VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHÙNG QUỐC BAN
PHÒNG NGỪA SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
TRẺ EM TỪ THỰC TIỄN TỈNH VĨNH
PHÚC
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2017
C«ng tr×nh ®-îc hoµn thµnh t¹i:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Ng-êi h-íng dÉn khoa häc: PGS.TS. NGUYỄN THỊ MAI LAN
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm
luận văn thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội vào
hồi..........giờ...........ngày............tháng
.............
năm..............
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
việc học tập của mình.
Vĩnh Phúc là một tỉnh nằm ở phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội.
Trong những năm qua, thực hiện chủ trương chính sách của nhà nước, Vĩnh
Phúc đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều năm liền được đánh
giá là một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh đứng đầu
trong cả nước làm thay đổi diện mạo kinh tế- xã hội của tỉnh, từng bước cải
thiện, đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận dân cư được nâng cao.
Vì vậy, công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em đã được các cấp, các ngành quan
1
tâm hơn, nhiều chính sách trợ giúp trẻ em được triển khai đạt hiệu quả. Các
hoạt động bảo vệ trẻ em bước đầu được triển khai thực hiện ở cả 3 cấp độ:
phòng ngừa; can thiệp giảm thiểu các nguy cơ; hỗ trợ phục hồi, hòa nhập
cho trẻ em bị tổn thương và hoàn cảnh đặc biệt. Tuy nhiên, kết quả thực
hiện các mục tiêu bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em đến nay chưa đạt theo
kết quả mong muốn, trong số 36 chỉ tiêu đặt ra thì có tới 14 chỉ tiêu chưa
đạt, trong đó có tới 5 chỉ tiêu thuộc về Bảo vệ chăm sóc trẻ em, trong đó có
chỉ tiêu về lao động trẻ em. Vẫn còn tình trạng trẻ em phải lao động trong
điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, trẻ em có nguy cơ cao tham gia
lao động sớm do hoàn cảnh gia đình khó khăn…
Thực trạng trên cho thấy công tác phòng ngừa sử dụng lao động trẻ
em nói chung và trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng còn nhiều bất cập.
Tình hình lao động trẻ em vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, nhất là trong
bối cảnh hội nhập kinh tế và những vấn đề xã hội nảy sinh như hiện nay.
Khi mà gần đây rất nhiều vụ việc lao động trẻ em bị ngược đãi, bạo hành,
lạm dụng... bị phát hiện và xử lí, mà phát hiện đầu tiên lại là cơ quan báo
chí, mạng xã hội và lên tiếng của người dân. Những vụ việc đó có thể chỉ là
con số nhỏ trong tảng băng chìm mà lao động trẻ em đang phải đối mặt.
em dưới góc độ công tác xã hội để đưa ra được các giải pháp đồng bộ,
thống nhất nhằm ngăn ngừa, giải quyết tình trạng lao động trẻ em từ các
khâu phòng ngừa, phát hiện, can thiệp sớm nhằm chủ động phòng ngừa sử
dụng lao động trẻ em trong hoạt động công tác xã hội, đặc biệt là trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
3. Mục đích và nhiệm vụ
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng công tác xã
hội về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em, đề xuất một số biện pháp nhằm
nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ
em trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
3.2. Nhiệm vụ
Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu công tác xã hội về phòng ngừa
sử dụng lao động trẻ em;
Phân tích thực trạng nhiệm vụ công tác xã hội trong phòng ngừa lao
động trẻ em tại tỉnh Vĩnh Phúc;
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xã hội
đối với phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Công tác xã hội về phòng ngừa sử dụng
lao động trẻ em.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Có rất nhiều khía cạnh có thể nghiên cứu phòng ngừa sử dụng lao
động trẻ em. Tuy nhiên, trong nội dung luận văn này chúng tôi sẽ nghiên
cứu sâu lý luận và thực tiễn về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em từ góc
độ khoa học công tác xã hội. Trong đó, sẽ đi sâu vào việc xây dựng khung
lý thuyết nghiên cứu công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao động
3
có thể bổ sung thêm một số vấn đề lí luận về công tác xã hội đối với phòng
ngừa sử dụng lao động trẻ em vào những vấn đề lí luận của chung của công
tác xã hội với trẻ em.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã phân tích và chỉ ra được thực trạng lao động trẻ em
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, thực trạng công tác xã hội đối với phòng ngừa
lao động trẻ em. Kết quả nghiên cứu của luận văn là bằng chứng khoa học
quan trọng cho các cơ quan hữu quan trong việc áp dụng nhiều biện pháp
trong thực hành công tác xã hội nhằm thực hiện có hiệu quả việc phòng
4
ngừa sử dụng lao động trẻ em; đồng thời khắc phục những tồn tại, hạn chế
hiện tại để đáp ứng yêu cầu về phòng ngừa từ xa cho mọi đối tượng trẻ em.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1. Cơ sở lý luận về công tác xã hội đối với phòng ngừa sử
dụng lao động trẻ em.
