợi cho công chúng tiêu thụ”.
Trong “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản” Ph.Ănghen viết: “Đại
công nghiệp là khả năng sản xuất vô hạn. Do đó, nó tạo ra, sẽ cho phép xây
dựng một chế độ xã hội, trong đó tất cả các vật phẩm cần thiết cho đời sống sẽ
đƣợc sản xuất nhiều đến nỗi mỗi thành viên trong xã hội đều có thể hoàn toàn
tự do phát triển và sử dụng mọi lực lƣợng của mình”.
Lênin cũng nhấn mạnh: “chúng ta phải và nhất định lấy đại công nghiệp
làm cơ sở cho nền kinh tế của chúng ta. Nếu không thì không thể nói một cơ
sở thực sự xã hội chủ nghĩa nào cho đời sống kinh tế của chúng ta cả”.
Việc phát triển kinh tế sẽ tạo điều kiện đảm bảo quyền tự do cho con
ngƣời, tạo điều kiện giải phóng sức lao động, khai thác mọi tiềm năng của xã
9
cả quyền tổ chức lại doanh nghiệp, giải thể, nộp đơn xin phá sản doanh
nghiệp...”
Các quyền tự do của công dân rất đa dạng, liên quan đến mọi mặt của
đời sống xã hội. Trong hệ thống các quyền tự do đó thì quyền tự do kinh
doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Theo nghĩa chủ quan hay nhìn nhận dƣới góc độ quyền chủ thể: quyền tự
do kinh doanh đƣợc hiểu là khả năng hành động một cách có ý thức của cá
nhân hay pháp nhân trong quá trình hoạt động, sản xuất kinh doanh. Theo
nghĩa này, quyền tự do kinh doanh bao hàm những khả năng mà cá nhân hay
pháp nhân có thể: tự do đầu tƣ tiền vốn để thành lập doanh nghiệp, tự do lựa
chọn mô hình tổ chức kinh doanh, tự do lựa chọn đối tác để thiết lập các quan
hệ kinh tế, tự do cạnh tranh, tự do lựa chọn các phƣơng thức giải quyết tranh
chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh... Những khả năng xử sự này là thuộc
tính tự nhiên của cá nhân (hay pháp nhân) chứ không phải do Nhà Nƣớc ban
tặng. Song những khả năng xử sự đó muốn trở thành hiện thực thì phải đƣợc
nhà nƣớc thể chế hóa bằng pháp luật và khi đó nó mới trở thành “thực
quyền”.
Theo nghĩa khách quan hoặc đƣợc xem xét dƣới góc độ là một chế định
pháp luật: quyền tự do kinh doanh là hệ thống các quy phạm pháp luật và
những bảo đảm pháp lý do nhà nƣớc ban hành nhằm tạo điều kiện cho các cá
nhân hay pháp nhân thực hiện quyền chủ thể nói trên. Với quan niệm đó,
quyền tự do kinh doanh - một mặt bao gồm những quyền mà họ đƣợc hƣởng,
mặt khác, đó là trách nhiệm của các cơ quan nhà nƣớc, công chức nhà nƣớc
khi thực hiện chức năng quản lý của mình phải tôn trọng, bảo vệ những quyền
của chủ thể kinh doanh. Hai mặt này tồn tại thống nhất trong chế định pháp lý
tự do kinh doanh. Nó chỉ thừa nhận những quyền của chủ thể mà không đảm
ngân hàng chính sách xã hội, ngân hàng hợp tác xã...Trong các loại hình ngân
hàng thì NHTM chiếm tỷ trọng lớn về quy mô, tài sản, thị phần, số lƣợng.
11
Ở Mỹ, NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài
chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Ở Pháp, Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa:
NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thƣờng xuyên là nhận
tiền bạc của công chúng dƣới hình thức ký thác, hoặc dƣới các hình thức khác
và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín
dụng và tài chính.
Ở Ấn Độ, Luật Ngân hàng của Ấn Độ (1959) đã nêu: ngân hàng là cơ sở
nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tƣ.
Ở Ba Lan, theo Luật ngân hàng Ba Lan, ngân hàng là một tổ chức có tƣ
cách pháp nhân để hoạt động theo quy định của pháp luật cũng nhƣ theo điều
lệ của ngân hàng đó.
