MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XXI với những tiến bộ vượt bậc về khoa học và công nghệ mà
đặc điểm nổi bật là tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và sự toàn cầu
hóa về kinh tế, đang kéo theo nhiều biến đổi quan trọng trong đời sống xã hội,
sinh hoạt văn hóa và tinh thần, con người được giải phóng và vai trò cá thể
được đề cao. Hơn nữa, trong lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh
rằng xã hội sẽ không có những bước tiến ổn định, vững chắc nếu vẫn còn tồn
tại một bộ phận không nhỏ người dân, đặc biệt là phụ nữ bị áp bức hoặc bị hạn
chế vươn lên. Chính vì vậy, tạo quyền bình đẳng cho phụ nữ đã trở thành mục
tiêu phát triển của các quốc gia và điều này đã đánh dấu một bước tiến vượt bậc
của nhân loại. Tuy nhiên, vấn đề bình đẳng giới một cách toàn diện, đầy đủ vẫn
là lý tưởng mà nhân loại đã, đang và sẽ theo đuổi. Dù thế giới đã có nhiều biến
đổi to lớn, song, vấn đề bình đẳng giới vẫn chưa được thực sự diễn ra như mong
muốn của chúng ta. Ngay ở những nước phát triển dù đời sống cao, trình độ
học vấn cao, nhận thức vấn đề nhạy bén, tư duy thoáng đạt nhưng sự bất bình
đẳng giữa nam và nữ vẫn còn tồn tại. Ở những nước chậm, kém phát triển do
điều kiện kinh tế khó khăn; trình độ học vấn thấp; tư duy cổ hủ, trì trệ, phong
tục tập quán, thói quen lạc hậu còn tồn tại nhiều, cho nên tình trạng bất bình
đẳng giới diễn ra khá phổ biến, thường xuyên, liên tục, mọi lúc, mọi nơi, mọi
thành phần trong xã hội. Sự bất bình đẳng giữa nam và nữ đã ảnh hưởng không
nhỏ đến sự phát triển của kinh tế thế giới nói chung, đặc biệt là sự phát triển
của các nước chậm, kém phát triển nói riêng như: nền kinh tế càng ngày càng
tụt hậu xa hơn so với các nước khác, chất lượng cuộc sống thấp, đời sống nhân
dân khổ cực, bệnh tật, đói nghèo gia tăng; phụ nữ, trẻ em không được quan tâm
đúng mức nên tỷ lệ tử vong cao…Do đó, đấu tranh vì bình đẳng giới đã và đang
1
trở thành một phong trào rộng khắp trên phạm vi toàn thế giới cả về phương
đình và cùng với người chồng làm chủ gia đình, có vai trò to lớn trong việc xây
dựng gia đình no ấm, văn minh, hạnh phúc và từ đó góp phần tạo dựng những
thế hệ tương lai tốt đẹp, truyền nối và phát triển văn hóa gia đình, nâng cao văn
hóa xã hội.
