Triết lý nhân sinh của người dân nam bộ trong chuyện kể ba phi - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
--------

LÊ THỊ BÍCH TRANG

TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA NGƢỜI DÂN NAM BỘ
TRONG TRUYỆN KỂ BA PHI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
--------

LÊ THỊ BÍCH TRANG

TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA NGƢỜI DÂN NAM BỘ
TRONG TRUYỆN KỂ BA PHI
Chuyên ngành : Triết học
Mã số

: 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS. TRẦN ĐĂNG SINH




2.1. Giá trị của triết lý nhân sinh của ngƣời dân Nam bộ trong Truyện kể
Ba Phi………………………………………………………………………..61
2.1.1. Truyện kể Ba Phi thể hiện lối sống gần gũi, chan hòa với thiên
nhiên………………………………………………………………………………….61
2.1.2.Truyện kể Ba Phi phản ánh mối quan hệ thân ái đoàn kết giữa con người
với con người………………………………………………………………………..67
2.2. Hạn chế của triết lý nhân sinh của ngƣời dân Nam bộ trong Truyện
kể Ba Phi……………………………………………………………………73
2.2.1. Truyện kể Ba Phi thể hiện tư duy kinh nghiệm của người nông dân Nam
Bộ………………………………………………………………………………………..74
2.2.2.Truyện kể Ba Phi phản ánh lối sống tiểu nông của người nông dân Nam
Bộ……………………………………………………………………………………….75
2.3. Giải pháp phát huy các giá trị triết lý nhân sinh của ngƣời dân Nam
bộ trong Truyện kể Ba Phi…………………………………………………77
2.3.1. Nâng cao nhận thức của người dân Nam bộ về triết lý nhân sinh trong
Truyện kể Ba Phi…………………………………………………………………….78
2.3.2. Đưa triết lý nhân sinh của người dân Nam bộ trong đó có truyện kể Ba
Phi vào trong chương trình các bậc học phổ thông……………………………..80
2.3.3. Đa dạng hóa hình thức để chuyển tải nội dung triết lý nhân sinh trong
truyện kể Ba Phi tới các tầng lớp nhân dân……………………………………….83
Tiểu kết chƣơng 2…………………………………………………………..85
KẾT LUẬN…………………………………………………………………87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ chân tình của

6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1999), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo
dục.
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Giáo trình Triết học Mác - Lênin,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Giáo trình Triết học Mác - Lênin,
Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội.
9. Trương Chính, Phong Châu (1987), Tiếng cười dân gian Việt Nam,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
10. Hà Châu (1999), Truyện kể Ba Phi – Một sản phẩm đặc sắc vùng
ĐBSC, Nxb Mũi Cà Mau.
11. Nguyễn Giao Cư (1998), Truyện nói Trạng, Nxb Đà Nẵng.
12. Nguyễn Giao Cư (2001), Giai thoại truyện Trạng, Nxb Trẻ.
13. Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam,
Nxb Khoa học xã hội.
14. Cao Huy Đính (1964), Người anh hùng làng Dóng, Nxb Khoa học.
15. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt


Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
16. Dương Quảng Hàm (1996), Việt Nam văn học sử yếu, Nxb Hội Nhà
văn.
17. Vũ Tố Hảo, Hà Châu (2012), Tư tưởng tiến bộ - triết lý nhân sinh
thực tiễn của nhân dân và vai trò của vè, truyện kể trong văn học dân
gian, Nxb Thời đại.
18. Nguyễn Hùng Hậu (2004), Triết lý trong văn hóa phương Đông, Nxb
Đại học Sư phạm Hà Nội.
19. Hoàng Ngọc Hiến (2004), “Mấy tương quan đáng chú ý trong triết lý
nhân sinh người Việt”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam (3),
20. Nguyễn Hữu Hiếu (1987), Truyện kể dân gian Nam Bộ, Nxb Thành
phố Hồ Chí Minh.

