BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TDTT BẮC NINH
-----------------------
PHÙNG XUÂN DŨNG
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG TDTT NGOẠI KHÓA CHO SINH VIÊN TRƯỜNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TDTT HÀ NỘI
Chuyên ngành:
Giáo dục thể chất
Mã số:
62140103
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
BẮC NINH – 2017
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh
Cán bộ hướng dẫn khoa học:
Hướng dẫn 1: GS. TS Nguyễn Xuân Sinh
Hướng dẫn 2: PGS. TS Phạm Xuân Thành
Phản biện 1: GS. TS. Lưu Quang Hiệp
- Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh
có các giải pháp đảm bảo tính khoa học và chưa lôi cuốn được nhiều
sinh viên tham gia,.
Về vấn đề này đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Tuy
nhiên, chủ yếu đề cập đến giải pháp nâng cao hoạt đông TDTT ngoại
khóa cho sinh viên không thuộc chuyên ngành GDTC, hoặc học sinh
THPT, đặc biệt dành cho đối tượng sinh viên trường sư phạm TDTT
thì chưa có đề tài nào đề cập tới.
Trên cơ sở phân tích ý nghĩa, tầm quan trọng, tính bức thiết của
vấn đề căn cứ vào các yêu cầu thực tiễn đòi hỏi nêu trên, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt
động Thể dục thể thao ngoại khóa cho sinh viên trường Đại học sư
phạm Thể dục thể thao Hà Nội”.
Mục đích nghiên cứu: Thông qua việc đánh giá thực trạng
công tác thể dục thao ngoại khóa, luận án nghiên cứu lựa chọn các
giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TDTT ngoại khóa một cách
phù hợp, nhằm đẩy mạnh phong trào hoạt động tập luyện TDTT NK
cho sinh viên trường ĐHSP TDTT Hà Nội, từ đó nâng cao thể lực và
kết quả học tập cho đối tượng nghiên cứu.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Với mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài luận án xác định giải
quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
2
Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng hoạt động Thể dục thể thao
ngoại khóa của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao
Hà Nội.
Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu Lựa chọn và xây dựng giải pháp
nâng cao hiệu quả hoạt động Thể dục thể thao ngoại khóa cho sinh
viên trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Hà Nội.
lực, nâng cao kết quả học tập các môn thực hành và kết quả thi đẳng
3
cấp cho sinh viên trong nhà trường. Kết quả trên là những đóng góp
mới có giá trị về mặt khoa học, xã hội nói chung và nâng cao chất
lượng đào tạo của Trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội nói riêng.
3. Cấu trúc của luận án:
Luận án được trình bày trong 160 trang bao gồm phần: Đặt
vấn đề (5 trang); Các nội dung chính của luận án: Chương 1: Tổng
quan vấn đề nghiên cứu (45 trang), Chương 2: Đối tượng, phương
pháp và tổ chức nghiên cứu (12trang), Chương 3: Kết quả nghiên
cứu và bàn luận(96 trang); Phần kết luận và kiến nghị (2 trang).
Trong luận án có 53 bảng, 7biểu đồ. Ngoài ra, luận án đã sử dụng
92 tài liệu tham khảo trong đó có 84 tài liệu viết bằng tiếng Việt, 6
tài liệu tiếng Anh, 2 tài liệu tiếng Nga và phần phụ lục.
B. NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN
CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Luận án tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề như
sau:1.1Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục thể chất trong nhà
trường các cấp; 1.2 Định hướng phát triển giáo dục thể chất trong thời
kỳ đổi mới và những yêu cầu trong công tác đào tạo giáo viên; 1.3
Giáo dục Thể chất trong Giáo dục và Đào tạo; 1.4 Những công trình
nghiên cứu có liên quan
Từ các vấn đề nghiên cứu trên chúng tôi đưa ra một số kết luận sau:
Đảng và Nhà nước rất coi trọng TDTT trường học nhằm phát
triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếu niên, nhi đồng.