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Long Xuyên,
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố đều quan tâm đến vấn đề xây
dựng đời sống văn hóa cho các gia đình và từng bước nâng cao vị trí, vai trò
người phụ nữ trong gia đình. Tiêu biểu là Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa” đã được triển khai rộng khắp trên địa bàn thành phố và
thu được những thành tựu đáng kể. Những thành công đó có sự đóng góp không
nhỏ của phụ nữ thành phố Long Xuyên. Các bà, các mẹ, các chị đang từng
ngày, từng giờ khẳng định vai trò, vị trí của mình không chỉ trong công việc xã
hội mà còn trong cả gia đình, đồng thời vận động các gia đình khác cùng nhau
xây dựng tổ ấm hạnh phúc, hướng tới xây dựng gia đình văn hóa đóng góp vào
sự thành công chung trong sự nghiệp đổi mới của thành phố Long Xuyên. Tuy
nhiên, trên thực tế người đàn ông vẫn được coi là trụ cột gia đình, có quyền
quyết định các vấn đề lớn và là người đại diện ngoài cộng đồng. Còn công việc
nội trợ, chăm sóc các thành viên trong gia đình thường được coi là thiên chức
của người phụ nữ. Trong gia đình, thời gian làm việc của nữ thường dài hơn
nam, các kết quả thống kê cho thấy, thời gian làm việc của phụ nữ luôn nhiều
hơn của nam giới; sự chênh lệch này chủ yếu do người phụ nữ ngoài vai trò sản
xuất và công tác còn đảm nhiệm chính công việc trong gia đình như: nội trợ,
chăm sóc con cái. Do đó, người phụ nữ ít có cơ hội để học tập, nâng cao trình
độ, nghỉ ngơi, giải trí hay tham gia các hoạt động xã hội; thời gian làm việc khá
dài trong ngày cũng gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của phụ nữ. Chính vì vậy,
chúng tôi đã chọn đề tài: “Ảnh hưởng bình đẳng giới đến việc phát huy vai trò
3
Có nhiều tài liệu về bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong gia
đình nói riêng:
- “Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường” (1996) (8),
Nxb. Chính trị Quốc gia của Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Lân, nêu bật những khó khăn
của phụ nữ nông thôn và những khuyến nghị khoa học làm cơ sở cho việc hoạch
định chính sách xóa đói giảm nghèo, giúp phụ nữ nghèo nông thôn vươn lên.
- “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới” (2002) (37), Nxb.
Khoa học Xã hội của Giáo sư Lê Thi, cung cấp cho bạn đọc, những nhà làm khoa
học, làm chính sách một số tài liệu tham khảo về tình hình gia đình Việt Nam,
các mối quan hệ giữa các thành viên, đặc biệt là quan hệ giữa vợ và chồng trong
bối cảnh đổi mới của đất nước, nhằm xây dựng được gia đình ấm no, hạnh phúc,
vợ chồng tôn trọng, bình đẳng với nhau.
- “Vấn đề phụ nữ và trẻ em thời kỳ 2001-2010” (2002) (53), của vụ Tổng
hợp – Pháp chế (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) phối hợp với Nhà xuất
bản Lao động – Xã hội biên soạn, nhằm giúp các nhà nghiên cứu, các chuyên gia
và cán bộ làm công tác xã hội trong lĩnh vực bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em,
hệ thống hóa chủ trương, đường lối của Đảng, các giải pháp của Nhà nước và
Chương trình hành động quốc gia trong lĩnh vực này. Tài liệu cũng cung cấp cho
chúng ta đường hướng chính trong việc thúc đẩy quyền của phụ nữ và trẻ em
thời kỳ 2001-2010.
- “Nghiên cứu phụ nữ, giới và gia đình” (2003) (24), Nxb. Khoa học Xã
hội của Tiến sĩ Nguyễn Linh Khiếu, tạo cơ sở khoa học cho việc xây dựng những
chính sách, những chiến lược phát triển của gia đình, đời sống người phụ nữ và
bình đẳng giới trong gia đình ở Việt Nam.
- “Gia đình học” (2007) (29), Nxb. Lý luận chính trị của Giáo sư Đặng
Cảnh Quang và Phó Giáo sư Lê Thị Quý, trình bày một cách hệ thống những vấn
đề lý luận về gia đình, phụ nữ, bình đẳng nam nữ. Tài liệu đã nêu ra nhiều thực
5
Trên cơ sở trình bày những vấn đề lý luận về giới, bình đẳng giới, luận
văn làm rõ ảnh hưởng bình đẳng giới đến việc phát huy vai trò của phụ nữ trong
việc xây dựng gia đình văn hóa ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu về giới, bình đẳng giới và ảnh hưởng của bình đẳng giới đến
gia đình.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò của phụ nữ và việc phát huy vai
trò của phụ nữ trong việc xây dựng gia đình văn hóa ở thành phố Long Xuyên,
tỉnh An Giang.