Ở Việt Nam, Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: NHTM là loại
hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động
kinh doanh khác theo quy định của pháp luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Ngân hàng thƣơng mại với bản chất là một pháp nhân thực hiện hoạt
động kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận trong nền kinh tế, vì vậy NHTM
đƣợc tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự bình đẳng nhƣ các chủ thể
khác và đƣơng nhiên có quyền tự do kinh doanh. Do đó, dựa vào khái niệm
quyền tự do kinh doanh nêu trên có thể hiểu quyền tự do kinh doanh của
NHTM nhƣ sau:
Dƣới góc độ quyền chủ thể, quyền tự do kinh doanh của NHTM là khả
năng tự định đoạt mọi vấn đề của NHTM khi thực hiện các hoạt động ngân
hàng nhằm mục đích lợi nhuận trên cơ sơ phù hợp với quy định của pháp luật.
kinh doanh mà NHTM tiến hành hoạt động ngân hàng. Đây là hoạt động kinh
doanh tiềm ẩn nhiều rủi ro cao và liên quan đến nhiều chủ thể trong nền kinh
tế, ảnh hƣởng trực tiếp đến nhà nƣớc.
Quyền tự do kinh doanh đƣợc áp dụng đối với các NHTM. NHTM là tổ
13
chức kinh doanh tiền tệ, cho nên đối tƣợng kinh doanh trực tiếp là tiền.
NHTM khác với các tổ chức kinh tế khác là: các tổ chức kinh tế khác chủ yếu
kinh doanh bằng nguồn vốn điều lệ còn các NHTM kinh doanh chủ yếu bằng
nguồn vốn huy động theo theo phƣơng thức “đi vay để cho vay”. Vì thế, huy
động vốn là hoạt động quan trọng của NHTM. Để thực hiện tốt chức năng là
trung gian tín dụng trong nền kinh tế thì lƣợng vốn mà NHTM cần là rất lớn
để cấp tín dụng, đáp ứng nhu cầu về vốn thị trƣờng ngày càng gia tăng. Vì vậy,
để giúp các NHTM kinh doanh tốt, phát huy đƣợc hết các năng lực và hiệu
quả hoạt động của mình, pháp luật cho phép các NHTM đƣợc tự chủ trong
huy động vốn từ mọi nguồn vốn trong và ngoài nƣớc của mọi tổ chức, cá
nhân thuộc các thành phần kinh tế, bằng nhiều biện pháp, hình thức khác nhau.
NHTM đƣợc chủ động lựa chọn các đối tƣợng khách hàng cá nhân, tổ chức
với hình thức nhận tiền gửi hoặc huy động vốn bằng cách nhận tiền gửi, vay
vốn giữa các tổ chức tín dụng, vay Ngân hàng Nhà nƣớc, phát hành các giấy
tờ có giá. Do đó, để NHTM thực hiện đƣợc quyền tự chủ trong kinh doanh
của mình thì nhà nƣớc phải có những chính sách để điều chỉnh thích hợp
nhằm tạo cho quyền tự do kinh doanh của các NHTM đƣợc bảo đảm.
Quyền tự do kinh doanh của NHTM gắn liền với các tính chất đặc thù
của hoạt động ngân hàng. Các tính chất đặc thù của hoạt động ngân hàng bao
gồm:
Về chủ thể: bao gồm Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam và các tổ chức tín
dụng. Trƣớc đây ngoài Ngân hàng Nhà nƣớc và các tổ chức tín dụng, các tổ
Hoạt động ngân hàng là hoạt động mang tính rủi ro: rủi ro có thể xảy ra
đối với bất kỳ các loại hình kinh doanh nào. Tuy nhiên, rủi ro trong kinh
doanh ngân hàng có những đặc điểm khác biệt với các lĩnh vực kinh doanh
khác.
Quyền tự do kinh doanh của NHTM chịu sự chi phối của quản lý nhà
nƣớc về tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
15
Hoạt động ngân hàng chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nƣớc mà trực tiếp
là ngân hàng nhà nƣớc: Điều này đƣợc thể hiện rõ ở việc, theo phân cấp quản
lý nhà nƣớc, các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội sẽ đƣợc Nhà nƣớc giao
cho các cơ quan quản lý chuyên ngành thực hiện. Còn hoạt động kinh doanh
của NHTM chịu sự quản lý ngân hàng nhà nƣớc, hoạt động quản lý của Nhà
nƣớc đối với NHTM bao gồm nhiều nội dung nhƣ cấp và thu hồi giấy phép,
thành lập và hoạt động, thanh tra giám sát và xử lý vi phạm...