- Chương 2. Thực trạng công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng
lao động trẻ em tỉnh Vĩnh Phúc.
- Chương 3. Biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với
phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em tại tỉnh Vĩnh Phúc.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
PHÒNG NGỪA SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRẺ EM
1.1.Sử dụng lao động trẻ em
1.1.1.Lao động trẻ em
1.1.1.1.Khái niệm trẻ em
trẻ em. Mặc dù hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất nào về lao động
trẻ em, nhưng hầu hết các cách tiếp cận đều thống nhất rằng các tiêu chí
chính để phân biệt giữa LĐTE và trẻ em tham gia lao động chính là tính
chất công việc dẫn đến việc ảnh hưởng tiêu cực đối với sự phát triển của trẻ,
như: thời gian làm việc của trẻ, độ tuổi và điều kiện làm việc có nặng nhọc,
độc hại, nguy hiểm hay không.
1.1.1.4. Nguyên nhân dẫn đến lao động trẻ em
1.1.1.5. Hậu quả của lao động trẻ em
- Tác động tiêu cực của lao động trẻ em đến quốc gia.
- Tác động tiêu cực đối với gia đình và xã hội.
- Tác động tiêu cực của lao động trẻ em đến bản thân trẻ em.
Ngoài ra, trẻ em còn có thể gặp phải những rủi ro khi tham gia lao
động:
- Thể lực, sức khỏe kém, mắc bệnh nghề nghiệp.
- Bỏ học và nguy cơ bỏ học cao, học vấn thấp, tay nghề thấp, vậy là
lại luẩn quẩn trong vòng nghèo đói.
- Bị kỳ thị, coi thường.
- Nguy cơ cao bị ngược đãi, bạo lực, xâm hại tình dục, bóc lột sức
lao động.
- Nguy cơ cao mắc tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật.
1.1.2. Sử dụng lao động trẻ em
1.1.2.1. Khái niệm sử dụng lao động trẻ em
“Sử dụng lao động trẻ em là thuật ngữ chỉ tình trạng trẻ em (những
người dưới 16 tuổi) phải trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia làm những công
việc nặng nhọc, độc hại hay nguy hiểm, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển về
6
thể lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ; hoặc phải làm việc quá
diện.
Phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em là nội dung của chính sách
bảo vệ chăm sóc trẻ em, trong cả lý luận và thực tiễn vận dụng có mối quan
hệ tương hỗ nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu tình trạng lao động trẻ em, tiến
tới xóa bỏ lao động trẻ em [4] .
1.2.3. Nội dung phòng ngừa lao động trẻ em
7
1.2.3.1. Sự cần thiết quản lý nhà nước về phòng ngừa sử dụng lao
động trẻ em
1.2.3.2. Nguyên tắc quản lý nhà nước về phòng ngừa sử dụng lao
động trẻ em
Các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước bao gồm:
1- Nguyên tắc Ðảng lãnh đạo đối với hành chính nhà nước;
2- Nguyên tắc nhân dân làm chủ trong quản lý hành chính nhà
nước;
3- Nguyên tắc tập trung dân chủ;
4- Nguyên tắc kết hợp giữa quản lý ngành với quản lý lãnh thổ;
5- Nguyên tắc phân định giữa quản lý nhà nước về kinh tế và quản
lý kinh doanh của doanh nghiệp;
6- Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa;
7- Nguyên tắc công khai, minh bạch;
Trên cơ sở 7 nguyên tắc cơ bản quản lý hành chính nhà nước áp
dụng trong lĩnh vực Bảo vệ chăm sóc trẻ em nói chung và công tác phòng
ngừa sử dụng lao động trẻ em nói riêng. Các nguyên tắc quản lý nhà nước
về phòng chống sử dụng lao động trẻ em có thể hiểu như sau:
- Không phân biệt đối xử với trẻ em.
