Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS ngô quyền, quận lê chân, thành phố hải phòng theo yêu cầu đổi mới giáo dục - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NGÔ QUYỀN, QUẬN LÊ CHÂN,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2017

1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NGÔ QUYỀN, QUẬN LÊ CHÂN,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

BGH

Ban giám hiệu

CBQL:

Cán bộ quản lý

CNTT:

Công nghệ thông tin

CSVC:

Cơ sở vật chất

DH:

Dạy học

ĐTBhk:

Điểm trung bình học kỳ

ĐTBcn:

Điểm trung bình cả năm

GD&ĐT:


QLGD:

Quản lý giáo dục

SGK:

Sách giáo khoa

TNTL:

Trắc nghiệm tự luận

TNKQ:

Trắc nghiệm khách quan

THCS:

Trung học cơ sở

THPT:

Trung học phổ thông

TTCN:

Trung tâm công nghiệp

UBND:


một trong những biện pháp hữu hiệu để nhà trường và giáo viên hoàn thành
những mục tiêu giáo dục đào tạo thời kỳ đổi mới. Một cuộc “cách mạng về
phương pháp giáo dục sẽ đem lại một bộ mặt mới, sức sống mới cho nhà
trường ở thời đại mới”.

5


Đổi mới phương pháp dạy học không thể tách rời đổi mới đánh giá. Bởi
vì mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập của
học sinh là những thành tố quan trọng của quá trình dạy học ở trường phổ
thông, có quan hệ mật thiết và biện chứng với nhau. “Đánh giá có vai trò vô
cùng quan trọng được coi như là một biện pháp để nâng cao chất lượng dạy
học bộ môn, đó là khâu mở đầu của quá trình dạy học, đồng thời cũng là khâu
kết thúc của quá trình dạy học này để mở ra một quá trình dạy học khác cao
hơn đồng thời có tác động điều tiết trở lại quá trình giáo dục và đào tạo” [9] .
Dạy học là một quá trình khép kín, để điều chỉnh quá trình này một cách có
hiệu quả cả người dạy và người học đều phải tiếp thu được những thông tin
ngược từ việc kiểm tra, đánh giá tri thức. Việc đánh giá kết quả học tập có
nhiệm vụ làm sáng rõ tình hình lĩnh hội kiến thức của học sinh, sự hình thành
kỹ năng, kỹ xảo, góp phần phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập, tự giác
trong mỗi học sinh. Đồng thời thông qua đánh giá kết quả học tập của học sinh
giáo viên có thể rút kinh nghiệm quá trình dạy học của mình để từ đó có những
điều chỉnh biện pháp sư phạm hợp lý hơn.
Song thực tiễn việc đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy học
ở trường THCS cho thấy: quan niệm về đánh giá của giáo viên, học sinh và xã
hội cũng có nhiều bất cập, đánh giá còn nặng về ghi nhớ mà không kiểm tra
được học sinh hiểu và vận dụng; kỹ năng đánh giá học sinh chưa thực sự được
giáo viên quan tâm; việc đánh giá còn nặng về hình thức, về điểm, độ chính
xác chưa cao. Chính vì vậy, việc đánh giá kết quả học tập của học sinh chưa

- Nghiên cứu các văn bản pháp quy, những quy định của ngành có liên
quan đến đánh giá kết quả học tập của học sinh.
- Trên cơ sở đó để xây dựng cơ sở nghiên cứu lí luận của đề tài.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra viết bằng bảng hỏi:
Thông qua việc xây dựng các phiếu điều tra, hệ thống câu hỏi với các đối
tượng là cán bộ quản lý, giáo viên, các cán bộ chuyên môn phụ trách công tác
kiểm tra của nhà trường. Lấy trưng cầu ý kiến đánh giá của giáo viên về một
số nội dung chỉ đạo quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh
trường THCS Ngô Quyền theo yêu cầu đổi mới giáo dục.
- Phỏng vấn:
Thiết kế câu hỏi để phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý, giáo viên và học
sinh về thực trạng quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh
trường THCS Ngô Quyền theo yêu cầu đổi mới giáo dục.
- Quan sát:
Phương pháp này được thực hiện bằng cách tiếp cận, xem xét, thu thập
dữ liệu từ những hoạt động thực tế của hoạt động đánh giá kết quả học tập của
9


