Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại theo pháp luật việt nam (tt) - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG THỊ HỒNG HẰNG

QUYỀN TỰ DO KINH DOANH
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số: 60.38.01.07

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Khoa học Xã hội

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN ĐỨC MINH

Phản biện 1: .............................................................
Phản biện 2: ..............................................................

Luận văn được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn

thạc sĩ họp tại: Học viện khoa học xã hội ....... giờ ...... ngày ......
tháng ..... năm ......

Có thể tìm hiểu luận văn tại




phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Sự phát triển của hệ thống
NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển
của nền kinh tế. Ngược lại, kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến
giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường cũng tác động rất lớn đến
hoạt động của các NHTM. Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị
trường, có sự quản lý và điều tiết của nhà nước thì các chế định về
NHTM được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và không ngừng
hoàn thiện qua các văn bản pháp luật để tạo ra khung pháp lý quan
trọng, đảm bảo quyền tự do kinh doanh và tạo điều kiện thúc đẩy nền
kinh tế phát triển.
Quyền tự do kinh doanh của các NHTM và bảo đảm an toàn
hoạt động ngân hàng là hai mặt của một vấn đề trong sự tồn tại và
phát triển của NHTM. Trước hết, quyền tự do kinh doanh của NHTM
có thể tác động tích cực hoặc hạn chế đến an toàn hoạt động ngân
hàng căn cứ vào việc chúng được quy định phù hợp hay không. Về
phần mình, bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng cũng có tác động
rất đáng kể đến quyền tự do kinh doanh của NHTM căn cứ vào các
quan điểm về bảo đảm an toàn cũng như mục tiêu, phạm vi của nó.
Vì vậy, việc nghiên cứu quyền tự do kinh doanh của NHTM là
một yêu cầu hết sức cần thiết. Chính vì lý do như trên, tác giả đã
quyết định lựa chọn đề tài “Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng
thương mại theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
thạc sĩ Luật kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, có một số công trình nghiên cứu liên quan đến
quyền tự do kinh doanh của NHTM

2



+ Phân tích thực trạng quyền tự do kinh doanh của NHTM
theo pháp luật Việt Nam.
+ Đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường quyền
tự do kinh doanh của ngân hàng Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật về quyền tự do
kinh doanh của NHTM.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tác giả tập trung nghiên cứu trên những phạm vi sau đây:
+ Đề tài chỉ nghiên cứu quyền tự do kinh doanh của NHTM
theo pháp luât Việt Nam.
+ Đề tài không nghiên cứu toàn thể những quy định về quyền
tự do kinh doanh của NHTM theo pháp luật Việt Nam, mà chỉ giới
hạn nghiên cứu về một số quyền tự do cơ bản như: quyền tự do thành
lập NHTM, quyền tự do lựa chọn đối tác, quyền tự do ký kết và thực
hiện hợp đồng, quyền tự do thỏa thuận các phương thức giải quyết
tranh chấp, quyền tự do thỏa thuận áp dụng các biện pháp bảo đảm
tiền vay.
+ Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện
hành về quyền tự do kinh doanh của NHTM theo pháp luật Việt Nam
(Tính đến tháng 01/2017).
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa

4



học sau này của tác giả, mà thông qua quá trình nghiên cứu đề tài,
tác giả cũng mong muốn sẽ tạo nguồn tham khảo cho những nhà làm
luật, của các bạn học viên và các NHTM trong hoạt động thực tiễn
của mình.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết
cấu của luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận pháp luật về quyền tự do
kinh doanh của ngân hàng thương mại
Chương 2. Thực trạng pháp luật về quyền tự do kinh doanh
của ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Chương 3. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về
bảo đảm quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại ở Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TỰ DO
KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1. Bàn luận về quyền tự do kinh doanh và quyền tự do
kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại
Các nhà tư tưởng Mác xít cổ điển đã chứng minh: “Để phát
triển thuận lợi tư bản thì phải để cho tự do buôn bán” và “cạnh tranh
là phương thuốc duy nhất chống lại nhà tư bản, một phương thuốc
mà các nhà kinh tế chính trị học cho là ảnh hưởng tốt đến cả việc
nâng cao tiền công lẫn hạ giá hàng hóa, có lợi cho công chúng tiêu
thụ”.