GDTC là nội dung bắt buộc đối với học sinh, sinh viên được thực
hiện trong hệ thống quốc dân từ Mầm non đến Đại học. TDTT trường
học bao gồm việc tiến hành chương trình GDTC bắt buộc và tổ chức
pháp kiểm tra sư phạm; Phương pháp thực nghiệm sư phạm; Phương
pháp toán học thống kê.
2.2. Tổ chức nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu:Giải pháp nâng cao hiệu quả
hoạt động TDTT ngoại khóa của sinh viên trường Đại học sư phạm
TDTT Hà Nội.
2.2.2. Khách thể nghiên cứu của đề tài là: Gồm các cán bộ
giáo viên, công nhân viên trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội và
một số trường trên phạm vi toàn quốc. Phỏng vấn 1860 sinh viên của
4 khóa 45, 46, 47, 48 trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội, trong
đó sinh viên nam là (1360) em, sinh viên nữ (500) em.
2.3. Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu về thực
trạng công tác tổ chức tập luyện TDTT ngoại khóa và các giải pháp nâng
cao hiệu quả hoạt động TDTT ngoại khóa cho trường Đại học Sư phạm
Thể dục Thể thao Hà Nội.
2.3.1. Địa điểm nghiên cứu: Trường Đại học TDTT Bắc Ninh
- Trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội.
2.3.2.Kế hoạch nghiên cứu:Đề tài tiến hành nghiên cứu từ
tháng 12 năm 2012 đến tháng 12 năm 2016.
5
CHƯƠNG 3: NỘI DUNG, KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1.Thực trạng hoạt động Thể dục thể thao ngoại khóa của
sinh viên trừơng Đại học sư pham Thể dục thể thao Hà Nội.
3.1.1. Thực trạng về tính chuyên cần tập luyện Thể dục thể
thao ngoại khóa của sinh viên trường Đại học sư phạm Thể dục
thể thao Hà Nội.
Bảng 3.1. Thực trạng tập luyện Thể dục thể thao ngoại
khóa của sinh viên trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội.
cần tập
thường
1457 78.3 1056 77.6 401 80.2
luyện
xuyên
Không tập 106 5.7
70
5.1 36 7.2
Từ kết quả bảng 3.1 cho thấy: Về tổng thể sinh viên: có đến
78.3% tập luyện không thường xuyên và số rất ít sinh viên tập luyện
thường xuyên chiếm tỷ lệ 15.96%. và 5.7% là không tham gia tập
luyện. Ngoài ra về đặc điểm giới tính trong cùng một giới đại đa số
sinh viên đều đang tâp luyện không thường xuyên chiếm tỷ lệ từ
77.6% của nam và 80.2% của nữ, số ít còn lại tập luyện thường
xuyên với 17.2% với nam và 12.6 đối với nữ và số không tham gia
tập luyện là 5.1% đối với nam và 7.2 đối với nữ. Như vậy tính
chuyên cần tập luyện TDTT ngoại khóa của sinh viên trường Đại học
sư phạm TDTT Hà Nội là rất thấp và chưa trở thành thói quen trong
sinh viên trong nhà trường.
3.1.2. Thực trạng hình thức tập luyện Thể dục thể thao
ngoại khóa của sinh viên trường Đại học sư phạm Thể dục thể
thao Hà Nội.
6
Bảng 3.2. Thực trạng hình thức tập luyện TDTT ngoại
khóa của sinh viêntrường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội
Kết quả phỏng vấn
Hình Kết quả
Nhóm,
3
322 17.31
242 17.79 80 16
lớp
106.2 0.05
4 Tự tập 498 26.77
364 26.76 134 26.80
Thể
dục
5
711 38.22
529 38.90 182 36.40
buổi
sáng
Từ kết quả bảng 3.2 cho thấy: Về tổng thể sinh viên hay theo
đặc điểm giới tính thì hiện nay về thực trạng sinh viên đang tập luyện
tản mác ở nhiều hình thức khác nhau, tuy nhiên tập trung chủ yếu vào
03 hình thức đó là Tự tập, nhóm lớp và thể dục sáng, sự khác biệt về
sự lựa chọn giữa các hình thức này có ý nghĩa thống kê, với chỉ số
2
( t2ính > bàng với P< 0.001).