Tổ chức và hoạt động của NHTM chịu sự điều chỉnh của pháp luật ngân
hàng: do tính chất trong hoạt động kinh doanh của NHTM luôn chứ đựng
những rủi ro cao nên Nhà nƣớc phải ban hành nhiều quy định áp dụng có tính
chất riêng biệt. Đối với tổ chức tín dụng và hoạt động của NHTM, pháp luật
chuyên ngành có giá trị ƣu tiên áp dụng. Trong trƣờng hợp pháp luật ngân
hàng không quy định thì tổ chức và hoạt động NHTM sẽ đƣợc áp dụng quy
định khác của pháp luật. Tại Khoản 1, Điều 3, Luật Các Tổ chức tín dụng năm
2010: “việc thành lập, tổ chức và hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại,
giải thể tổ chức tín dụng; việc thành lập, tổ chức và hoạt động...phải tuân theo
quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.
Về bản chất, NHTM là một loại hình doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh vì mục đích lợi nhuận nhƣ bao doanh nghiệp khác trên thị trƣờng. Tuy
nhiên, lĩnh vực hoạt động của NHTM là ngân hàng và đối tƣợng kinh doanh
trọng nhất, nó đƣợc coi là nền tảng, tiền đề để hình thành và thực hiện quyền
tự do kinh doanh.
Các NHTM - chủ thể độc lập trong nền kinh tế đƣơng nhiên có quyền
đƣợc sở hữu tài sản của mình. Do hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, đối
tƣợng kinh doanh là tiền tệ, tín dụng và các hoạt động ngân hàng khác, nên
các tài sản của NHTM cũng có những đặc thù riêng. Vì vậy, các tài sản của
NHTM trong hoạt động kinh doanh cơ bản sẽ là: các tài sản hữu hình, tiền,
vàng bạc đá quý, các giấy tờ có giá khác,… Việc công nhận và đảm bảo
17
quyền sở hữu các loại tài sản đó mới là tiền đề công nhận sự tồn tại khách
quan của NHTM trong nền kinh tế. Đặc biệt, các nghiệp vụ NHTM ngày càng
tân tiến, từ đó các sản phẩm phái sinh xuất hiện ngày càng nhiều nhƣ cổ phiếu,
thƣờng phiếu, trái phiếu… Từ đó, Nhà nƣớc phải có trách nhiệm kịp thời đƣa
ra những quy phạm điều chỉnh hợp lý để đƣa những loại tài sản của NHTM
vào danh mục những loại tài sản có giá trị đƣợc thừa nhận cả về mặt kinh tế
và pháp lý.
Việc đảm bảo sở hữu đối với tài sản của NHTM còn phải đƣợc gắn liền
với việc tạo cở chế pháp lý an toàn đối với hình thức chuyển giao tài sản. Do
tính chất đặc thù của ngân hàng, bản thân các NHTM liên tục đƣa những tài
sản của mình là vốn, tiền tệ và tài sản khác cho các tổ chức, cá nhân chiếm
hữu và ngƣợc lại. Việc chuyển giao quyền chiếm hữu và quyền sử dụng tài
sản đƣợc biểu hiện dƣới các dạng hình thức khác nhau nhƣ góp vốn, cho vay,
chuyển nhƣợng vốn, huy động vốn… về bản chất, các tài sản đó vẫn thuộc sở
hữu của chủ sở hữu ban đầu, vì vậy trong quá trình hoạt động của NHTM,
Nhà nƣớc phải đảm bảo cho các hoạt động chuyển giao đó không đƣợc làm
phƣơng hại đến quyền sở hữu tài sản của các chủ sở hữu.
Tóm lại, quyền đƣợc đảm bảo sở hữu tài sản của các NHTM đƣợc biểu
1.3. Các yếu tố chi phối quyền tự do kinh doanh của ngân hàng
thƣơng mại ở Việt Nam
Ngân hàng thƣơng mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, do tính
chất đặc biệt trong hoạt động kinh doanh của mình, quyền tự do kinh doanh
của NHTM sẽ bị hạn chế hơn so với những loại hình doanh nghiệp khác vì
đây là hoạt động kinh doanh tiềm ẩn nhiều rủi ro cao và liên quan đến nhiều
chủ thể trong nền kinh tế, ảnh hƣởng trực tiếp đến nhà nƣớc. Ngoài ra, sự tác
động có tính dây chuyền của các NHTM là do sự ổn định của hệ thống tổ
chức tín dụng không cao vì vậy đòi hỏi nhà nƣớc phải sử dụng pháp luật để
ngăn ngừa, hạn chế tác động tiêu cực có thể xảy ra, bảo đảm an toàn cho hệ
19