5. Giả thuyết khoa học
Phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong gia đình đang bị xem nhẹ, các hiện
tượng bất bình đẳng giới vẫn đang diễn ra hàng ngày.
Một số người chưa nhận thức đúng về bình đẳng giới và vai trò của phụ
nữ trong việc xây dựng gia đình văn hóa.
Cần làm rõ ảnh hưởng của bình đẳng giới đến việc phát huy vai trò của
phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An
Giang hiện nay.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở khoa học của ảnh hưởng bình đẳng giới đến việc phát huy
vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở thành phố Long Xuyên,
tỉnh An Giang hiện nay.
Thực trạng và giải pháp nhằm hạn chế sự bất bình đẳng, phát huy vai trò
của phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An
Giang hiện nay.
7. Phạm vi nghiên cứu
CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ẢNH HƯỞNG BÌNH ĐẲNG GIỚI ĐẾN
VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG GIA
ĐÌNH VĂN HÓA Ở THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
HIỆN NAY
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm giới và bình đẳng giới
Theo Thông tin pháp luật dân sự, trong 20 năm vừa qua, Việt Nam đã đạt
được thành tựu nổi bật về cải thiện điều kiện sống của người dân và giảm chênh
lệch giới. Việt Nam xếp hạng 80 trong số 136 quốc gia về chỉ số phát triển giới
(GDI) và là quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh chóng nhất trong xóa bỏ
khoảng cách giới ở khu vực Châu Á. Tuy nhiên, thành tựu này chưa mang tính
đồng bộ, bởi không phải lúc nào nữ giới cũng có cơ hội cạnh tranh trên một sân
chơi ngang bằng với nam giới, nhất là phụ nữ nông thôn. Phụ nữ nông thôn
Việt Nam bị thiệt thòi vì sự vắng mặt của phụ nữ trong việc lập kế hoạch và
trong các chính sách cấp cơ sở và vĩ mô là rất dễ thấy, các chính sách cũng như
các phân bổ về nguồn vốn có xu hướng bỏ qua những nhu cầu của phụ nữ. Mặt
khác, phụ nữ nông thôn thường không hiểu rõ các quyền về mặt pháp lý của
mình do trình độ học vấn của họ còn thấp, cộng với khuôn mẫu xã hội truyền
thống còn mang nặng tính phân biệt nam giới và phụ nữ. Những điều này dẫn
đến hậu quả là phụ nữ thường bị “bỏ quên” trong công tác phát triển và trong
quá trình phân bổ các lợi ích từ những sự thay đổi mà sự phát triển kinh tế xã
hội của đất nước mang lại. Theo Chương trình phát triển liên hợp quốc (UNDP,
2006), vấn đề giới cần phải được quan tâm trong các chiến lược phát triển của
mỗi quốc gia để đảm bảo sự công bằng và bình đẳng hướng đến những mục
tiêu phát triển xã hội. Do đó, quan tâm nghiên cứu vấn đề giới là công việc cần
thiết trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội đất nước, vấn đề giới cần thiết
10
bình đẳng giới trong gia đình là việc vợ và chồng, con trai và con gái, các thành
viên nam và nữ trong gia đình có vị trí, vai trò ngang nhau, quyền được tạo điều
kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của gia đình như
nhau, quyền được thụ hưởng về thành quả phát triển của gia đình và xã hội
ngang nhau, quyền được tham gia quyết định các vấn đề của bản thân và gia
đình. Trên cơ sở các quyền đó, các thành viên trong gia đình được tự do tham
gia vào các công việc trong gia đình và ngoài xã hội tùy theo khả năng và sở
thích của mình, được tự do những vai trò khác nhau, giống nhau trong gia đình
tùy theo mục đích của mỗi người, được tự do lựa chọn cách thức thụ hưởng các
thành quả tùy theo sở thích của mỗi người.