3.1.3.Thực trạng tổ chức tập luyện TDTT ngoại khóa của
sinh viên trường Đại học sư phạm Thể dục thể thao Hà Nội.
3.1.3.1. Thực trạng về hình thức tổ chức tập luyện TDTT ngoại
khóa của sinh viên trường Đại học sư phạm Thể dục thể thao Hà Nội.
Thực trạng về tổ chức tập luyện ngoại khóa của sinh viên
trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội, theo phỏng vấn tổng thể và
theo đặc điểm giới tính nam, nữ. được trình bày tại bảng 3.3 và 3.4
274
14.72
1564
84.1
So sánh
2
P
2207.2
< 0.001
Bảng 3.4. Thực trạng công tác tổ chức tập luyện Thể dục thể thao
ngoại khóa của sinh viên theo đặc điểm giới tính
Tổ chức tập luyện
Ý kiến trả lời theo giới tính
So sánh
TDTT ngoại khóa
nam(1360)
nữ(500)
P
n
%
n
83.97
422
84.4
So
sánh
2
P
1607.4
599.82
0,05
7
3.1.3.2. Thực trạng về thời lượng tập luyện thể dục thể thao
ngoại khóa của sinh viên.
Theo tổng thể: từ bảng 3.5 cho thấy, đại đa số sinh viên tập
luyện từ 30-45 phút, chiếm tỷ lệ 61.45%, còn số tập luyện từ 45-90
phút thì ít hơn, chiếm tỷ lệ 38.55%.
Theo đặc điểm giới tính: Từ bảng 3.5 cho thấy, ở cùng một
giới ở cả nam và nữ đều có hơn phân nửa tập luyện với thời gian
30 - 45 phút (chiếm gần 58.5% đối với nam và 70% đối với nữ),
số còn lại tập luyện 45-90 phút chiếm tỷ lệ 41.7% đối với nam và
8
Qua bảng 3.7 đến bảng 3.9, cho thấy: Mặc dù, được ban giám
hiệu nhà trường quan tâm đầu tư, nhưng thực trạng cơ sở vật chất
phục vụ cho hoạt động TDTT của nhà trường nói chung và phục vụ
cho phong trào TDTT ngoại khóa nói riêng giá hiện nay là thiếu cả
về số lượng và chất lượng so với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy
và học cũng như tập luyện TDTT ngoại khóa của Nhà trường.
3.1.5.2. Thực trạng đội ngũ giáo viên của trường Đại học sư
phạm Thể dục thể thao Hà Nội
Từ kết quả bảng 3.10 cho thấy, về trình độ chuyên môn của đội
ngũ giáo viên hầu hết đều đã tốt nghiệp thạc sĩ và đại học chiếm tỷ lệ từ
59.2% và 30.6%, đặc biệt có đến 9.2% là tiến sỹ và hầu hết đều có thâm
niên công tác trên 10 năm, chiếm tỷ lệ 46%. Về độ tuổi, cho thấy, hiện
nay có xu thế trẻ hóa, dưới 50 tuổi là 92.9%, đây là một tiềm năng to lớn
đóng góp vào thực hiện các nhiệm vụ trong nhà trường như giảng dạy và
tổ chức tập luyện ngoại khóa, huấn luyện đội tuyển. Tuy nhiên từ kết
quả bảng 3.11 cho thấy, về thực trạng giáo viên tham gia tổ chức hướng
dẫn sinh viên tập luyện TDTT ngoại khóa, lại chưa được cán bộ giáo
viên nhà trường quan tâm, trong đó chỉ có 17 người tham gia, với thâm
liên công tác ít, đa số là đội ngũ giáo viên trẻ dưới 30 tuổi, mới giữ lại
trường, hoặc đang thử việc. Mặt khác, về trình độ đa số là tốt nghiệp đại
học, việc đội ngũ này năng động nhiệt huyết, nhưng lại thiếu về kinh
nghiệm và chuyên môn chưa cao.