học sinh, hoạt động coi thi, coi kiểm tra, chấm bài, vào điểm của giáo viên,
đánh giá của Hiệu trưởng.
- Nghiên cứu sản phẩm hoạt động học tập:
Nghiên cứu các hình thức đánh giá, sản phẩm hoạt động dạy và học
thông qua các đề thi, công tác chấm thi, công bố kết quả thi, bảo quản và lưu
trữ kết quả thi, kiểm tra của học sinh.
- Chuyên gia:
Phương pháp chuyên gia được dùng để xin góp ý kiến nhận xét của các
chuyên gia quản lý giáo dục về các lĩnh vực liên quan đến đề tài, từ đó rút ra
những kinh nghiệm quý báu trong công tác chỉ đạo và quản lý hoạt động đánh

trong các nhà trường. Đây là vấn đề lớn, đã có từ ngay khi nhà trường xuất
hiện trong xã hội loài người. Khi xã hội loài người phát triển việc truyền thụ
những kinh nghiệm sản xuất, những thành tựu khoa học, những tri thức cuộc
sống cho thế hệ sau là điều cần thiết để tiến hành được điều đó, con đường
ngắn nhất và hiệu quả nhất là dạy học, dạy học được coi là hoạt động đặc trưng
của xã hội loài người. Để đánh giá được hiệu quả của quá trình truyền thụ và
tiếp thu tri thức đạt đến đâu thì phải thông qua đánh giá. Chính vì vậy, ngay từ
khi xuất hiện mô hình nhà trường thì các hình thức đánh giá mức độ nhận thức
của học sinh cũng ra đời.Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia có
khác nhau nhưng cũng đều đưa ra quy định chuẩn phù hợp cho việc đánh giá
theo yêu cầu của xã hội hiện tại.
Ở các nước Châu Âu, đã từ lâu việc đánh giá tri thức của học sinh được
quy định dưới dạng các kỳ thi hoặc kiểm tra với các mức độ hình thức khác
nhau. Các hình thức thi khá phong phú và đa dạng được tiến hành bằng mạn
đàm, nói chuyện, tranh luận, trao đổi, hay trình bày những hiểu biết về thế giới
và các vấn đề triết học, tôn giáo, luân lí và đạo đức nhằm phát hiện và tuyển
lựa nhân tài cho đất nước. Sau này, khoa học phát triển các ngành có ranh giới
rõ rệt và nhu cầu của xã hội cũng đến lúc cần những ngành khoa học theo
những lĩnh vực chuyên biệt, giáo dục sẽ phát triển đi theo hướng đó. Cho đến
đầu thế kỷ XVI, ông tổ của nền sư phạm cận đại J.A Comenxki ( 1592 - 1670)
11


- nhà giáo dục người Sec Slovakia, đã đưa ra nhiều mô hình nhà trường và
được nhiều quốc gia áp dụng. Đó là nhà trường phân theo cấp học, bậc học ở
những lứa tuổi nhất định; các môn học ở trong nhà trường cũng được quy định
chặt chẽ có chương trình, có nội dung cụ thể thống nhất. Thời gian đào tạo
cũng được ấn định, đương nhiên, cách đánh giá cũng được quy định rõ ràng.
Trong giai đoạn từ năm 1950 đến đầu năm 1970, xuất phát từ những yêu
cầu của ngành giáo dục, nâng cao chất lượng học sinh trên cơ sở nâng cao tính