1.1.2. Khái niệm bất bình đẳng giới và các yếu tố ảnh hưởng đến bất
bình đẳng giới trong gia đình
Bất bình đẳng giới là không ngang bằng nhau về các cơ hội, lợi ích, địa
vị xã hội, địa vị chính trị giữa nam và nữ trong xã hội, bất bình đẳng giới diễn
ra trong tất cả các lĩnh vực, phạm vi của đời sống xã hội [16, tr.91]. Bất bình
đẳng giới còn là sự phân biệt đối xử giữa nam, nữ về vị thế, điều kiện và cơ hội
bất lợi cho nam, nữ trong việc thực hiện quyền con người, đóng góp và hưởng
lợi từ sự phát triển của gia đình, của đất nước. Hay nói cách khác, bất bình đẳng
giới là sự đối xử khác biệt với nam giới và phụ nữ tạo nên các cơ hội khác nhau,
sự tiếp cận các nguồn lực khác nhau, sự thụ hưởng khác nhau giữa nam và nữ
trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Các dạng tồn tại bất bình đẳng giới: Gánh
nặng công việc, sự phân biệt đối xử, bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, những
định kiến rập khuôn và bạo lực trên cơ sở giới tính.
Một số yếu tố chính ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong gia đình:
Thứ nhất, định kiến giới, là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu
cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ [16, tr.3]. Hay nói
một cách tùy tiện sự tự do, dù xảy ra ở nơi công cộng hay trong đời sống riêng
tư”. Bạo lực giữa người chồng đối với người vợ trong gia đình có thể thấy là
12
dạng bạo lực phổ biến nhất trong gia đình. Hành vi người chồng gây ra chủ yếu
và lớn nhất là bạo lực về thể chất, đây là dạng dễ nhận thấy và bị lên án mạnh
mẽ nhất. Sở dĩ đa phần người đàn ông sử dụng “nắm đấm” để dạy vợ là do họ
không nhận thức được rằng hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Vấn đề nổi
cộm trong dư luận thời gian gần đây là tình trạng bạo lực tình dục, thường được
thể hiện dưới dạng: cưỡng ép quan hệ tình dục, hiếp dâm, cưỡng dâm, quấy rối
tình dục. Bên cạnh hành vi bạo lực về thể chất và bạo lực tình dục thì các hành
vi về bạo lực tinh thần (người vợ bị chồng chửi mắng, xỉ vả, cấm tham gia công
tác xã hội, cấm quan hệ với mọi người) và bạo lực về kinh tế (chồng kiểm soát
vợ về thu nhập, không chịu đóng góp vào kinh tế chung của gia đình) cũng đang
diễn ra ngày càng phổ biến gây ra hậu quả xấu đối với gia đình và toàn xã hội.
Thứ ba, yếu tố giáo dục, địa lý và kinh tế cũng là một trong các yếu tố ảnh
hưởng đến vấn đề bình đẳng giới. Qua khảo sát, có thể thấy các gia đình thành
thị tỷ lệ bất bình đẳng giới cũng ít hơn so với các gia đình nông thôn, nơi còn
chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến. Ở những nơi điều kiện giáo dục
tốt, cả nam giới và nữ giới đều được tiếp xúc với kiến thức một cách dễ dàng,
hiểu biết pháp luật thì tình trạng bất bình đẳng giới cũng được hạn chế hơn.
Điều kiện kinh tế cũng ảnh hưởng khá lớn đến vấn đề bình đẳng giới, đặc biệt
là tình trạng vi phạm pháp luật về bình đẳng giới. Cuộc sống kinh tế khó khăn,
áp lực cuộc sống nặng nề dẫn đến không làm chủ được bản thân và có những
hành vi trái pháp luật.
1.1.3. Vai trò của bình đẳng giới trong gia đình
Gia đình là môi trường tuyên truyền, giáo dục tốt nhất về bình đẳng giới.