3.1.5.3. Thực trạng nhận thức của sinh viên về vai trò của tập
luyện Thể dục thể thao ngoại khóa.
Từ bảng 3.12 và 3.13 cho thấy, đại đa số sinh viên 92.4% đều
có nhận thức đúng đắn về mặt tích cực của TDTT ngoại khóa. Số ít
sinh viên còn lại nhận thức tiêu cực về vai trò của TDTT ngoại khóa
chiếm số 7.6%. Từ kết quả trên cho thấy, khi so sánh giữa nhận thức
1
giáo viên hướng dẫn 30 100 57
95
1672 89.9
tập luyện ngoại khóa
Các nội dung tập luyện 28 93.3 59
2
98
1736 93.3
chưa phù hợp
Hình thức tập luyện
3
chưa đáp ứng được 29 96.7 58
96.7 1755 94.3
nhu cầu của sinh viên
4
Do không có thời gian 3
10
6
10
324
17.4
Do nhận thức chưa 4
5
13.3
7
11.6
215
11.55
đúng đắn
thể thao Hà Nội.
Kết quả được trình bày tại bảng 3.19.cho thấy đề tài đã lựa
chọn được 03 giải pháp có đại đa số cán bộ quản lý, cán bộ giáo viên
và sinh viên đều lựa chọn gồm các giải pháp sau: Giải pháp Đổi mới
nội dung tập luyện TDTT ngoại khóa, Đổi mới hình thức tập luyện
TDTT ngoại khóa và Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cơ
sở vật chất phục vụ công tác TDTT ngoại khóa. Sự lựa chọn các giải
pháp của cán bộ quản lý, cán giáo viên và sinh viên có sự tương đồng
cao hay nói cách khác về sự lựa chọn các giải pháp không có sự khác
biệt rõ rệt với (P>0.05).
3.2.3. Xây dựng nội dung các giải pháp nâng cao hiệu quả
hoạt động Thể dục thể thao ngoại khóa cho sinh viên trường Đại
học sư phạm Thể dục thể thao Hà Nội.
3.2.3.1. Giải pháp: Đổi mới hình thức tập luyện Thể dục thể
thao ngoại khóa.
A. Lựa chọn nội dung giải pháp đổi mới hình thức tập luyện
TDTT ngoại khóa: Qua bảng 3.20, 3.21 và 3.22 cho thấy về nhu cầu
các hình thức tập luyện TDTT ngoại khóa của tổng thể sinh viên, giới
tính và kết quả phỏng vấn cán bộ giáo viên cho thấy, đại đa số giáo
viên, sinh viên có nguyện vọng tập luyện theo hình thức câu lạc bộ và
đội tuyển, đây là hình thức tập luyện thu hút được đông đảo người tập
bởi tính hấp dẫn, tạo được không khí sôi nổi và môi trường giao lưu
lành mạnh, sự gắn bó, chia sẻ giữa các sinh viên. Kết quả nghiên của
luận án cũng tương đồng với nghiên cứu của tác giả Trần Hữu Hùng,
khi nghiên cứu nhu cầu về hình thức tập luyện TDTT ngoại khóa của
học sinh trung học cơ sở khu vực Gia Lai – Kon Tum tập trung ở hai
hình thức đó là hình thức CLB và đội tuyển năng khiếu. Kết quả
nghiên cứu của đề tài cũng tương đồng ý kiến với nghiên cứu của tác
giả Vũ Việt Hùng về nhu cầu hình thức tập luyện ngoại khóa của sinh
viên trường Đại học sư phạm Hà Nội đó là hình thức CLB và đội
chuyên môn khác để phục vụ cho hoạt động TDTT ngoại khoá).
Số lượng buổi tập: Tập 3 buổi/1 tuần, thời gian tập mỗi buổi là 4590 phút (Có giảng viên trực tiếp phụ trách giảng dạy - huấn luyện)
Các đơn vị phối hợp thực hiện:
Phòng HC-TH, Phòng Đào tạo, Phòng Hợp tác Quốc tế, khoa
huấn luyện
Công Đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Các bộ
môn thực hành.