như một công cụ để cải tiến cả quy trình dạy và học. Các công trình nghiên
cứu chuyên biệt về đánh giá tri thức, kỹ năng kỹ xảo của học sinh đã tăng
nhanh so với trước kia.
Về mặt nội dung và chất lượng nghiên cứu, các tác giả đã hướng việc
nghiên cứu của mình vào việc giải quyết ngày càng có hiệu quả các vấn đề
trong hệ thống đánh giá kết quả học tập học sinh. Mỗi công trình đều có những
điểm mạnh, điểm yếu và những mục đích đánh giá riêng. Nhưng điểm chung
nhất của các nghiên cứu là cùng tập trung nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng
của đánh giá kết quả học tập của học sinh để đánh giá và nâng cao chất lượng
giáo dục đáp ứng nhu cầu của xã hội.
1.1.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, đánh giá kết quả học tập của học sinh (hình thức thi, kiểm tra
văn hóa) đã có từ thời Lí thế kỷ XI - XII thông quá các cuộc thi như: Thi Hương
để chọn Tú tài, thi Đình để chọn Trạng nguyên,... Mục đích qua các cuộc thi để
tìm ra người tài giỏi làm quan giúp nước. Khoa thi Nho học đầu tiên của nước ta
vào thời Lí Nhân Tông (1075). Các kỳ thi thường được tổ chức tại các tỉnh, các
vùng và toàn quốc, đồng thời còn có các cuộc kiểm tra thường xuyên như bình
văn, thi đấu.
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nền giáo dục Việt Nam mang nặng
tính chất nền giáo dục nô dịch thuộc địa kiểu Pháp (số ít); còn với đại đa số thì
chúng thực hiện chính sách ngu dân để dễ cai trị.Trong thời kỳ này, các kỳ thi
tuyển được tổ chức rất nghiêm túc được đảm bảo bằng pháp luật. Trung tâm
khảo thí là một đơn vị độc lập với Bộ GD&ĐT. Công tác đánh giá chất lượng
giáo dục luôn gắn liền với mục tiêu đào tạo của thực dân phong kiến.
Từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay, cùng với hoàn cảnh của
đất nước, nền giáo dục Việt Nam đã trải qua ba lần cải cách với mỗi lần mục
13


tiêu được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới của đất nước. Hoạt động

14


- Lê Đức Ngọc với công trình: Đo lường và đánh giá thành quả học tập
và Nâng cao năng lực xây dựng cấu trúc đề thi và biểu điểm trong đào tạo
giáo viên THCS [22].
Hầu hết các công trình này đều có hai phần nội dung chính là đề cập tới
cơ sở lí luận của hoạt động giảng dạy nói chung, hệ thống lí luận về hoạt động
đánh giá, các khái niệm công cụ và quan trọng là xây dựng cơ sở lí luận của
các phương pháp, nội dung, hình thức đánh giá, các kĩ thuật xây dựng công cụ
đo và đánh giá.
Cùng hướng nghiên cứu với đề tài còn có một số công trình nghiên cứu
khoa học Luận văn Thạc sĩ QLGD như:
- Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý của hiệu trưởng đối với công tác
kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh và trường THPT thành phố Hải
Phòng của tác giả Đào Thế Lữ ( 2003), Đại học Sư phạm Hà Nội.
- “ Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
trường THCS quận Kiến An thành phố Hải Phòng” của tác giả Trần Thị Tuyết
(2014), Đại học Sư phạm Hà Nội.
Các công trình này đã xây dựng được hệ thống lí luận đánh giá; có công
trình thiên về đánh giá quá trình dạy học, đánh giá chương trình, có công trình
thiên về đánh giá kết quả học tập của người học, và ở công trình nào tác giả
cũng đánh giá được thực trạng của hoạt động đánh giá làm sơ sở để xây dựng
được các biện pháp quản lý đánh giá của chủ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động đánh giá nói riêng và nâng cao chất lượng học tập, đào tạo nói chung.
Để nâng cao chất lượng quá trình dạy học tại trường THCS Ngô Quyền,
quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, đã có một số đề tài nghiên cứu về các
lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do sự thay đổi về
phương pháp giảng dạy, sự thay đổi trong đội ngũ giáo viên nên chất lượng
giảng dạy và học tập của nhà trường chưa thực sự xứng tầm. Do vậy, đề tài:

cũng có chung một tổ chức” [15, tr 12,13].
Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Quản lý là một quá trình
định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý có hệ thống là quá trình tác động
đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này
được đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong
muốn” [20, tr 255].
Tác giả Trần Khánh Đức khẳng định "Quản lý là hoạt động có ý thức
của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người, hay một cộng