- Tôn trọng và đảm bảo thực hiện các quyền của trẻ em.
đồng
Đây là một nhiệm vụ phải được thực hiện khá thường xuyên trong
tiến trình thực hành CTXH. Trong tiến trình CTXH với thân chủ, với vai trò
là người cung cấp những kiến thức những thông tin liên quan đến trẻ lao
động sớm như thông tin về thực trạng, thông tin về nguyên nhân và những
hệ quả xấu của vấn đề lao động sớm là như thế nào? Cách giải quyết vấn đề
ra sao? Hay giúp thân chủ và gia đình thân chủ hiểu được lợi ích của tiến
trình CTXH là như thế nào? Để có thể thực hiện được vai trò tư vấn trong
đề tài này trên cơ sở đã có những kiến thức về tham vấn tư vấn tâm lý và
các kỹ năng CTXH như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng truyền thông, kỹ năng
phản hồi…
1.3.3.2. Truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức về phòng ngừa
sử dụng lao động trẻ em
Tăng cường công tác giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng thông
qua nhiều họat động truyền thông: tờ rơi, sổ tay tuyên truyền, báo đài, tuyên
truyền có trọng tâm trọng điểm quan tâm nhiều đến khu vực nông thôn
thông tin về lao động và việc làm, các thông tin về lạm dụng sức lao động
trẻ em.
Tạo dư luận xã hội phê phán những hành vi thiếu trách nhiệm đối
với trẻ em, tích cực giải quyết những vấn đề xã hội tiêu cực đối với trẻ em.
1.3.3.3. Vận động, kết nối, giới thiệu nguồn lực dịch vụ trợ giúp
phòng ngừa lao động trẻ em
Nhiệm vụ này hết sức quan trọng và cần thiết, việc huy động kết
nối các nguồn lực trong cộng đồng để giải quyết vấn đề của thân chủ. Trong
tiến trình CTXH với trẻ lao động sớm đặt biệt là trong các bước lập kế
hoạch trị liệu và trị liệu; phải thường xuyên chú trọng nhiệm vụ này để trợ
9
+ Đặc điểm xã hội, dân cư
- Các đơn vị hành chính
- Dân số và nguồn nhân lực
10
- Phát triển kinh tế xã hội
- Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020
2.1.2.2. Thực trạng lao động trẻ em trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
+ Tình hình lao động trẻ em trên địa bàn tỉnh:
Kết quả điều tra cho thấy như sau:
- Tình trạng đi học
Bảng 2.1. Tình trạng đi học của lao động trẻ em
Tình trạng đi học
Tổng số
Giới tính
Nam
Nữ
Đang đi học
79
41
38
Thôi học, bỏ học
21
7
14
2.2.1.1. Thực trạng xây dựng và thực hiện các văn bản quản lý nhà
nước về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em
2.2.1.2. Thực trạng bộ máy quản lý nhà nước về phòng ngừa sử
dụng lao động trẻ em
2.2.1.3. Thực trạng đội ngũ công chức làm nhiệm vụ bảo vệ trẻ em
và phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em
Những năm trước đây (trước trước khi giải thể Ủy ban Dân số, gia
đình và Trẻ em, năm 2008), đội ngũ cán bộ làm công tác Bảo vệ chăm sóc
trẻ em là lực lượng rất đông đảo từ cấp trung ương tới cơ sở. Đội ngũ cán
bộ làm công tác này ở cấp tỉnh, huyện cho đến cấp xã đều là cán bộ chuyên
trách, ngoài ra còn là sự tham gia hùng hậu của đội ngũ cộng tác viên nhiệt
tình, năng động xuống tận các thôn, xóm tạo thành một mạng lưới rộng
khắp. Hơn thế, đội ngũ cộng tác viên này còn được trả lương từ ngân sách
trung ương hàng năm, với mức 50.000đ/tháng.