Cách đánh giá kết quả: Luận án đánh giá kết quả thông qua các
tiêu chí về số lượng các câu lạc bộ TDTT ngoại khóa, các đội tuyển trong
nhà trường, thông qua mức độ tập luyện chuyên cần của sinh viên và
thông qua hình thức tổ chức tập có người hướng dẫn một cách chặt chẽ.
3.2.3.2. Giải pháp: Đổi mới nội dung tập luyện Thể dục thể
thao ngoại khóa.
A. Lựa chọn nội dung giải pháp đổi mới nội dung tập luyện Thể
dục thể thao ngoại khóa: Từ kết quả bảng 3.26 và 3.27cho thấy, đại đa số
sinh viên và giáo viên đồng tình lựa chọn nội dung TDTT ngoại khóa đó là
Bơi lội, bóng đá, tenis, bóng chuyền, Điền kinh, khiêu vũ thể thao, cầu lông.
Đây là các môn thể thao đúng theo nhu cầu của xã hội và của lứa trẻ. Những
môn này dễ tập, ít tốn kém và đây cũng là các môn mà sinh viên thường lựa
chọn để thi đẳng cấp trước khi tốt nghiệp ra trường. Đặc biệt, đối với môn
Bơi lội hiện nay chủ trương của Bộ giáo dục và Đào tạo là phổ cập bơi cho
học sinh phổ thông, do đó đối với sinh viên có kỹ năng bơi tốt khi ra trường
12
các em xin việc cũng rất thuận lợi, chính vì thế khi đăng ký chuyên sâu, Bơi
lội cũng là môn có số lượng sinh viên đăng ký đông nhất. Như vậy, việc lựa
chọn các môn thể thao ngoại khóa để đưa vào tập luyện là khâu rất quan
trọng. Muốn thu hút được đông đảo sinh viên tham gia, thì các môn này
phải đáp ứng được nhu cầu, sở thích và phù hợp với điều kiện thực tế của
nhiệm sinh viên.
Cách đánh giá kết quả:Luận án đánh giá về kết quả thông qua
các chỉ số về số lượng các môn thể thao đưa vào tập luyện ngoại khóa và
các môn này có kế hoạch, có chương trình hoạt động cụ thể ngoài ra còn
thông qua số lượng người tham gia tập luyện trong mỗi môn thể thao.
13
3.2.3.3. Giải pháp: Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cơ
sở vật chất phục vụ công tác Thể dục thể thao ngoại khóa.
A. Lựa chọn nội dung giải pháp Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên và cơ sở vật chất phục vụ công tác Thể dục thể thao ngoại khóa.
Từ kết quả thu được tại bảng 3.31và 3.32 cho thấy, đa số số sinh
viên và giáo viên đều lựa chọn lựa chọn nội dung nâng cao chất lượng đối với
giáo viên hương dẫn TDTT ngoại khóa và Cải tạo nâng cấp sân bãi, dụng cụ
tập luyện. Còn hai nội dung còn lại chiếm số ít là Thu kinh phí của sinh viên
để tổ chức hoạt động ngoại khóa và hợp đồng với các HLV các bộ môn ở liên
đoàn về tổ chức tập luyện ngoại khóa. Từ kết quả trên cho thấy tỷ lệ giữa nội
dung nâng cao chất lượng đối với giáo viên hương dẫn TDTT ngoại khóa và
Cải tạo nâng cấp sân bãi, dụng cụ tập luyện với Thu kinh phí của sinh viên để
tổ chức hoạt động ngoại khóa và hợp đồng với các HLV các bộ môn ở liên
đoàn về tổ chức tập luyện ngoại khóa là chênh lệch rất lớn, sự khác biệt này có
2
2
ý nghĩa thống kê với P<0.001( tính = 259 > bảng = 10.827) .