Gia đình đóng vai trò cơ bản trong việc định hình mối quan hệ giới ngay từ
được chơi các trò chơi theo giới, phân công lao động theo giới trong gia đình,
đầu tư cho trẻ em trai và trẻ em gái khác nhau… Từ đó cho thấy, trẻ em có được
đặc tính về giới mà đặc tính này sẽ xác định một loạt các hoạt động được xã
hội chấp nhận cho nam và nữ cũng như mối quan hệ giữa chúng là từ gia đình.
14
Do vậy, nhận thức của các thế hệ đi trước trong gia đình về giới và bình đẳng
giới không đúng đắn sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức và hành vi của các
thế hệ sau. Điều này sẽ làm chậm mục tiêu bình đẳng giới. Ngược lại, khi các
thế hệ đi trước nhận thức đúng đắn về bình đẳng giới, xóa bỏ định kiến giới thì
họ sẽ truyền dạy cho các thế hệ kế tiếp những nhận thức đúng đắn đó. Đồng
thời, nhận thức đúng đắn về bình đẳng giới của các thế hệ đi trước sẽ quyết
định hành vi của họ trong việc chăm sóc, giáo dục, đầu tư… cho thế hệ tương
lai. Sự quan tâm, chăm sóc, tình yêu thương của cha mẹ, ông bà dành cho trẻ
em trai và trẻ em gái là như nhau. Con trai, con gái đều được tôn trọng như
nhau. Sự đầu tư của cha mẹ, ông bà trong việc phát triển đối với con trai, con
gái phải trên cơ sở năng lực, sở thích và cơ hội của mỗi người con mà không
dựa trên giới tính. Sự phân công lao động trong gia đình phải trên cơ sở khả
năng của mỗi người con mà không phụ thuộc vào giới tính… Hành động cụ thể
trên sẽ tác động tích cực đến nhận thức, hành vi, cơ hội của thế hệ kế tiếp. Điều
đó góp phần rút ngắn khoảng cách giới, tiến tới bình đẳng giới.
Phụ nữ bình đẳng với nam giới không chỉ góp sức cho xã hội giàu mạnh,
văn minh mà trong gia đình là ngọn nguồn của hạnh phúc, đã sản sinh và nuôi
dưỡng thế hệ trẻ tốt đẹp. Bình đẳng nam nữ là nền tảng văn hóa của con người,
của gia đình và hạnh phúc. Vai trò của phụ nữ được phát huy bình đẳng trong
xã hội và trong gia đình, mang một ý nghĩa lớn đối với sự giữ gìn và phát huy
truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam và truyền thống văn hóa của dân
tộc. Văn hóa gia đình là nền tảng của văn hóa xã hội, ở đó vai trò của người
gia các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; không vi phạm các
quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, tang và lễ hội; không
sử dụng và lưu hành văn hóa phẩm độc hại; không mắc các tệ nạn xã hội và
tham gia tích cực bài trừ tệ nạn xã hội, phòng chống các loại tội phạm; tham
gia thực hiện đầy đủ các phong trào thi đua, các sinh hoạt, hội họp của cộng đồng.
16
Thứ hai, gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ tương trợ, giúp đỡ mọi
người trong cộng đồng: vợ chồng bình đẳng, thương yêu, giúp đỡ nhau tiến bộ,
không có bạo lực gia đình dưới mọi hình thức; thực hiện bình đẳng giới, vợ
chồng thực hiện sinh con đúng quy định, cùng có trách nhiệm nuôi con khỏe,
dạy con ngoan; gia đình nề nếp, ông bà, cha mẹ gương mẫu con cháu thảo hiền;
giữ gìn các giá trị văn hóa gia đình truyền thống, tiếp thu có chọc lọc các giá
trị văn hóa mới về gia đình; giữ gìn vệ sinh, phòng bệnh, nhà ở ngăn nắp, khuôn
viên xanh-sạch-đẹp, sử dụng nước sạch, nhà tắm và hố xí hợp vệ sinh; các thành
viên trong gia đình có nếp sống lành mạnh, thường xuyên luyện tập thể dục thể
thao; tích cực tham gia chương trình xóa đói giảm nhèo, đoàn kết tương trợ
xóm làng, giúp đỡ đồng bào hoạn nạn, hưởng ứng các Phong trào Đền ơn đáp
nghĩa, Cuộc vận động Ngày Vì người nghèo và các hoạt động khác ở cộng đồng.