34. Vưu Nghị Lực (2000), Sắc thái văn hóa Cà Mau. Đề tài luận văn
nghiên cứu cấp tỉnh.
35. Khoa Ngữ văn trường ĐHSP Cần Thơ (1997), Văn học dân gian Đồng
bằng sông Cửu Long, Nxb Giáo dục.
36. M.F.ôp-xi-a-nhi-côp (1987), Mỹ học Mác-Lênin (Bản dịch của Phạm
Văn Bích), Nxb Văn hóa, Hà Nội.
37. C.Mác - Ph.Ăngghen (1980), Tuyển tập, tập 1, Nxb Sự thật Hà Nội.
38. C.Mác - Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc
gia.
39. Bùi Văn Nguyên (1961), Lịch sử văn học Việt Nam, Nxb Giáo dục.
40. Bùi Mạnh Nhị (1985), Tạp chí Văn hoá dân gian, số 2.
41. Bùi Mạnh Nhị (2003), Văn học dân gian những công trình nghiên
cứu, Nxb Giáo dục.
42. Nguyễn Thị Nhung (2006), Tìm hiểu truyện Ba Phi vùng Tây Nam


Cà Mau từ góc độ văn hóa dân gian Nam Bộ. Luận văn thạc sỹ. Hà
Nội.
43. Phạm Xuân Nam (2002), Triết lý phát triển ở Việt Nam mấy vấn đề cốt
yếu, Nxb Khoa học xã hội.
44. Sơn Nam (1970), Văn minh miệt vườn, Nxb An Tiêm Sài Gòn.
45. Sơn Nam (1985), Đồng bằng sông Cửu Long – nét sinh hoạt xưa, Nxb
TP.HCM.
46. Sơn Nam (1992), Cá tính miền Nam, tái bản, Nxb Văn hóa.
47. Sơn Nam (1994), Đình miếu và lễ hội dân gian, tái bản Nxb Đồng Tháp.
48. Sơn Nam (2005), Nói về Miền Nam và thuần phong mỹ tục Việt Nam, tái
bản, Nxb Trẻ.
49. Nhà xuất bản Tiến Bộ và Nhà xuất bản Sự Thật (1975), Từ điển Triết
học, Nxb Tiến Bộ, Liên Xô.
50. Thạch Phương và các cộng sự (1992), Rừng U Minh, Nxb Tổng hợp

thống, Hội thảo vùng đất Nam Bộ thời kỳ cận đại, Nxb Cần Thơ.

66.

Nguyễn Tài Thư (1993), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội.

67.

Ngô Đức Thịnh chủ biên (1990), Quan niệm về Folklore, Nxb Khoa
học xã hội.

68.

Phan Ngọc Thu (1985), Thơ ca dân gian, Nxb Văn hóa thông tin.

69.

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội - khoa Triết (2016), Triết lý nhân sinh
trong văn hóa Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị.

70.

Phan Anh Tuấn (1990), Những câu chuyện lý thú về Bác Ba Phi, Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh.

71.

Phan Anh Tuấn, Bác Ba Phi kể chuyện, Nxb Mũi Cà Mau.



78.

Trần Quốc Vượng (1998), Việt Nam cái nhìn địa văn hóa, Nxb Văn
hóa Thông tin.

79.

Nguyễn Như Ý (1998), Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa – Thông tin,
Hà Nội

80.

Phạm Thu Yến (chủ biên), Lê Trường Phát, Nguyễn Bích Hà (2008),
Giáo trình Văn học dân gian, Nxb Đại học Sư phạm.
TẠP CHÍ (xếp theo thứ tự chữ cái tên tác giả)

1. Nguyễn Bá (2002), Bác Ba Phi – con người và tác phẩm, Cà Mau.
2. Nguyễn Chí Bền (1999), Sự vận động của Truyện Trạng trong không gian
và thời gian, Tạp chí Đông Nam Á số 2.
3. Trần Đức Các (1978), Về việc điều tra văn học dân gian từ một số điểm
đến việc nghiên cứu một thể loại, Tạp chí Văn hóa số 3.
4. Hà Châu (1971), Từ nhân vật cổ tích đến nhân vật truyện cười, Tạp chí
văn học số 5.
5. Hà Châu (1976), Giới thiệu về một nguồn văn học dân gian: Truyện kể
miền Tây Nam, Báo Nhân dân số ra ngày 30 tháng 6 năm 1976.
6. Trần Tấn Công (2002), Vài suy nghĩ về Bác Ba Phi và những câu truyện
kể, Cà Mau.



23. Nguyễn Hải Tùng (2002), Cội nguồn truyện kể Bác Ba Phi, Cà Mau.
24. Hoàng Tiến Tựu (1977), Vấn đề phân vùng và ý nghĩa phương pháp luận
của nó, TCDTH số 6-1977.
25. Nguyễn Quốc Văn (2002), Bác Ba Phi không nói dóc, Cà Mau.
26. Trần Quốc Vượng (2002), Ba Phi – U Minh – Cà Mau và tâm lý ngoa dụ
của con người, Cà Mau.