Từ năm 2008 đến nay, đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp tỉnh đã tăng
lên về số lượng và chất lượng với 19 người, cán bộ cấp huyện xã lần lượt là
18 người/9 huyện, thành phố, thị xã; 137 người/137 xã, phường, thị trấn.
Đội ngũ cộng tác viên công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em mới được triển khai
ở một số xã trong tỉnh theo mô hình dự án, theo năm hoặc theo giai đoạn và
đang trong quá trình xây dựng và dần hình thành.
2.2.1.4. Thực trạng cơ sở vật chất và nguồn lực và phòng ngừa sử
dụng lao động trẻ em
2.2.1.5. Thực trạng thanh tra, kiểm tra, giám sát phòng ngừa sử
dụng lao động trẻ em
2.3. Thực trạng công tác xã hội đối với phòng ngừa sử dụng lao
động trẻ em tại Vĩnh Phúc
2.3.1. Thực trạng tham vấn/ tư vấn cho trẻ em và gia đình có trẻ
em tại cộng đồng về phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em
Kết quả nghiên cứu về vấn đề này được tổng hợp tại bảng số liệu
dưới đây.
Phân tích số liệu bảng trên cho phép ta rút ra được một số nhận xét
khái quát sau đây: Đa số khách thể được nghiên cứu đều đánh giá mức độ
thực hiện nội dung nhiệm vụ truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức về
phòng ngừa sử dụng lao động trẻ em ở mức độ “Tốt”.
2.3.3. Thực trạng vận động, kết nối, giới thiệu nguồn lực dịch vụ
trợ giúp phòng ngừa lao động trẻ em
Kết quả nghiên cứu về vấn đề này được tổng hợp tại bảng số liệu
dưới đây.
Phân tích số liệu bảng trên cho phép ta rút ra được một số nhận xét
khái quát sau đây: Đa số khách thể được nghiên cứu đều đánh giá mức độ
thực hiện nội dung nhiệm vụ “Vận động, kết nối, giới thiệu nguồn lực dịch
vụ trợ giúp phòng ngừa lao động trẻ em” ở mức độ “Tốt”.
2.3.4. Thực trạng biện hộ, bảo vệ chính sách trợ giúp phòng ngừa
sử dụng lao động trẻ em
Kết quả nghiên cứu về vấn đề này được tổng hợp tại bảng số liệu
dưới đây.
13
Chương 3
CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA SỬ DỤNG
LAO ĐỘNG TRẺ EM TỈNH VĨNH PHÚC
3.1. Dự báo các yếu tố vận động lao động trẻ em
3.1.1. Cơ hội trong đảm bảo thực hiện quyền trẻ em
Chính sách hội nhập để phát triển của đất nước và xu hướng hợp
tác quốc tế về các vấn đề kinh tế- xã hội, đặc biệt là hợp tác quốc tế giải
quyết các vấn đề xã hội.
- Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục chuyển đổi, hướng đến nền kinh tế
- Hoạt động chiến lược dựa trên cơ sở đánh giá tình hình để xác
định chiến lược phù hợp nhất, mục tiêu và biện pháp hành động, phân công
trách nhiệm, dự trù kinh phí và quãng thời gian cần thiết để hình thành kế
hoạch hành động quốc gia phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
- Xây dựng sự thống nhất giữa các nhà lãnh đạo và những cơ quan
thực hiện kế hoạch hành động.
- Thực hiện các hoạt động theo kế hoạch.
- Đánh giá hiệu quả, tác động của kế hoạch hành động quốc gia
Các lĩnh vực hoạt động của Chương trình quốc tế về xóa bỏ lao
động trẻ em- IPEC gồm:
- Can thiệp trực tiếp với trẻ em lao động (bảo vệ, đưa các em ra
khỏi những nơi độc hại, nguy hiểm và giúp đỡ phục hồi cho các em)
- Xóa bỏ những hình thức lao động độc hại, nguy hiểm nhất đối với
trẻ em.