6



những gì mà họ muốn, có thể lựa chọn, có thể tự quyết định mọi vấn
đề liên quan đến hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi, trong
đó có quyền thành lập cơ sở kinh doanh, lựa chọn mô hình doanh
nghiệp, lựa chọn ngành nghề, quy mô kinh doanh và địa bàn kinh
doanh; được tự do lựa chọn đối tác, bạn hàng, được tự chủ kinh
doanh, tự quyết định các vấn đề phát sinh trong hoạt động kinh
doanh và kể cả quyền tổ chức lại doanh nghiệp, giải thể, nộp đơn xin
phá sản doanh nghiệp...”
Các quyền tự do của công dân rất đa dạng, liên quan đến mọi
mặt của đời sống xã hội. Trong hệ thống các quyền tự do đó thì
quyền tự do kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Theo nghĩa chủ quan hay nhìn nhận dưới góc độ quyền chủ thể:
quyền tự do kinh doanh được hiểu là khả năng hành động một cách
có ý thức của cá nhân hay pháp nhân trong quá trình hoạt động, sản
xuất kinh doanh.
Theo nghĩa khách quan hoặc được xem xét dưới góc độ là
một chế định pháp luật: quyền tự do kinh doanh là hệ thống các quy
phạm pháp luật và những bảo đảm pháp lý do nhà nước ban hành
nhằm tạo điều kiện cho các cá nhân hay pháp nhân thực hiện quyền
chủ thể nói trên.
Quyền tự do kinh doanh được thể hiện ở rất nhiều mặt: quyền
tự do lựa chọn thành lập loại hình kinh doanh, ngành nghề kinh
doanh, địa điểm kinh doanh, quyền lựa chọn đối tác kinh doanh,
quyền tự do thỏa thuận các điều khoản trong hợp đồng, quyền lựa
chọn các phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh.
1.2. Bàn luận về pháp luật về quyền tự do kinh doanh của

8



hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu
tư.
Ở Ba Lan, theo Luật ngân hàng Ba Lan, ngân hàng là một tổ
chức có tư cách pháp nhân để hoạt động theo quy định của pháp luật
cũng như theo điều lệ của ngân hàng đó.
Ở Việt Nam, Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định:
NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp
luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Ngân hàng thương mại với bản chất là một pháp nhân thực
hiện hoạt động kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận trong nền kinh
tế, vì vậy NHTM được tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự
bình đẳng như các chủ thể khác và đương nhiên có quyền tự do kinh
doanh. Do đó, dựa vào khái niệm quyền tự do kinh doanh nêu trên có
thể hiểu quyền tự do kinh doanh của NHTM như sau:
Dưới góc độ quyền chủ thể, quyền tự do kinh doanh của
NHTM là khả năng tự định đoạt mọi vấn đề của NHTM khi thực
hiện các hoạt động ngân hàng nhằm mục đích lợi nhuận trên cơ sơ
phù hợp với quy định của pháp luật.
Dưới góc độ chế định pháp luật, quyền tự do kinh doanh của
NHTM là tập hợp các quy phạm pháp luật và những đảm bảo của
Nhà nước đưa ra nhằm tạo điều kiện cho NHTM thực hiện quyền
chủ thể của mình.
Nhìn chung, quyền tự do kinh doanh của NHTM cũng tương
tự so với quyền tự do kinh doanh của các chủ thể doanh nghiệp, tổ
chức kinh tế khác. Tuy nhiên, vì lý do hoạt động trong lĩnh vực kinh

10



trình hoạt động của các NHTM. Khi đó thì quyền tự do kinh doanh
cũng không được bảo đảm. Như vậy quyền tự do kinh doanh luôn
được hiểu là trong khuôn khổ pháp luật.
1.2.3. Nội dung điều chỉnh pháp luật về quyền tự do kinh
doanh của NHTM theo pháp luật Việt Nam
NHTM với tư cách là một doanh nghiệp hoạt động trong nền
kinh tế, vì vậy NHTM đương nhiên có quyền được hưởng các quyền
tự do kinh doanh cơ bản của một chủ thể kinh tế bình thường. Tuy
nhiên, vì những tính chất đặc biệt trong hoạt động và sự tác động của
NHTM tới các chủ thể khác như đã nói ở trên đây, nội dung quyền tự
do kinh doanh của NHTM sẽ có những đặc trưng riêng.
Quyền được đảm bảo sở hữu đối với tài sản
Quyền tự do thành lập doanh nghiệp bao gồm quyền tự do lựa
chọn mô hình tổ chức hoạt động, quyền tự do lựa chọn lĩnh vực và
phạm vi kinh doanh, quyền tự do lựa chọn quy mô hoạt động.
Quyền tự do hợp đồng bao gồm quyền tự do lựa chọn khách
hàng, đối tác; quyền tự do thỏa thuận để quyết định nội dung hợp
đồng.
Quyền tự do cạnh tranh lành mạnh
Quyền tự do lựa chọn hình thức và phương thức giải quyết
tranh chấp
Quyền tự do tổ chức lại, giải thể và phá sản
Ngoài những quyền tự do cơ bản nêu trên, quyền tự do kinh
doanh của NHTM còn bao gồm một số quyền khác như quyền tự do
tuyển chọn và sử dụng lao động, quyền tự quyết định hợp nhất, chia,
tách, sát nhập,…Tóm lại có thể thấy quyền tự do kinh doanh của

