BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------
CAO THI DIỆU
TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA NGƯỜI MƯỜNG
Ở VIỆT NAM XƯA VÀ NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số
: 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Lê Công Sự
HÀ NỘI – 2017
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến PGS TS. Lê Công
Sự - Người thầy đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá
trình thực hiện luận văn.
Đồng thời em gửi lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm Khoa Triết học, Ban
Giám hiệu nhà trường và các phòng ban Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã
tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện
luận văn.
Cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lệ,
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua để tôi hoàn thành tốt luận văn.
9. Cấu trúc luận văn ...................................................................................... 7
10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn ........................ 7
NỘI DUNG....................................................................................................... 9
Chương 1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ BỐI CẢNH XÃ HỘICỦA
NGƯỜI MƯỜNG VIỆT NAM ..................................................................... 9
1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiênvà bối cảnh xã hội của người
Mường Việt Nam ............................................................................................ 9
1.1.1.Điều kiện tự nhiên, không gian sinh sống người MườngViệt Nam ...... 9
1.1.2.Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội ............................................... 17
1.2.Lịch sử tồn tại và phát triển của người Mường Việt Nam .................. 30
1.2.1.Nền văn hóa Hòa Bình và lịch sử người Mường Việt Nam thời
cổ đại ....................................................................................................... 30
1.2.2. Người Mường trong tiến trình lịch sử Việt Nam hiện đại ........................... 32
Tiểu kết chương 1 .......................................................................................... 36
Chương 2. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TRIẾT LÝ NHÂN
SINH CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở VIỆT NAM ............................................ 37
2.1 Quan niệm về vũ trụ và con người ........................................................ 37
2.1.1.Quan niệm về vũ trụ của người Mường ......................................... 38
2.1.2.Quan niệm về nguồn gốc con người............................................... 48
2.2.Quan niệm về đời sống con người.......................................................... 51
2.2.1.Quan niệm về sự sống và cái chết .................................................. 51
2.2.2.Tín ngưỡng và tôn giáo người Mường ........................................... 72
2.2.3.1. Những giá trịtrong triết lý nhân sinh của người Mường ở Việt Nam.... 82
2.2.3.2.Những hạn chếtrong triết lý nhân sinh của người Mường .......... 89
2.3. Những giải pháp xây dựng nhân sinh quan tiến bộ cho người Mường
Việt Nam hiện nay ......................................................................................... 92
2.3.1. Phát triển kinh tế,nâng cao đời sống vật chất cho người Mường. ....... 92
2.3.2. Nâng cao đời sống tinh thần cho người Mường ........................... 98
thời sự, vừa lâu dài đảm bảo cho quá trình hội nhập nhưng không bị hòa tan.
Tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Đảng ta chủ
trương: “Phải tiếp tục cụ thể bằng hệ thống các chính sách mạnh, tạo điều
1
kiện cần thiết để văn hóa các dân tộc thiểu số phát triển trong đại gia đình các
dân tộc Việt Nam”.
Người Mường là tộc người (Ethnic) trong cộng đồng quốc gia - dân tộc
(Nation) Việt Nam sống ven các thung lũng hai bờ sông Đà (Phú Thọ, Sơn
La, Ba Vì, Hòa Bình), Sông Bôi (Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình), và trung lưu sông
Mã, sông Bưởi (Thạch Thành, Bá Thước, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc tỉnh Thanh
Hóa). Theo kết quả tổng điều tra dân số năm 2009, số dân có khoảng
1.268.963 người. Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu thì đây là một địa
vực, đồng thời là một không gian văn hóa thiêng, có khả năng cấu kết con
người với về kinh tế, văn hóa. Sự phong phú về cảnh quan, môi trường tự
nhiên đã tác động rất lớn đến đời sống của người Mường chính vì vậy đã tạo
nên một đời sống văn hóa khá phong phú biểu hiện ở thế giới quan, nhân sinh
quan, phong cách tư duy, lối sống, sinh hoạt, ứng xử, tình cảm, đạo đức,... của
con người.