Như vậy từ những kết quả nghiên cứu trên chúng tôi đã xây dựng
được nội dung của giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cơ sở
vật chất phục vụ công tác Thể dục thể thao ngoại khóa gồm có 2 nội dung sau
nâng cao chất lượng đối với giáo viên hướng dẫn TDTT ngoại khóa và Cải
tạo nâng cấp sân bãi, dụng cụ tập luyện TDTT ngoại khóa.
Các đơn vị phối hợp thực hiện:
Công Đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Ban chủ nhiệm
sinh viên. Phòng HC-TH. Phòng Đào tạo, Phòng Quản trị thiết bị, khoa huấn
luyện, các bộ môn thực hành.
Cách đánh giá kết quả: Thông qua việc thực hiện nội dung của các
giải pháp luận án đánh giá về kết quả thông qua các chỉ số về số lượng và chất
lượng giáo viên tham gia hướng dẫn tập luyện TDTT ngoại khóa. Ngoài ra
luận án còn đánh giá về số lượng và chất lượng sân bãi dụng cụ tập luyện
TDTT ngoại khóa.
3.3. Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các giải pháp đã lựa chọn
trong thực tiễn tập luyện Thể dục thể thao ngoại khóa.
3.3.1. Tổ chức ứng dụng các giải pháp:
Sau khi xác định được các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
TDTT ngoại khóa, đề tài tiến hành ứng dụng các giải pháp trong thực tiễn với
mục đích:
Một là, đánh giá về phong trào tập luyện thông qua mức độ tập luyện
chuyên cần của sinh viên.
Hai là, đánh giá sự tác động của tập luyện Thể dục thể thao ngoại khóa
về mặt thể lực
Ba là, đánh giá sự tác động của tập luyện Thể dục thể thao ngoại khóa
về kết quả học tập và kết quả thi đẳng cấp.
3.3.1.1. Hình thức tổ chức tập luyện TDTT ngoại khóa: Từ kết quả
bảng 3.36, cho thấy, khi được lựa chọn theo nhu cầu cả về tổng thể sinh viên
hay theo giới tính thì đa số sinh viên có nguyện vọng được tập luyện TDTT
ngoại khóa dưới sự hướng dẫn, tổ chức chặt chẽ của giáo viên. Điều nay cũng
tương đồng với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Thành và Trần Thị Xoan.
Đây là vấn đề cấp thiết đòi hỏi sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường và các giáo
viên phải dành thời gian, tâm huyết đối với hoạt động TDTT ngoại khóa.
Nhu cầu về số buổi tập trong tuần và thời lượng tập luyện của sinh
viên: Từ kết quả bảng 3.37 và 3.38 cho thấy đối với sinh viên trường ĐHSP
Nâng cao chất lượng đối với giáo viên hướng dẫn Thể dục thể thao
ngoại khóa: Từ kết quả bảng 3.40 cho thấy từ những biện pháp tích cực của
luận án đã thu hút được đội ngũ giảng viên có trình độ có kinh nghiệm tham
gia vào công tác huấn luyện đội tuyển và CLB ngoại khóa từ ban đầu có 17
người tham gia, thì nay đã tăng lên gấp đôi với 34 giảng viên trong đó 100%
giảng viên đều có trình độ thạc sỹ và tiến sỹ tham gia trực tiếp công tác tổ
chức hoạt động TDTT ngoại khóa.
Cải tạo và nâng cấp sân bãi, dụng cụ tập luyện:
Trong năm qua, Đoàn TN đã phối hợp với các hãng thể thao TDTT
như Lý Ninh, adiđat, Công ty thể thao động lực, tài trợ hơn 500 bộ trang phục,
50 bóng đá và bóng chuyền, 100 vợt cầu lông, Ngoài ra đoàn trường còn kêu
gọi các doanh nghiệp đóng trên địa bàn của huyện tài trợ về kinh phí tổ chức
các giải thi đấu như doanh nghiệp mây tre Phú Nghĩa, hội doanh nghiệp trẻ
Hà Nội, CLB tenis công an huyện, … đặc biệt sự tạo điều kiện giúp đỡ của
tập đoàn dầu khí Petro và 3 nhà mạng lớn là Mobiphone, Vietthe và
Vinaphon đã tài trợ cho hoạt động đoàn trường trên 100 triệu/1 năm.