- Nâng cao nhận thức (thông qua giáo dục trẻ em và công luận)
- Giúp đỡ ban hành, sửa đổi, hoàn chỉnh, thực hiện hiệu quả luật
pháp và chính sách quốc gia phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế.
- Xây dựng năng lực của các cơ quan tham gia (thông qua tập huấn,
đào tạo)
- Hỗ trợ những sáng kiến, hoạt động trong giáo dục không chính
quy và dạy nghề.
- Có dự án thí điểm thành công và nhân rộng;
- Đưa vấn đề giải quyết lao động trẻ em vào các chương trình kinh
tế- xã hội cấp quốc gia và có sự bảo đảm bằng ngân sách nhà nước.
3.2.2. Mục tiêu phòng, ngừa sử dụng lao động trẻ em của nhà
nước
Để ngăn chặn tình trạng lạm dụng lao động trẻ em một cách hiệu
quả, mục tiêu về phòng, ngừa sử dụng LĐTE như sau:
Thứ nhất, tăng cường công tác truyền thông giáo dục pháp luật về
phòng, chống lao động trẻ em, nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp
sự thiếu hụt về đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, trẻ em sau khi chuyển
lĩnh vực này về quản lý của ngành Lao động-TB&XH, đòi hỏi phải được
củng cố, tăng cường vì hiện nay số cán bộ làm công tác quản lý quá mỏng,
không đủ để đáp ứng yêu cầu đặt ra.
Và cuối cùng, cần tạo môi trường an toàn, thân thiện đối với lao
động trẻ em nhằm loại bỏ hoặc giảm thiểu đến mức thấp nhất các nguy cơ
gây tổn thương cho trẻ em, khi mà tình trạng sử dụng lao động trẻ em vẫn
chưa được loại bỏ.
3.2.3. Phương hướng phòng, ngừa sử dụng lao động trẻ em của
tỉnh Vĩnh Phúc
Tỉnh Vĩnh Phúc cần có chiến lược và xây dựng các chương trình
phối hợp các ngành các cấp, các tổ chức xã hội dân sự về việc phòng ngừa
và giải quyết tình trạng lao động trẻ em. Các chiến lược, chương trình này
có thể đáp ứng ở cả ba cấp độ: Phòng ngừa, phát hiện và can thiệp.
16
- Các hoạt động phòng ngừa từ xa vấn đề lao động trẻ em như tuyên
truyền; giáo dục, cung cấp các kiến thức, thông tin pháp luật về quyền trẻ
em nói chung và pháp luật về lao động trẻ em nói riêng… nhằm nâng cao
nhận thức của cộng đồng, các bậc cha mẹ về những nguy hại do vấn đề lao
động trẻ em mang lại cho tương lai của con em mình. Từ đó có thể nâng
cao trách nhiệm cộng đồng, gia đình trong tạo điều kiện môi trường sống an
toàn để phát triển cho trẻ em.
- Phát hiện sớm và can thiệp sớm, có biện pháp trợ giúp kịp thời để
loại bỏ hoặc giảm thiểu nguy cơ trẻ em rơi vào hoàn cảnh phải lao động
kiếm sống. Đảm bảo quyền được học tập, vui chơi để phát triển toàn diện
của trẻ em.
- Trợ giúp phục hồi cho lao động trẻ em để các em có cơ hội tái hòa
khó khăn vì vậy cần nâng cao đời sống cho gia đình trẻ em lao động sớm.
- Chú trọng hơn nữa tới vấn đề nâng cao dân trí, nhận thức của
người dân. Hiện nay cũng có nhiều người đã nhận thức được vấn đề trẻ em
lao động sớm gây nhiều ảnh hưởng xấu và nhiều khi cũng rất nguy hiểm đối
với trẻ em.
- Tăng cường công tác nghiên cứu về lao động trẻ em để có thể biết
sâu xa để có những hiểu biết cụ thể hơn về nguyên nhân, thực trạng, nhu
cầu…của trẻ em lao động sớm từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp.