Bản thân tác giả luận văn là một người sinh ra và lớn lên ở vùng đất
Mường tỉnh Thanh Hóa. Qua quá trình học tập và tìm hiểu về nền văn hóa của
dân tộc tác giả thấy được những nét đẹp truyền thống bản sắc văn hóa dân tộc
Mường từ đó tác giả nghiên cứu nhằm góp phần vào việc khôi phục, bảo lưu,
kế thừa những giá trị văn hóa của dân tộc mình.Với những lí do trên tôi đã
quyết định chọn vấn đề “Triết lý nhân sinh của người Mường ở Việt Nam"
làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Đã có rất nhiều các tác giả nghiên cứu về văn hóa dân tộc Mường
Trí - Nguyễn Phụng, đã giới thiệu về địa lý tự nhiên nhân văn, truyền thống
đoàn kết đấu tranh của dân tộc Mường, các dân tộc anh em trong tỉnh và
phong trào cách mạng ở tỉnh Hòa Bình từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam
3
lãnh đạo.
Học giả người Pháp Pierre Grossim người đã nhiều năm sống ở Việt
Nam giai đoạn đầu thế kỷ XXvới công trình: “Tỉnh Mường Hòa Bình”, Sở
văn hóa thông tin tỉnh Hòa Bình,(Nxb. Lao động, 1994). Thông qua lăng kính
chủ quan của tác giả đã nghiên cứu khá toàn diện về người Mường ở Hòa
Bình từ địa lý phong cảnh, con người đến lịch sử vùng đất ở Hòa Bình.
Tác giả Ngô Đức Thịnh với tác phẩm“Trang phục cổ truyền các dân
tộc ở Việt Nam”,(Nxb. Văn hóa, 1994), đã tiếp cận trang phục của người
Mường ở Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu bản sắc văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa
dân tộc thiểu số Việt Nam có thể liệt kê một số tác phẩm như : 1) Đỗ Huy Trường Lưu, “Bản sắc dân tộc của văn hóa”, (Nxb.Viện văn hóa, 1990). 2)
Huy Cận, “Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc”, (Nxb. Chính trị Quốc gia
Hà Nội, 1994). 3) Nguyễn Từ Chi, “Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc
người”, (Nxb. Văn hóa dân tộc, Tạp chí văn hóa nghệ thuật, Hà Nội, 2003).
4) Trần Văn Bính (chủ biên).“Văn hóa các dân tộc Tây Bắc – thực trạng và
những vấn đề đặt ra”,(Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004). 5) Phan Hữu
Dật, “Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam”, (Nxb. Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 2004). 6) Nguyễn Thị Huế, “Những xu hướng biến đổi văn hóa
các dân tộc miền núi phía Bắc Việt Nam”, (Nxb. Đại học Quốc Gia, Hà Nội,
2011).
Toàn luận văn dựa trên các văn bản:
(1)Trong cuốn Sử thi thần thoại “Đẻ đất, đẻ nước” do Quách Giao –
Thương Diễm – Bùi Thiện sưu tầm, (Nxb. Văn hóa, 1976), dài 6.000 câu thơ,
đến nay, những giá trị nội dung của sử thi Mường.
Tiếp cận vấn đề dưới góc độ dân tộc học, các tác giả cuốn “Người
Mường và văn hóa cổ người Mường Bi” do Từ Chi - Bùi Văn Sở - Bùi Văn
Nhịn sưu tầm, ( Sở văn hóa thông tin Hà Sơn Bình ấn hành, 1988). Các tác
5
giả đã đề cập tới văn hóa tinh thần sinh hoạt lễ hội, lễ nghi nông nghiệp của
người Mường Bi - Tân Lạc - Hòa Bình.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đều đi sâu vào nghiên cứu
về người Mường dưới nhiều góc độ khác nhau từ lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã
hội, tín ngưỡng đến lịch sử di cư và địa bàn cư trú của người Mường. Các tác
giả, tác phẩm nói trên đã nhìn nhận vấn đề dưới góc nhìn văn hóa học, dân tộc
học, khảo cổ học, xã hội học. Còn tác giả luận văn tiếp cận vấn đề dưới góc
độ triết học. Nói lên quan niệm của người Mường về sự hình thành con người
và đời sống con người như sự sống, cái chết, quan niệm về thế giới bên kia.
Mối quan hệ giữa người - trời - đất.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu bối cảnh kinh tế, xã hội, văn hóa cho sự ra đời
triết lý nhân sinh của người Mường xưa và nay,Luận văn chỉ ra quan niệm
nhân sinh người Mường ở các góc độ như:
- Quan niệm của người Mường về sự hình thành con người.