Từ bảng 3.41, cho thấy, ngoài số sân tập mà nhà trường đã có và giao
cho đội tuyển và CLB sử dụng theo lịch tập cụ thể thì chúng tôi sử dụng 8 sân
16
trong KTX và sân giảng đường 4 tầng, sân TT GDQP, sân nhà thi đấu để thiết
kế thêm các sân, 6 sân bóng chuyền, 8 sân cầu lông, sử dụng sảnh nhà thi đấu
thiết kế 2 sân tập khiêu vũ, cải tạo lòng sân điền kinh thành 2 sân bóng đá và
chúng tôi thiết kế thêm 2 sân nhảy cao, 2 sân nhảy xa, 2 sân đẩy tạ. Ngoài ra
còn thiết kế sân bóng ném thành 2 sân Tenis và có khu để tập bổ trợ riêng. Từ
những kết quả trên cho thấy về số lượng sân tập thì đã tăng lên rõ rệt, về chất
lượng sân tập thì cơ bản là đảm bảo cho việc tập luyện, đây sẽ là điều kiện
thuận lợi để nhà trường duy trì và đẩy mạnh phong trào tập luyện ngoại khóa
cho sinh viên và đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của các em.
lệch đáng kể, với các chỉ số t tính đều nhỏ hơn t bảng, không có ý nghĩa thống
kê với P> 0.05.
16
17
C. Kết quả học tập của nhóm Đối chiếu và Thực nghiệm trước
thực nghiệm:
Kết quả về học tập của nữ: Qua bảng 3.45 cho thấy, tỉ lệ sinh
viên xếp loại giỏi, khá, trung bình và yếu của 2 nhóm thực nghiệm và
đối chiếu trước thực nghiệm là tương đương nhau, chứng tỏ kết quả
học tập lý thuyết và thực hành của cả 2 nhóm trước thực nghiệm
đồng đều nhau. Sự khác biệt trên không có ý nghĩa thống kê, với chỉ
số( 2 tính < 2 bảng với P>0.05)
Về điểm học tập của nam: Qua bảng 3.46 cho thấy, tỉ lệ sinh
viên xếp loại giỏi, khá, trung bình và yếu của 2 nhóm thực nghiệm
và đối chiếu trước thực nghiệm là tương đương nhau. Chứng tỏ
kết quả học tập các môn lý thuyết và thực hành của cả 2 nhóm
trước thực nghiệm đồng đều nhau. Mặc dù, về điểm thực hành đạt
loại giỏi so với điểm lý thuyết có cao hơn nhưng vẫn chiếm tỷ lệ
thấp so với điểm khá và trung bình. Hay nói cách khác sự khác
biệt về điểm học các môn lý thuyết và các môn thực hành của
nhóm thực nghiệm và nhóm đối chiếu là không có ý nghĩa thống
kê ( 2 tính < 2 bảng với P>0.05).
Kết quả kiểm tra đẳng cấp:
Đối với nữ: Từ bảng 3.47 kết quả kiểm tra đẳng cấp của nữ
nhóm thực nghiệm và đối chiếu trước thực nghiệm cho thấy, tỷ lệ
sinh viên đạt đẳng cấp 2, 3 và không đạt là tương đương nhau, hay
Đánh giá chuyên cần tập luyện của nam sinh viên
Từ kết quả bảng 3.48, cho thấy khi so sánh về tính chuyên
cần tập luyện của sinh viên nam sau thực nghiệm. Trong nhóm đối
chiếu 38/151 sinh viên chiếm 25.2% tập luyện chuyen cần, còn nhóm
thực nghiệm có 137/150 sinh viên chiếm 91.3%, như vậy về mức độ
chuyên cần tập luyện TDTT ngoại khóa thì nhóm thực nghiệm tốt
hơn nhóm đối chiếu rất nhiều, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê
với P