3.3.2. Biện pháp theo hướng công tác xã hội
- Cần đưa các chính sách và pháp luật về bảo vệ trẻ em vào đời
sống, nhân viên công tác xã hội chính là những người thực hiện tuyên
truyền để những chính sách và pháp luật đó đến được với người dân, giúp
họ hiểu rõ và đầy đủ hơn về các chính sách, Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ
em.
- Tìm hiểu thực trạng trẻ em lao động sớm để từ đó phối hợp với
các cơ quan chức năng để có thể đưa ra những giải pháp giúp đỡ trẻ em lao
động sớm.
- Hiện nay rất nhiều trẻ em phải lao động trong những môi trường
độc hại, làm việc mà không có những thiết bị bảo vệ cần thiết. Vì vậy, cần
có những chính sách đưa các em ra khỏi các môi trường độc hại đó, đưa các
em vào những trung tâm lao động phù hợp.
- Nhân viên công tác xã hội phối hợp với các tổ chức phát triển
cộng đồng đưa ra các biện pháp phòng ngừa và chăm sóc sức khỏe cho trẻ
lao động sớm thông qua các chính sách, dịch vụ xã hội, tổ chức khám sức
khỏe định kỳ cho trẻ em…
3.3.3. Nhóm giải pháp về “phòng ngừa” sử dụng lao động trẻ em
3.3.3.1. Xây dựng và hoàn thiện chiến lược về bảo vệ chăm sóc trẻ
em trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Phối hợp với các cơ quan có liên quan đề xuất thống nhất về khái
niệm “lao động trẻ em”, về độ tuổi lao động, giữa luật BVCSGDTE và Luật
Nam và các đoàn thể chính trị, xã hội
Sự tham gia, phối hợp của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ
chức chính trị, đoàn thể xã hội cần phải được chú trọng cả ở 3 cấp độ: Ngăn
ngừa; phát hiện; trợ giúp. Vì thực tế cho thấy không một sự nỗ lực đơn
phương nào mà đạt hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đến xã hội lại càng
phúc tạp hơn.
3.3.3.6. Củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác
bảo vệ chăm sóc trẻ em
Phát triển và nhân rộng nghề công tác xã hội, cũng như nâng cao
chất lượng, kỹ năng làm việc của nhân viên công tác xã hội, đặc biệt là kỹ
năng làm việc với trẻ em nói chung, trong đó có lao động trẻ em.
3.3.3.7. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát
19
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đưa vào kế hoạch hàng
năm việc thực hiện các quy định của pháp luật có liên quan đến tình hình trẻ
em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm. Định kỳ
kiểm tra, thanh tra, xử lý những trường hợp vi phạm pháp luật; áp dụng các
biện pháp ngăn ngừa việc lạm dụng sức lao động của trẻ em hoặc núp bóng
danh nghĩa học nghề để bóc lột sức lao động trẻ em.
3.3.4. Nhóm giải pháp về “chống” sử dụng lao động trẻ em
3.3.4.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo vệ lao động trẻ em
Cụ thể hóa các định chế quốc tế và các điều luật về lao động trẻ em,
hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền trẻ em: thống nhất về khái niệm
“lao động trẻ em”, về độ tuổi lao động, nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong
quá trình thực hiện pháp luật về trẻ em.
Đồng thời cần có bộ quy trình quản lý, đánh giá về lao động trẻ em
chuẩn, khoa học để hướng dẫn thực hiện tại các địa phương, nhằm thống kê
Yêu cầu các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, chủ sử dụng lao động tuân thủ
đúng các quy định trong tuyển dụng, sử dụng lao động, điều kiện nhận trẻ
em tham gia làm việc.
3.3.4.5. Trang bị kỹ năng phát hiện, tố giác, xử lý hành vi vi phạm
pháp luật về lao động trẻ em
Thường xuyên tổ chức hướng dẫn, phổ biến pháp luật dưới nhiều
hình thức nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cộng đồng dân
cư, người lao động trong việc phát hiện, tố giác các hành vi vi phạm pháp
luật về sử dụng lao động trẻ em. Nhất là trong bối cảnh tội phạm ngày càng
tinh vi, các vi phạm pháp luật về sử dụng lao động trẻ em được ngụy trang
khéo léo, hoặc núp bóng danh nghĩa học nghề, giúp việc...