17


đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất" [8,
tr.328].
Thuật ngữ “Quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) lột tả được bản chất của hoạt
động này trong thực tiễn, bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá trình “
Quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”, quá trình “Lý” gồm
sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “phát triển”. Nếu người đứng
đầu trong một tổ chức chỉ lấy việc “Quản” làm chính thì tổ chức dễ bị trì trệ,
ngược lại nếu chỉ quan tâm đến “Lý” thì sự phát triển của tổ chức không bền
vững. Do vậy, người quản lý phải luôn xác định và phối hợp tốt, sao cho trong
“Quản” phải có “Lý” và trong “Lý” luôn phải có “Quản”, làm cho trạng thái
của hệ thống mình quản lý luôn luôn ở trạng thái cân bằng động [2].
Như vậy, từ cách tiếp cận trên ta thấy khái niệm quản lý bao hàm một số
ý nghĩa chung:
- Quản lý là quá trình hoạt động lao động có mục đích để điều khiển lao
động.
- Có sự tương tác giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
- Liên quan tới môi trường xác định.
Từ các dấu hiệu chung đó, có thể khái quát như sau: Quản lý là một quá

trường quá trình tác động có mục đích, có định hướng, có kế hoạch của các
chủ thể quản lý (đứng đầu là hiệu trưởng nhà trường) đến các đối tượng quản
lý (giáo viên, cán bộ nhận viên, người học, các bên liên quan...) và huy động,
sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn lực nhằm thực hiện sứ mệnh
của nhà trường đối với hệ thống giáo dục và đào tạo cới cộng đồng và xã hội
nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đã xác định trong một môi trường luôn luôn
biến động” [13, tr 31,32].
Tóm lại, Quản lí nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kế
hoạch, hợp quy luật khách quan của chủ thể quản lý nhằm làm cho nhà trường
vận hành theo nguyên lí giáo dục đạt được mục tiêu giáo dục đào tạo đề ra.
Quản lý nhà trường chính là những công việc mà người cán bộ quản lý
nhà trường thực hiện chức năng quản lý để thực hiện các nhiệm vụ công tác
của mình. Vì vậy, quản lý nhà trường là quản lý toàn diện. Bao gồm:
- Quản lý đội ngũ nhà giáo.
- Quản lý học sinh.
- Quản lý quá trình dạy học.
- Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học.
20


- Quản lý tài chính trường học.
- Quản lý mối quan hệ giữa con người và cộng đồng.
Tận dụng các nguồn lực đầu tư cũng như các lực lượng xã hội đóng góp,
xây dựng hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường đạt được
mục tiêu, kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường đến một trạng thái mới.
1.2.2. Đánh giá
Thuật ngữ đánh giá (Evaluation) là đưa ra nhận định tổng hợp về các dữ
kiện đo lường được qua các kỳ kiểm tra/lượng giá (Assessement) trong quá
trình và kết thúc bằng cách đối chiếu, so sánh với những tiêu chuẩn đã được
xác định rõ ràng trước đó trong các mục tiêu.