- Đời sống con người: Sự sống, cái chết, quan niệm về thế giới bên kia.
- Mối quan hệ giữa Người - Trời - Đất.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu của luận văn
4.1. Khách thể nghiên cứu của luận văn
Dân tộc Mường và đời sống văn hóa tinh thần mà trọng tâm là quan
niệm về sự sống và cái chết.
4.2.Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là triết lý nhân sinh trong văn hóa của
một số giải pháp góp phần xây dựng nhân sinh quan tiến bộ cho người Mường
trong giai đoan hiện nay.
10.2. Đóng góp mới của luận văn
- Lý luận: Luận văn góp phần tìm hiểu về triết lý nhân sinh người
Mường ở Việt Nam dưới góc độ Triết học. Luận văn góp phần khái quát và
7
phân tích khái quát một cách hệ thống những nội dung chủ yếu trong triết lý
nhân sinh của người Mường hiện nay. Từ đó nhấn mạnh những giá trị của tư
tưởng triết lý nhân sinh với việc giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.
- Thực tiễn: Kết quả của luận văn có thể dùng làm tư liệu tham khảo
cho sinh viên các ngành khoa học xã hội nhân văn và sinh viên chuyên ngành
triết học, dân tộc học, đồng thời có thể làm tư liệu tham khảo cho những
ngươi quan tâm đến văn hóa trong cộng đồng quốc gia - dân tộc Việt Nam.
8
NỘI DUNG
Chương 1
ĐIỀU KIỆNTỰ NHIÊN VÀ BỐI CẢNH XÃ HỘI
CỦA NGƯỜI MƯỜNG VIỆT NAM
1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiênvà bối cảnh xã hội của người
Mường Việt Nam
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, không gian sinh sống người MườngViệt Nam
Việt Nam có 54 Dân tộc trong đó có dân tộc Mường. Theo số liệu
thống kê năm 2009, dân tộc Mường có tổng số 1.268.963 người, đứng thứ 6
Tây Bắc lãnh thổ Việt Nam, là một quần thể núi đá vôihùng vĩ, địa hình
hiểm trở. Chia thành nhiều vùng, mỗi vùng có những thung lũng lớn nhỏ
do các Mường tự khai phá, quần cư mà thành. Những thung lũng này do
các núi cao, dãy đồi bát úp có ngăn cách, có thông nhau.
Đặc điểm địa hình của người Mường sinh sống cơ bản là vùng trung
du, đồi núi thấp, các đồi núi xen lẫn, tạo nên các thung lũng bồn địa các vùng
đồng bằng nhỏ, hẹp chằng chịt khe lạch và sông suối là yếu tố tự nhiên tác
động rất lớn đến việc định hình các khu dân cư của người Mường. Các khu
dân cư người Mường thường tọa trên những chân đồi thấp, các mái gò đất
thoai thoải, phía sau là núi. Các làng Mường xây dựng cho mình những ngôi
nhà sàn để ở.Các ngôi nhà sàn thường hướng ra phía trước hay xung quanh là
cánh đồng, đất bãi canh tác nông nghiệp, xa hơn là có các con sông, con suối
chảy qua.
Bản Mường thường tọa lạc trên các mái đồi viền quanh, thung lũng như
lòng bồn, lòng chảo vùng trũng nhất ở đây thường có các con sông, con suối
chảy và những phù sa của dòng sông đã bồi đắp hình thành nên các cánh đồng
màu mỡ để người Mường trồng trọt, canh tác. Địa hình này thường không ổn
định, các chân đồi có nơi thoai thoải độ dốc vừa phải song có nơi cũng có độ
dốc cao trên mái đồi xuống đến chân đồi lại khá bằng phẳng, đây là địa hình
10
phổ biến và đặc trưng nhất trong địa bàn cư trú của người Mường.