12



Trong những năm qua, những đóng góp của hệ thống NHTM
Việt Nam vào quá trình đổi mới và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy
nhanh quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa là rất lớn. Các
NHTM không chỉ tiếp tục khẳng định là một kênh dẫn vốn quan
trọng cho nền kinh tế, mà còn góp phần ổn định sức mua của đồng
tiền. Đến nay, vốn cho sản xuất kinh doanh chủ yếu vẫn do các
NHTM đáp ứng. Điều này cho thấy NHTM có vai trò rất lớn đối với
nền kinh tế:
Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
Ngân hàng là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường
NHTM là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước
NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính
quốc tế
Hoạt động ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro
Nhìn chung Nhà nước đã tạo khung pháp lý về hoạt động ngân
NHTM ngày càng thông thoáng và minh bạch hơn; từng bước theo
chuẩn mực và thông lệ quốc tế; góp phần hạn chế phân biệt đối xử
giữa các loại hình NHTM, giữa các NHTM trong nước và NHTM
nước ngoài, mở rộng quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh và tự
chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của các NHTM, bảo đảm sự
chặt chẽ, thận trọng trong hoạt động NHTM, nâng cao năng lực quản
lý, giám sát của nhà nước đối với hoạt động của NHTM đảm bảo an
toàn và ổn định đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Bên cạnh việc đảm bảo sự tự do cho hoạt động của NHTM thì
để đảm bảo sự chặt chẽ, thận trọng trong hoạt động NHTM, Nhà
nước cũng đã xây dựng ban hành hệ thống các quy định an toàn

14


định quản lý của mình nhằm tạo ra những giá trị tốt nhất cho nền
kinh tế và chính bản thân các NHTM đó.
Những nội dung đã đề cập trong Chương 1 sẽ làm cơ sở cho
tác giả nghiên cứu, phân tích thực trạng cũng như đề ra những giải
pháp để tăng cường quyền tự do kinh doanh của NHTM theo pháp
luật Việt Nam trong những chương sau.
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TỰ DO KINH
DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
2.1. Thực trạng quy định và thực tiễn quyền tự do thành
lập ngân hàng thƣơng mại
Tại Khoản 1, Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2015 đã ghi nhận và
đảm bảo ở mức độ nhất định quyền tự do thành lập doanh nghiệp với
quy định: Tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh
nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này, trừ trương hợp quy
định tại khoản 2 Điều này.
Tại Khoản 1, Điều 6 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 quy định:
NHTM trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ
phần, trừ trường hợp NHTM nhà nước được thành lập và tổ chức
dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà
nước sở hữu 100% vốn điều lệ. Mức vốn thành lập tối thiểu ban đầu
mà yêu cầu NHTM phải có để được phép hoạt động là hoàn toàn cần
thiết. Trên thực tế, mức vốn pháp định mà NHNN quy định đối với
thành lập NHTM hiện nay theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày
22/11/2006 của Chính phủ về Ban hành danh mục mức vốn pháp