quả công việc giúp quá trình lập kế hoạch, quyết định và hành động có hiệu
quả.
Đánh giá là một hoạt động nhằm nhận định, xác định giá trị thực trạng
về: Mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng, hiệu quả công việc, trình độ, sự
phát triển, những kinh nghiệm được hình thành,... ở thời điểm hiện tại đang xét
so với mục tiêu hay những chuẩn mực đã được xác lập.Trên cơ sở đó, nêu ra
những biện pháp uốn nắn, điều chỉnh và giúp đỡ đối tượng hoàn thành nhiệm
vụ.
Đánh giá là thái độ đối với những hiện tượng xã hội, hành vi của con
người, xác định những giá trị của chúng tương xứng với những nguyên tắc và
chuẩn mực nhất định (khen ngợi hay lên án, đồng tình hay phản đối lên án)
được xác định bằng vị trí xã hội, thế giới quan, trình độ văn hoá. Mặt khác có
tính động cơ, phương tiện và mục đích hành động, điều kiện và vị trí trong cả
hệ thống cách xử sự của cá nhân là điều kiện cần thiết cho việc đánh giá đúng
đắn.Việc đánh giá là việc là có giá trị đối với ý nghĩa cuối cùng dẫn đến sự cải
tiến hoạt động của cá nhân và tập thể.
Như vậy, đánh giá trong giáo dục được hiểu là: “Sự thu thập, chỉnh lí, xử
lí, phân tích một cách toàn diện, khoa học, hệ thống những thông tin về sự
nghiệp giáo dục, để rồi phán đoán giá trị của nó nhằm thúc đẩy công cuộc cải
cách giáo dục, nâng cao trình độ phát triển của giáo dục, đáp ứng ngày càng
cao của cộng đồng xã hội” [5].
Từ những ý kiến trên, có thể thấy đánh giá trong giáo dục là quá trình
thu thập và xử lí kịp thời có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay
22


nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu dạy
học, mục tiêu đào tạo làm cơ sở cho chủ trương, biện pháp và hành động giáo
dục tiếp theo.
Như vậy, đánh giá trong giáo dục là sự xem xét, so sánh độ tương thích

phát triển năng lực tự đánh giá.
Từ góc độ quản lý chung, quản lý hoạt động đánh giá bao gồm 3 mảng
lớn liên quan mật thiết đến nhau, đó là: chính sách về đánh giá, quản lý hoạt
động đánh giá và quản lý nguồn nhân lực đánh giá.
Quản lý hoạt động đánh giá được thực hiện bằng cách hoạt động quản lí
như lập kế hoạch, tổ chức, đánh giá – tự đánh giá, chỉ đạo – tự chỉ đạo. Đối
tượng của những hoạt động này không phải nội dung học vấn, mà là kết quả
học tập và rèn luyện, thời gian, tiến độ học tập, hành vi học tập, nhu cầu và
thái độ học tập, phong cách, cường độ và nhịp độ học tập, các nguồn lực học
tập như học liệu, phương tiện, dụng cụ, thiết bị, môi trường học tập. Hoạt động
đó gồm các khâu:
- Lập kế hoạch đánh giá: môn học nào, tương ứng vào thời điểm nào?
Hình thức đánh giá? Kiến thức cần đạt đối với từng mức độ? Cấu trúc đề kiểm
tra?...
- Tổ chức, chỉ đạo, giám sát: ra đề, coi kiểm tra (thi), chấm bài, lấy
điểm, đánh giá – xếp loại.
- Sử dụng kết quả đánh giá vào việc điều chỉnh phương pháp dạy của
giáo viên và phương pháp học tập của học sinh, cũng như điều chỉnh mục tiêu
dạy học và giáo dục.
Hoạt động đánh giá được diễn ra theo quy trình sau:
- Xác định mục tiêu: Thông thường hiệu phó chuyên môn cùng các
nhóm trưởng chuyên môn căn cứ chuẩn kiến thức kỹ năng của mỗi môn học,
cùng thảo luận để xây dựng mục tiêu của môn học. Ngoài ra, có thể tham khảo
cán bộ quản lý của các đơn vị giáo dục khác. Trên cơ sở mục tiêu của môn học
sẽ yêu cầu giáo viên giảng dạy xây dựng mục tiêu cụ thể của từng môn học và
công bố trong kế hoạch giảng dạy môn học.
- Xây dựng kế hoạch đánh giá: Kế hoạch đánh giá được thực hiện ở các
trường THCS là một bảng biểu bao gồm thời điểm thực hiện, tiết thực hiện,
nội dung kiểm tra đối với mỗi môn học cụ thể.
24

cấp thiết. Để nâng cấp chất lượng giáo dục, bên cạnh việc đổi mới mục tiêu,
cải tiến nội dung, phương pháp, nâng cao chất lượng đánh giá là vô cùng cần
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status