Ngoài ra các làng, bản người Mường sinh sống trên các gò, bãi độ dốc
vừa phải ở giữa thung lũng. Trong những địa vực làng Mường sinh sống cũng
có nơi tiếp giáp với đồng bằng có địa thế khá bằng phẳng, có những cánh
đồng xen lẫn núi đá vôi. Người Mường không làm nhà, lập làng bản ở gần các
con sông, con suối,mà sống ở một khoảng xa nhất định, rất ít những làng,
bảnMường sinh sống ngay trên các bờ sông, bờ suối. Những ngôi nhà sàn của
người Mường cách các con sông khoảng chừng 200 m. Người Mường chọn
lớn nhất của sông Hồng. Sông bắt nguồn thệ thống sông từ tỉnh Vân Nam,
Trung Quốc chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam rồi nhập với sông Hồng ở
Phú Thọ. Sông Đà dài 910km, ở Trung Quốc sông có tên gọi là Lý Tiên
Giang, do hai nhánh Bả Biên Giang và A Mặc Giang hợp thành. Đoạn ở Việt
Nam dài 527km, điểm đầu là biên giới Việt Nam - Trung Quốc tại huyện
Mường Tè (Lai Châu). Sông chảy qua các tỉnh Tây Bắc Việt Nam như Lai
Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Phú Thọ. Đoạn đầu sông trên lãnh thổ
Việt Nam, sông Đà còn được gọi là Nậm Tè. Điểm cuối là ngã ba Hồng Đà,
huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ. Sông có lưu lượng nước lớn, cung cấp lượng
nước lớn cho sông Hồng và đổ ra cửa biển Ba Lạt.
Sông Mã bắt nguồn từ phía Nam tỉnh Điện Biên chảy theo hướng Tây
Bắc -Đông Nam qua huyện Sông Mã của tỉnh Sơn La, qua lãnh thổ Lào, rồi tới
tỉnh Thanh Hóa. Tại Thanh Hóa sông tiếp tục chảy theo hướng Tây Bắc - Đông
Nam qua các huyện phía Bắc của tỉnh nhưMường Lát, Quan Sơn, Cẩm Thủy...,
hội lưu với sông Chu rồi đổ ra Vịnh Bắc Bộ ở cửa Hới nằm giữa huyệnHoằng
Hóa và thị xã Sầm Sơn cùng với hai cửa phụ là Lạch Trường và cửa Lèn. Hệ
thống sông Mã gồm dòng chính là sông Mã và hai phụ lưu lớn là sông Chu, sông
Bưởi, hệ thống sông này có tổng chiều dài là 881km, nằm trong lãnh thổ Việt
Nam dài 17.520 km. Các phụ lưu lớn của sông Mã là sông Chu, sông Bưởi, sông
Cầu Chày đều hợp lưu với sông Mã trên địa phận Thanh Hóa. Ngoài ra còn có
12
các phụ lưu sông nhỏ như sông Lũng, sông Sơn Trà, sông Nậm Soi,lưu vực của
sông Mã rộng 28.400 km², phần ở Việt Nam rộng 17.600 km², cao trung bình
762 m, độ dốc trung bình 17,%, mật độ sông suối toàn lưu vực 0,66 km/km².
Lưu lượng nước trung bình năm 52,6 m³/s.
Sông Bôi được bắt nguồn từ 2 nhánh chính. Nhánh tả bắt nguồn từ xã
Độc Lập, huyện Kỳ Sơn ở phía Đông thành phố Hòa Bình, gồm rất nhiều
Nhìn chung lưu vực các con sông nói trên rất thuận lợi cho việc phát
triển nông nghiệp, khí hậu ấm áp, nguồn nước phong phú, đất đai màu mỡ và
dễ canh tác đã cho phép những cư dân Mường sinh sống ven các con sông
phát triển nông nghiệp thuận lợi.
Từ thời nguyên thủy người Mường đã phát hiện và lợi dụng những
thuận lợi đó để phát triển sản xuất. Cùng với nông nghiệp, thủ công nghiệp
cũng phát triển mạnh.Chính vì dựa trên những điều kiện đó đã tạo nên cho
người Mường một lối sống văn hóa phong phú.
* Khí hậu
Người Mường tập trung sinh sống ở các vùng núi thuộc phía Tây Bắc
chính vì vậy chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng Tây Bắc. Do địa hình
kết hợp với hoàn lưu khí quyển đã tạo nên khí hậu vùng Tây Bắc đa dạng,
phức tạp. Chính từ đặc điểm khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn
hóa của người dân sinh sống ở đây.
Với vị trí xa nhất về phía Tây lãnh thổ. Tây Bắc là vùng núi cao và cao
nguyên đồ sộ, hiểm trở nhất Việt Nam, theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.
Tiếp giáp với miền Vân Nam - Trung Quốc ở phía Bắc. Phía Nam giáp Lào
(thuộc Phong Xa Lì và Sầm Nưa) rồi chạy cho đến tận thung lũng sông Cả.