3.3.4.6. Chú trọng các nguồn lực hỗ trợ công tác phòng, ngừa sử
dụng lao động trẻ em
- Mua sắm các trang thiết bị cần thiết về cơ sở vật chất, tài liệu,
phương tiện làm việc cho cán bộ.
- Hoạt động can thiệp, hỗ trợ đột xuất trong trường hợp xẩy ra các
vụ việc, xâm hại, bóc lột lao động trẻ em. Hỗ trợ trẻ em hồi gia, dạy nghề...
- Tập huấn bồi dưỡng kỹ năng phát hiện, can thiệp, trợ giúp lao
động trẻ em cho cán bộ viên chức.
3.3.4.7. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát
Nâng cao nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra, giám sát về lĩnh vực bảo vệ
chăm sóc trẻ em trong đó có vấn đề lao động trẻ em cho đội ngũ cán bộ từ
Trung ương đến địa phương làm công tác Lao động– Thương binh và Xã
hội nói chung và cán bộ làm công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em nói riêng.
Chính quyền địa phương phải thường xuyên rà soát, quản lý nhân
khẩu, đồng thời nâng cao cảnh giác, phát hiện các cơ sở, doanh nghiệp có
dấu hiệu lạm dụng lao động trẻ em.
3.4. Kiến nghị
Một là, Nhà nước cần đẩy mạnh chính sách trợ giúp xã hội đối với
trẻ em; kết hợp dạy nghề với tạo việc làm và thu nhập ổn định cho những
nhưng khi gia đình không có khả năng và điều kiện thực hiện thì cộng đồng
xã hội và Nhà nước có trách nhiệm giúp đỡ các gia đình thực hiện.
Bảy là, việc xây dựng và phát triển hệ thống bảo vệ trẻ em phải
được coi là ưu tiên hàng đầu trong thời gian tới, thông qua việc hoàn thiện
hệ thống pháp lý, hệ thống tổ chức và cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc
trẻ em mang tính chuyên nghiệp và cấu trúc mạng lưới tổ chức cung cấp
dịch vụ bảo vệ trẻ em theo 3 cấp độ: phòng ngừa; can thiệp giảm thiểu hoặc
loại bỏ nguy cơ; trợ giúp hòa nhập cộng đồng và tạo cơ hội phát triển./.
22
Tiểu kết Chương 3
Trẻ em có quyền tham gia lao động, để học hỏi và có trải nghiệm
cần thiết hoàn thiện nhân cách, song nhiều trẻ em vì cuộc sống mưu sinh, để
giúp đỡ gia đình, thậm chí để nuôi sống bản thân mà phải lao động như một
người lao động thực thụ. Tuy nhiên lao động trẻ em phải đối mặt với rất
nhiều rủi ro, dễ bị lạm dụng: thời gian làm việc kéo dài, tiền công thấp, dễ
bị bắt nạt, bị dụ dỗ vào con đường phạm tội hoặc tệ nạn xã hội, bị lạm dụng
tình dục... Bên cạnh việc học hành bị dở dang, các em không được quan
tâm bảo vệ đầy đủ từ phía chính quyền và các tổ chức xã hội. Ngay cả chính
gia đình các em cũng không nhận thức được đầy đủ các quyền của trẻ em
và những rủi ro và thiệt thòi mà các em đang phải gánh chịu.
Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, tuy chưa có vụ việc lạm dụng lao
động trẻ em nào xẩy ra nghiêm trọng, Vĩnh Phúc vẫn đang đảm bảo một
môi trường lành mạnh cho trẻ em sống an toàn, được học tập, tham gia và
phát triển. Song đứng trước những chuyển biến mới của xã hội trong điều
kiện hội nhập và phát triển, yêu cầu của hoạt động quản lý của nhà nước là
nắm bắt được tình hình diễn biến và xu hướng lao động trẻ em trong tình
hình mới từ đó có phương hướng và giải pháp phù hợp trong công tác