Thứ ba, tổ chức lao động, sản xuất, kinh doanh, công tác, học tập đạt
năng suất, chất lượng, hiệu quả. Trẻ em trong độ tuổi đi học đều được đến
trường, chăm ngoan, hiếu học; người lớn trong độ tuổi lao động có việc làm
thường xuyên, thu nhập ổn định và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Có kế
hoạch phát triển kinh tế gia đình, chủ động “xóa đói giảm nghèo”, năng động
làm giàu chính đáng; kinh tế gia đình ổn định, thực hành tiết kiệm, đời sống
vật chất, văn hóa tinh thần của các thành viên trong gia đình ngày càng nâng cao.
Gia đình văn hóa là danh hiệu để phong tặng cho những gia đình thực
hiện tốt các tiêu chuẩn đặt ra. Danh hiệu này chỉ phẩm chất của gia đình, nói
cuộc sống gia đình. Vì vậy, phụ nữ và tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ phải là
những người đi tiên phong, chủ động vận động, khuyến khích mọi người trong
gia đình và xã hội cùng có trách nhiệm xây dựng gia đình các chuẩn mực “No
ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”.
Vai trò và trách nhiệm của phụ nữ trong việc xây dựng gia đình văn hóa
thể hiện ở một số nội dung cơ bản sau:
18
Thứ nhất, đối với việc tổ chức cuộc sống gia đình: Phụ nữ là người giữ
gìn nếp sống văn hóa, đạo đức trong gia đình, chăm lo đời sống vật chất, tinh
thần, là trung tâm tình cảm của các thành viên trong gia đình. Do đó người phụ
nữ có trách nhiệm xây dựng các mối quan hệ trong gia đình tốt đẹp.
Thứ hai, trong mối quan hệ vợ chồng: người phụ nữ vừa là người vợ, người
bạn tốt của chồng, để cùng nhau chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn, giúp chồng
hiểu công việc của mình để có sự cảm thông và hỗ trợ lẫn nhau ở mọi công việc
trong gia đình như chăm sóc con cái, cha mẹ già… cùng chịu trách nhiệm chung
trước gia đình và xã hội. Nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam còn thể hiện ở
tính chung thủy, yêu thương, quan tâm, chăm sóc, cư xử dịu dàng, tế nhị với
chồng.
Thứ ba, với vai trò người mẹ, phụ nữ là người thầy đầu tiên của con, có
vai trò quan trọng trong việc nuôi dạy và hình thành nhân cách của con. Vì vậy,
phụ nữ cần phải có kiến thức nuôi dạy con theo khoa học để con không bị suy
dinh dưỡng, khỏe mạnh, phát triển tốt về trí tuệ và thể lực. Biết hướng cho con
vào các hoạt động vui chơi, giải trí lành mạnh, tôn trọng và lắng nghe ý kiến
của con. Người mẹ còn là người bạn để cho con tâm tình, hỏi ý kiến, giúp con
có những quyết định đúng đắn trong học tập, trong cuộc sống, người mẹ phải
thể hiện lòng nhân hậu, vị tha và là tấm gương sáng cho con học tập, noi theo.