Do có vị trí trên nên vùng Tây Bắc chịu sự tác động hút gió ở rìa phía
Nam của áp thấp khu vực (áp thấp Miễn Điện) đã tạo điều kiện đưa không khí
nóng, ẩm từ Bengan vượt qua dãy núi Việt Lào vào gây Phơn tới vùng này
sớm nhất,do đó mùa hạ ở đây đều sớm hơn các vùng phía Đông.
14
Vai trò của địa hình Tây Bắc có tác động rõ rệt đến khí hậu vùng này.
Trong sự kết hợp với hoàn lưu khí quyển dãy Hoàng Liên Sơn đồ sộ với
những đỉnh cao trên 3000m điển hình là Phan Xi Phăng cao 3143m nằm theo
hướng Tây Bắc - Đông Nam mà hướng gió chính lại là Đông Bắc - Tây Nam,
cách suy nghĩ của người Mường từ cách bố trí xây dựng hướng ngôi nhà sàn
trong sinh hoạt, nhất là trong việc tang ma chôn cất người chết. Các khu đống
mả chôn người chết đều được đặt ở phía Tây có thể là Tây Nam có thể là Tây
Bắc so với vị trí các khu dân cư Mường. Điều này thể hiện rõ quan niệm về
tín ngưỡng coi trọng hướng Đông là hướng mặt trời mọc, là mường sang là
mường của người sống, phía Tây là phía mặt trời lặn.
Đặc điểm khí hậu của vùng Tây Bắc đã ảnh hưởng đến đời sống văn
hóa, phương thức sản suất và canh tác chính vì địa hình có sự khác biệt của
vùng Tây Bắc đã tạo nên bản sắc riêng biệt của văn hóa Mường vùng Tây Bắc
Việt Nam. Trong thực tế các yếu tố mặt trời, thế đất, gió, nước là yếu tố quan
trọng được người Mường cân nhắc kỹ trước khi lập làng, làm nhà. Để sống
hài hòa với thiên nhiên và hạn chế thấp nhất những thiệt hại do thiên nhiên
gây ra,mà hàng năm vào các mùa mưa bão hầu như các làng, bản Mường rất ít
bị gió, lũ cuốn trôi, những trận lũ quét, sạt lở không gây thiệt hại lớn cho
người Mường.
Trong cuộc sống hiện tại với sự biến đổi khí hậu ngày càng diễn ra rõ
rệt, các hiện tượng khí hậu cực đoan ngày càng trở nên khốc liệt hơn, các hiện
tượng như lũ lụt, hạn hán … xảy ra ngày càng nghiêm trọng cho toàn nhân
loại. Điều đó thể hiện được cái nhìn của người Mường từ thủa xa xưa vẫn còn
nguyên giá trị đó là lối sống hài hòa với tự nhiên. Nếu tuân theo tự nhiên con
người sẽ hạn chế được những thiệt hại của thiên tai và khai thác tối đa những
lợi ích từ thiên nhiên. Cùng với điều kiện tự nhiên thì điều kiện kinh tế, văn
hóa, xã hội đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người Mường.
16
1.1.2. Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội
* Hoạt động khai thác tự nhiên: săn bắn và hái lượm.
Hoạt động khai thác tự nhiên của người Mường chủ yếu là săn bắn, hái
Việc săn bắn không chỉ tìm kiếm và cung cấp thức ăn cho gia đình mà
thể hiện tinh thần đoàn kết, chia sẻ trong cộng đồng, giúp con người gắn chặt
với nhau hơn. Săn bắt còn xuất phát từ nhu cầu của việc bảo vệ nương rẫy
khỏi sự phá hại của muông thú cũng như mất mát các con vật nuôi. Công việc
săn bắn còn thể hiện sự tự hào và vai trò của người đàn ông trong gia đình,
chỉ có người đàn ông mới có đặc quyền như vậy, hình thành cho con người
một tính cách muốn làm chủ thiên nhiên và quý trọng nguồn lợi thiên nhiên.
Hái lượm là hoạt động khai thác nguồn lợi tự nhiên do các Mế và con
trẻ đảm nhận. Họ hái tất cả các sản phẩm của núi rừng gồm rau, củ, măng, thu
hái mộc nhĩ, nấm hương, thu lượm trám, hái lượm cây làm thuốc, các loại cây
lấy hạt ăn... Bằng các công cụ thô sơ như lưỡi hái, dao, thậm chí bằng tay.