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Triết lý nhân sinh là một nội dung đặc thù của văn hóa Việt, triết lý đó
thể hiện đậm nét trong Folklore (văn hóa dân gian), mà văn học là một bộ phận
cấu thành.
Văn học dân gian là một loại sáng tác nghệ thuật ngôn từ của nhân dân.
Nhưng bên cạnh đó, văn học dân gian còn có những yếu tố nghệ thuật khác
ngoài ngôn từ. Những yếu tố ấy thuộc loại hình nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật
thời gian và không gian và được tiếp nhận bằng cả thính giác lẫn thị giác. Văn
học dân gian ra đời và tồn tại gắn liền với lịch sử loài người và được nhân dân
sáng tác, lưu truyền chủ yếu bằng phương thức truyền miệng.
Trong kho tàng truyện cười dân gian Việt Nam nói chung, Nam Bộ
nói riêng, Truyện kể Ba Phi đã trở thành một hiện tượng văn hóa đặc sắc, với
những sắc thái biểu hiện cái hài nghệ thuật khá độc đáo. Chính vì vậy, những
Truyện kể Ba Phi - phần lớn do chính Ba Phi kể, một số do người khác dựa
theo lối kể của Ba Phi mà sáng tác nên - đã được lưu truyền sâu rộng khắp
vùng Nam Bộ. Tuy nhiên, cho đến nay Truyện kể Ba Phi vẫn chưa được
nghiên cứu một cách đồng bộ. Đặt truyện Ba Phi vào hệ thống truyện cười
xoay quanh một nhân vật ta thấy rằng: Trạng Quỳnh và Trạng Lợn được tập
trung nghiên cứu nhiều hơn còn truyện Ba Phi và một số truyện Trạng cùng
hệ thống như Ông Ó, Thủ Thiệm… ít được chú ý nghiên cứu một cách qui mô
và dưới cái nhìn Folklore học.

Bích), Nxb Văn hóa, HN, 1987. Phan Anh Tuấn, Những câu chuyện lý thú về
Bác Ba Phi, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1990. Khoa ngữ văn trường ĐHSP
Cần Thơ (1997), Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long. Nxb Giáo dục.


Đề tài luận văn trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc và kế thừa những kết quả
đã nghiên cứu, nghiên cứu triết lý nhân sinh qua những câu truyện kể Ba Phi
để thấy được tính cách của người Nam Bộ với những nét nổi bật như tinh thần
trọng nghĩa khinh tài, tính bộc trực, nếp sống hào phóng và lòng hiếu khách, lạc
quan khẩn hoang mở đất và kiên cường đánh giặc để bảo vệ mảnh đất của
mình, dùng tiếng cười hóm hỉnh, hồn hậu và thoải mái được xây dựng trên cơ
sở mâu thuẫn trong cuộc sống, làm bật lên tiếng cười nhằm mục đích mua vui
giải trí và phê phán thói hư tật xấu trong xã hội đương thời.
Luận văn góp phần một mặt, làm phong phú thêm cho kho tàng văn học
dân gian Việt Nam, làm thay đổi nhận thức và cách nhìn nhận đánh giá về các
giá trị văn hóa truyền thống nói chung, mặt khác, phản ánh một cách khá sinh
động triết lý nhân sinh về thiên nhiên và con người ở địa đầu phương Nam Tổ
quốc, đồng thời làm sáng tỏ cơ bản một luận điểm đó là: Văn học dân gian là
cội nguồn, là bầu sữa mẹ nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc Việt Nam". Vì vậy, qua
truyện kể Ba Phi của văn học dân gian Nam Bộ thể hiện rất rõ ý nghĩa và giá
trị nhân bản, nhân văn sâu sắc. Những gì hướng về và vì sự sống của con
người đều chứa đựng tính nhân sinh.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ những nội dung cơ bản về triết lý nhân
sinh của người dân Nam Bộ trong Truyện kể Ba Phi, luận văn rút ra ý nghĩa
thực tiễn về quan niệm sống của người dân Nam Bộ và đề ra một số giải pháp
cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa đặc trưng truyền
thống của người dân Nam Bộ qua Truyện kể Ba Phi.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu của đề tài là Triết lý nhân sinh của người dân

văn hóa truyền thống của người dân Nam Bộ cần phải được bảo tồn và phát huy


trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt
Nam hiện nay.
9.2. Đóng góp mới của luận văn
- Một là, luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống về triết lý nhân sinh
của người dân Nam Bộ trong Truyện kể Ba Phi.
- Hai là, tiếp cận văn hóa dân gian Nam Bộ trong Truyện kể Ba Phi từ
góc độ triết học, rút ra ý nghĩa thực tiễn về quan niệm sống của người dân Nam
Bộ, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị nhân
sinh của người dân Nam bộ nói riêng và của dân tộc nói chung.
10. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung chính của luận văn được bố cục làm 2 chương và 4 tiết.

NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA NGƢỜI DÂN NAM BỘ TRONG
TRUYỆN KỂ BA PHI – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.Triết lý,Triết lý nhân sinh
Trước tiên để tiếp cận hai khái niệm Triết lý và triết lý nhân sinh chúng ta
cần phân biệt giữa Triết lý và Triết học.


Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ VI trước Công
Nguyên ở Ấn Độ, Trung Hoa và Hy Lạp, Triết học xuất hiện từ hoạt động nhận
thức của con người nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống của họ. Từ "triết học" có
nguồn gốc:

rạch ròi hai khái niệm đó dường như chưa có và vẫn còn nhiều tranh luận về hai
khái niệm này. Liên quan đến vấn đề này, TS. Nguyễn Đình Hòa trong cuốn Từ
điển Việt – Anh có phân biệt triết học là philosophy (the study – nghiên cứu) với
triết lý là philosophy (of a man or religion – của một người hoặc một tôn giáo).
Triết lý còn được dùng như một động từ - to philosophize [25, tr 610].
Làm rõ sự khác biệt và mối quan hệ giữa triết học với triết lý, GS.TS
Phạm Xuân Nam viết “Khác với triết học, triết lý không phải là môn khoa học…
nhưng triết lý có quan hệ khá mật thiết với triết học, bởi từ hệ thống những
nguyên lý, những luận điểm của một triết thuyết nhất định, người ta có thể rút ra
những triết lý về cách ứng xử, phương châm sống và hành động của những cá
nhân và cộng đồng nào đó tin theo”[43, tr.23-24].
Cũng liên quan đến vấn đề này có quan điểm cho rằng: hai từ triết học và
triết lý ở Việt Nam là hai khái niệm khác nhau chứ không phải hai từ đồng nghĩa
[23, tr.23]. Không như triết học, triết lý rất đa dạng, đủ cỡ, đủ mức, nếu triết học
hình thành do nghiên cứu thì triết lý do trải nghiệm trong cuộc sống nhằm ứng
phó tối ưu với một thực tiễn. Tùy góc độ, một thực tiễn có thể sinh nhiều triết lý.


Nếu lý luận triết học khó thay đổi, thì triết lý có thể thay đổi rất nhanh khi thực
tiễn thay đổi.
Do vậy, qua nghiên cứu chúng tôi một lần nữa khẳng định hai từ triết học
và triết lý ở Việt Nam là hai khái niệm khác nhau chứ không phải là hai từ đồng
nghĩa. Và triết lý được thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, có
triết lý nhân sinh, triết lý về vũ trụ, triết lý lịch sử, triết lý kinh tế, triết lý đạo đức,
triết lý pháp luật...
Theo Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, triết lý nhân sinh được hiểu như sau:
Nhân sinh (Nhân: người, Sinh: sống) là cuộc sống của con người. Nhân sinh
quan (Quan: xem xét) là lập trường của một người trong việc nhận xét mọi mặt
của cuộc sống, nhân sinh quan tức là quan niệm về sự sống của con người [30,
tr.1317].

sử dụng chỉ mặc nhiên coi tên gọi về một thể loại nào đó có tính bao quát về một
bộ phận văn học truyền miệng trong dân gian từ đời này sang đời khác, từ thế hệ
này sang thế hệ khác mà thôi.
Đầu thế kỷ XX, bắt đầu xuất hiện những khái niệm liên quan đến văn học
dân gian như: Văn chương bình dân, văn chương đại chúng, văn học đại chúng,
văn chương truyền khẩu, văn chương truyền miệng, văn học truyền miệng, sáng
tác truyền miệng dân gian, sáng tác dân gian, văn nghệ dân gian... Tuy nhiên,
trong ngành nghiên cứu văn học dân gian sau này, các thuật ngữ ấy không có tính
bao quát những đặc trưng quan trọng của văn học dân gian và điều đáng nói ở đây
là những thuật ngữ ấy đã gây ra hiện tượng sử dụng khái niệm không thống nhất,
gây nhiều khó khăn phức tạp trong việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu.
Đầu những năm 50 của thế kỷ XX, trong giới nghiên cứu có những thuật



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status