Như vậy dù ở bất kỳ cương vị, vị trí công tác nào thì người phụ nữ cũng có vai
khu vực thương mại – dịch vụ chiếm 79,67%, công nghiệp – xây dựng chiếm
18,33%, nông nghiệp chiếm 02%. Nhìn chung, tình hình kinh tế trên địa bàn
thành phố có bước tăng trưởng qua các năm nên các khoản thu lớn và chủ lực
của ngân sách thành phố đều đạt kết quả cao, đáp ứng nhu cầu các nhiệm vụ
chi theo dự toán đề ra, thu ngân sách Nhà nước đạt 689,857 tỷ đồng, chi ngân
sách là 679,831 tỷ đồng. Công tác Giáo dục và Đào tạo tiếp tục có sự phát triển
khá toàn diện, cả về hiệu quả công tác quản lý và chất lượng giáo dục học sinh.
20
Công tác phòng chống dịch bệnh tiếp tục được tăng cường, dịch bệnh tuy còn
ở mức khá cao nhưng trong tầm kiểm soát. Công tác chăm lo cho gia đình chính
sách, đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, hộ khó khăn được thực hiện đầy đủ,
kịp thời. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo [48,
tr.1-2].
1.2.2. Tình hình giới, bình đẳng và bất bình đẳng giới ở thành phố
Long Xuyên, tỉnh An Giang hiện nay
Với tình hình dân số nữ nhiều hơn nam (nữ là 142.706 người, chiếm tỷ
lệ 50,8%) trong những năm qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền thành phố Long
Xuyên luôn quan tâm tới việc thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới và ngày
càng có những bước chuyển mới, tạo điều kiện cho cả nam và nữ phát huy
quyền làm chủ và bình đẳng trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội và
trong gia đình, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của
thành phố. Đặc biệt, các hoạt động thực hiện công tác bình đẳng giới trong gia
đình của thành phố trong giai đoạn 5 năm 2011-2015 bước đầu thu được những
kết quả đáng khích lệ [45, tr.2-3]: phòng Lao động – Thương binh và Xã hội đã
tổ chức đào tạo nghề cho lao động nữ, 100% học viên nữ sau khi được đào tạo
đều tốt nghiệp, 70% học viên có việc làm sau khi đào tạo; Trung tâm Dân sốKế hoạch hóa gia đình đã thành lập 13 câu lạc bộ “Tiền hôn nhân” với 416
thành viên, tổ chức sinh hoạt định kỳ hàng quý nhằm nâng cao nhận thức và kỹ
92 vụ bạo lực gia đình, trong đó số nạn nhân nữ là 80 vụ chiếm 86,95%) nhưng
22
100% các vụ bạo lực gia đình xảy ra đều đã được tư vấn, hòa giải, ổn định cuộc
sống gia đình. Thông qua phát động của Liên đoàn Lao động về đăng ký danh
hiệu thi đua “Giỏi việc nước, chia sẻ việc nhà”, đã có 961 đoàn viên nam công
đoàn đăng ký tham gia; qua đó, góp phần rút ngắn khoảng cách về thời gian
tham gia công việc gia đình của nữ so với nam. Các cấp Hội Phụ nữ đã có nhiều
hoạt động hỗ trợ phát triển kinh tế, chăm lo thiết thực đời sống vật chất tinh
thần cho phụ nữ. Mô hình “Ống heo tiết kiệm” có 70 tổ với 887 thành viên, 167
tổ “Phụ nữ tiết kiệm tương trợ” xoay vòng với 2.355 thành viên, 136 tổ “Tiết
kiệm 5.000 đồng” với 1.753 thành viên; tổng số tiền tiết kiệm trên 12 tỷ đồng,
đã giúp cho 10.821 lượt hội viên phụ nữ nghèo, khó khăn có điều kiện vươn
lên ổn định cuộc sống. Ngoài ra còn thành lập 37 tổ phụ nữ tương trợ mua Bảo