Mục đích hái lượm là cung cấp thức ăn cho gia đình, vì vậy việc hái lượm trở
thành công việc hàng ngày của người phụ nữ Mường.
Ở mỗi thời kỳ khác nhau việc hái lượm cũng khác nhau. Trước kia
kinh tế đồng bào Mường chủ yếu phụ thuộc vào núi rừng, một phần nữa họ
chưa ý thức được việc phải trồng các loại cây rau, củ, quả... Để phục vụ đời
sống, có nhưng cũng vẫn thiếu chưa đa dạng các loại cây rau, củ, quả vì vậy
rừng vẫn là nguồn cung cấp chính.
Những năm gần đây việc hái lượm của người Mường không còn phát
triển như trước, người Mường ít phụ thuộc vào rừng, hoạt động hái lượm chỉ
còn được duy trì trong lúc rảnh rỗi, lúc giáp hạt. Bởi vì chính sách phát triển
kinh tế mới đã làm cho nền kinh tế của người dân Mường tăng trưởng, dân trí
cao hơn trước. Người Mường đã biết trồng trong vườn nhà mình nhiều loại
cây, rau, củ, quả. Ngày nay người Mường vào rừng hái lượm không chỉ phục
vụ cho gia đình mà những sản phẩm hái lượm còn làm hàng hóa trao đổi với
18
miền xuôi. Việc hái lượm thể hiện sự cần cù, tảo tần chăm lo từng bữa ăn cho
đã biết dựa vào tự nhiên, khai thác tự nhiên để có đất canh tác, tận dụng
những khu đất có bề mặt tương đối bằng phẳng trong thung lũng và ở khắp
mọi nơi để làm ruộng, nên mặc dù không có những cánh đồng rộng lớn như
người Kinh ở đồng bằng Sông Hồng, người Mường cũng không thiếu đất
canh tác. Nhưng do phụ thuộc vào thiên nhiên nên năng suất rất thấp, chỉ có
nương mới phát gieo trồng gặp thời tiết thuận tiện thì năng suất mới cao.
Những năm hạn hán kéo dài, năng suất kém, nhiều khi có làm mà không có
ăn. Nguồn lương thực đem lại từ canh tác nương rẫy không đảm bảo nhu cầu
cuộc sống.
Phương thức sản xuất và sinh sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, lấy
nông nghiệp làm cốt lõi sinh tồn đã trở thành tập quán sinh sống và tình cảm
ngấm sâu trong tiềm thức của người dân Mường. Ở đây, nông nghiệp vừa là
điều kiện sinh tồn, nhưng cũng là ước mơ, khát vọng về sự giàu có, sung túc
và thịnh vượng của dân cư Mường. Đất đai, ruộng vườn, lúa gạo hay trâu bò
luôn được coi là thước đo sự giàu có, sung túc, do vậy tư tưởng “dĩ nông vi
bản” đã trở thành ý thức hệ bất di bất dịch, kể cả đối với tầng lớp quan lang
cũng như đối với người nông dân và các tầng lớp dân cư khác.
Canh tác nương rẫy, ở khắp các vùng Mường nương rẫy chiếm diện
tích lớn hơn ruộng nước, nhưng năng suất thấp hơn so với ruộng nước. Nương
rẫy được chọn thường là những khu đất xốp và tốt. Cách thức canh tác chủ
yếu là phát, đốt, chọc tỉa. Công cụ canh tác chủ yếu là dao, rựa, búa, dìu, gậy
vót nhọn đầu hoặc đầu bịt sắt. Người Mường canh tác theo một quy trình bắt
đầu vào mùa khô, trước tiên họ chặt cây, phát cỏ, dọn sạch mặt bằng, mùa
mưa đến cũng là lúc bắt đầu gieo trồng, họ dùng gậy nhọn đầu hoặc bịt đầu
sắt chọc lỗ tra hạt rồi dùng chân lấp đi. Các loại lúa trồng trên nương rẫy năng
suất thấp so với lúa nước, dần dần cây lúa nương được thay thế bằng một số
loại cây khác phù hợp với nương rẫy như ngô, khoai, sắn, đậu, lạc... Những
20