16


định của Các tổ chức tín dụng là 3000 tỷ đồng áp dụng đối với các

kết quả kinh doanh của mình. Không một tổ chức, cá nhân nào được
can thiệp trái pháp luật vào hoạt động kinh doanh của tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
2. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có
quyền từ chối yêu cầu cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ khác nếu
thấy không đủ điều kiện, không có hiệu quả, không phù hợp với quy
định của pháp luật”.
Các trường hợp không được cấp tín dụng
Các trường hợp hạn chế cấp tín dụng
Giới hạn cấp tín dụng
2.3. Thực trạng quy định và thực tiễn về quyền tự do của
NHTM trong ký kết và thực hiện hợp đồng
Trong Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định nội dung chủ
yếu của hợp đồng mà để cho các chủ thể tự do thỏa thuận, do đó theo
quy định tại Điều 398 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã đề cập đến điều
khoản chủ yếu của hợp đồng,
Như vậy, quyền tự do ký kết hợp đồng cũng có giới hạn, trong
hợp đồng tín dụng tại Điều 17 Quyết định số 20/2014/VBHN NHNN quy định hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện
cho vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay,
lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm,
phương thức trả nợ và những cam kết được các bên thỏa thuận. Vì
vậy, hợp đồng tín dụng phải có đầy đủ các điều kiện trên thì mới có
hiệu lực.
Theo quyết định 20/2014/VBHN-NHNN ban hành quy chế

18


cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng thì
+ Tự do thỏa thuận lãi suất (điều 11)

Thứ nhất, NHTM là doanh nghiệp dưới hình thức công ty cổ
phần, nên việc tự chủ tổ chức lại dưới dạng chia, tách, hợp nhất và
sát nhập được Nhà nước cho phép thực hiện theo quy định tại Điều
153 Luật các TCTD năm 2010 và các Điều 192, 193, 194 và 195 của
Luật Doanh nghiệp năm 2014. Trong khi đó, đói với việc chuyển đổi
mô hình công ty thì NHTM không được phép thực hiện bởi Luật các
TCTD năm 2010 đã quy định cụ thể NHTM phải là CTCP.
Thứ hai, NHTM được tự nguyện giải thể nếu có khả năng
thanh toán hết số nợ và được NHNN chấp thuận (Điều 154 Luật các
TCTD năm 2010).
Thứ ba, NHTM được làm đơn để yêu cầu được tuyên bố phá
sản khi chấm dứt kiểm soát đặc biệt và áp dụng các biện pháp phục
hồi khả năng thanh toán mà NHTM vẫn lâm vào tình trạng phá sản
(Điều 155 Luật các TCTD năm 2010).
Tiểu kết Chƣơng 2
Có thể nhận thấy rằng Nhà nước cũng đã rất hạn chế khi can
thiệp vào các quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
Tuy nhiên với vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, NHTM lại
được Nhà nước chú ý hơn trong việc quản lý, điều hành để đảm bảo
phát triển đúng định hướng, bảo đảm an toàn. Từ đó, việc can thiệp
của Nhà nước làm ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh của
NHTM là không thể tránh khỏi chẳng hạn như: Về việc thành lập
NHTM pháp luật đưa ra những quy định trong luật định mà không

20


bắt kịp và không bám sát được tình hình thực tế bên ngoài; lãi suất
và quy định về lãi suất luôn là vấn đề được nhắc đến nhiều nhất trong
những năm gần đây. Doanh nghiệp khó khăn trong khi lãi suất cho

buộc và yêu cầu các NHTM phải nghiêm túc chấp hành.
3.2. Giải pháp về đảm bảo quyền tự do kinh doanh của
NHTM ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Pháp luật cần phải tạo một môi trường kinh doanh thuận lợi
cho sự tăng trưởng của hoạt động ngân hàng, đảm bảo tính thống
nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật ngân hàng phù hợp với cam
kết khi hội nhập
Tuân thủ nguyên tắc minh bạch hóa và chuẩn xác thông tin về
hoạt động ngân hàng
Để đảm bảo quyền tự do kinh doanh của NHTM thì cần phải
nâng cao năng lực quản trị rủi ro và năng lực giám sát ngân hàng
Xây dựng hệ thống thu thập dữ liệu đảm bảo các thông tin
cung cấp là tin cậy
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với công nghệ hợp lý
Thực tế cho thấy tự do kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
cũng cần phải được đặt trong giới hạn của pháp luật
Hoàn thành mục tiêu tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
Định hướng hoạt động cho vay đối với NHTM
Chấp nhận cho ngân hàng phá sản
Tiểu kết Chƣơng 3
Tóm lại, NHTM nói riêng và hệ thống ngân hàng Việt Nam

22


nói chung có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội ở nước ta. Vì vậy, quyền tự do kinh doanh của NHTM Việt Nam
luôn nhận được nhiều sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, mặc dù số
lượng các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh hoạt động
NHTM đã được xây dựng, ban hành khá lớn nhưng nhìn chung vẫn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status