hiểm Y tế với 434 thành viên; 03 tổ phụ nữ giúp việc nhà có 68 thành viên; xây
dựng 27 căn nhà “Mái ấm tình thương” cho hội viên phụ nữ nghèo với tổng số
tiền 692,1 triệu đồng do Hội phụ nữ các cấp vận động. Hội Nông dân xây dựng
được nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả như: nuôi lươn trong bể nylon, sản
xuất rau an toàn, trồng hoa, nuôi bò vỗ béo, nuôi cá lóc bằng thức ăn công
nghiệp, nuôi vịt theo hướng an toàn thực phẩm, Câu lạc bộ cây kiểng, trồng lúa
Nhật,...với hơn 1.645 nữ tham gia trực tiếp. Hiện tại, Hội đang quản lý 96 tổ
kinh tế hợp tác theo ngành, nghề và 23 câu lạc bộ Hội nông dân với tổng số
6.217 thành viên, trong đó có 796 thành viên là nữ tham gia sinh hoạt. Ngành
Y tế đã tích cực phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ thành lập 13 Câu lạc bộ
“Phụ nữ không sinh con thứ 3” với 399 thành viên, tổ chức sinh hoạt định kỳ
hàng quý, giúp các chị em hiểu được hậu quả của việc sinh đông con, hệ lụy
của vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh; từ đó, dừng lại ở hai con, không
sinh con thứ ba, không lựa chọn giới tính khi sinh; 100% phường, xã phối hợp
trong cơ cấu tổ chức, quản lý xã hội còn hạn chế, đặc biệt ở cấp cơ sở. Theo đó,
tỷ lệ cán bộ nữ làm công tác quản lý, lãnh đạo còn thấp so với các vị trí quản
24
lý, lãnh đạo nói chung, so với sự gia tăng của lực lượng lao động nữ nói riêng.
Mặc dù tỷ lệ này tăng nhẹ qua các năm song chưa đồng đều, chưa ổn định, vẫn
ở mức thấp so với mục tiêu đặt ra. Trong kinh tế, ở một số nơi vấn đề chênh
lệch thu nhập giữa nam và nữ cùng một vị trí công việc vẫn diễn ra, cơ hội để
phụ nữ tiếp cận những việc làm có thu nhập cao vẫn thấp hơn so với nam giới,
lao động nữ chưa được đánh giá cao như lao động nam, là đối tượng dễ bị rủi
ro và tổn thương hơn khi doanh nghiệp có nhu cầu cắt giảm nhân lực… Đặc
biệt, tình trạng bạo hành phụ nữ vẫn diễn ra ở một số nơi, nhất là ở vùng nông
thôn. Một số trường hợp phụ nữ bị bạo hành nghiêm trọng mà chưa được chính
quyền, người xung quanh bảo vệ. Có những phụ nữ phải âm thầm chịu bạo
hành gia đình trong nhiều năm mà không dám tố cáo. Thực trạng này, một phần
do nhận thức hạn chế của người dân về luật pháp nên chưa biết tự bảo vệ; một
phần, do chế tài xử phạt chưa đủ mạnh nên thiếu sức răn đe. Bên cạnh đó, trong
một số trường hợp, việc chăm sóc sức khỏe sinh sản phụ nữ chưa được chú
trọng tuyên truyền đúng mức. Không chỉ nam giới, mà bản thân phụ nữ cũng
chưa quan tâm sức khỏe sinh sản của chính mình và không áp dụng các biện
pháp phòng tránh thai an toàn dẫn tới hậu quả nghiêm trọng. Một số gia đình,
dù phụ nữ tham gia đóng góp kinh tế như nam giới nhưng vẫn phải làm nhiều
việc nhà hơn và nam giới vẫn thường là người đưa ra các quyết định quan
trọng,… Vì thế, bất bình đẳng giới vẫn diễn ra ở một số nơi, trên một số lĩnh
vực và phần thiệt thòi thường vẫn thuộc về phụ nữ.
1.2.3. Sự cần thiết tăng cường bình đẳng giới và phát huy vai trò của
phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An
Giang hiện nay