MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ VAI TRÒ CỦA
THUẾ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở
QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1.
Cơ sở lý luận về thuế
1.2.
Quan niệm, nội dung vai trò của thuế trong phát triển kinh tế - xã
hội ở Quận Hà đông
Chương 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONG
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở QUẬN HÀ
ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1.
Đặc điểm về địa lý, điều kiện tự nhiên của Hà Đông và tình
hình hoạt động của ngành thuế trên địa bàn quận Hà Đông,
TP Hà Nội
2.2.
Đánh giá thực trạng vai trò của thuế trong phát triển kinh tế
- xã hội ở Quận Hà Đông thành phố Hà Nội
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ
THUẾ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA
QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1.
Quan điểm cơ bản phát huy vai trò thuế trong phát triển
kinh tế -xã hội của Quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
3.2.
Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò thuế trong
phát triển kinh tế - xã hội của Quận Hà Đông, Thành phố
Hà Nội trong thời gian tới
KẾT LUẬN
Giáo dục - đào tạo
Khoa học - công nghệ
Kinh tế - xã hội
Ngân hàng thế giới
Nhà xuất bản
Quỹ Tiền tệ quốc tế
Thuế giá trị gia tăng
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
Chữ viết tắt
BCHTW
CTQG
CNXH
CNH, HĐH
ĐCSVN
GD - ĐT
KH - CN
KT - XH
WB
Nxb
IMF
VAT
OECD
Châu Âu
Tổ chức Thương mại thế giới
Tổng sản phẩm quốc nội
Trang
Xã hội chủ nghĩa
Ủy ban nhân dân
khăn do tác động của suy thoái kinh tế thế giới. Tuy nhiên, với những lợi thế
riêng có của mình, Quận Hà Đông vẫn giữ được sự ổn định và phát triển về
mọi mặt. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thành công đó là Quận
Hà Đông đã phát huy tốt vai trò của thuế trong phát triển kinh tế xã hội trên
địa bàn Quận. Song, bên cạnh những thành công thì việc phát huy vai trò của
thuế cho phát kinh tế xã hội của Quận trong những năm qua vẫn tồn tại một
3
số hạn chế, yếu kém như: hiện tượng khai man, trốn thuế, lậu thuế vẫn sảy ra;
tình trạng nộp thuế chưa phản ánh đúng quy mô hoạt động sản xuất kinh
doanh đã tạo ra sự bất bình đẳng và cạnh tranh không lành mạnh giữa các
doanh nghiệp, các thành phần kinh tế. Do đó, chưa phát huy hết vai trò của
thuế để kích thích phát triển kinh tế xã hội, phát triển sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế trên địa bàn Quận.
Vì vậy, việc tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về
vai trò của thuế đối với phát triển kinh tế xã hội nói chung và nghiên cứu trên
địa bàn Quận Hà Đông nói riêng để có những quan điểm và giải pháp thích
hợp nhằm phát huy vai trò của thuế đối với phát triển kinh tế xã hội trên địa
bàn Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội hiện nay là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết
cả về lý luận và thực tiễn. Với lý do đó, tác giả chọn vấn đề "Vai trò của thuế
trong phát triển kinh tế - xã hội ở Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội" làm đề
tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề thuế và vai trò của thuế trong phát triển kinh tế xã hội ở nước
ta nói chung là vấn đề rất quan trọng và cần thiết đối với sự phát triển kinh tế
xã hội của đất nước. Những năm gần đây đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên
cứu về lĩnh vực này trên các góc độ khác nhau, trong đó đáng chú ý một số
công trình tiêu biểu sau:
Luận án Tiến sĩ kinh tế “Nâng cao vai trò của thuế - công cụ phục vụ sự
nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam.
Luận văn thạc sĩ kinh tế “ Hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế
theo chương trình cải cách hiện đại hóa ngành thuế Việt nam đến năm 2010”,
tác giả: Phạm Thúy Hồng [16]. Tác giả đã đánh giá thực trạng tổ chức bộ máy
của kiểm tra, thanh tra thuế theo hai giai đoạn từ 1999-2004 và từ 2004-2006
qua các mặt: trình độ của cán bộ thanh tra của ngành thuế, việc lập kế hoạch
kiểm tra, thanh tra thuế qua các năm.
5
Luận văn thạc sĩ kinh tế “ Thanh tra, kiểm tra nhằm nâng cao tính tuân
thủ của người nộp thuế trong điều kiện Việt nam hiện nay”, tác giả: Nguyễn
Chí Dũng [9]. Đã phân tích kiểm tra, thanh tra thuế dưới giác độ tuân thủ của
người nộp thuế, nêu được một số vai trò của kiểm tra, thanh tra thuế đối với việc
nâng cao tính tuân thủ của người nộp thuế. Tác giả đã đề cập các giải pháp điều
kiện để nâng cao tính tuân thủ như xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả
kiểm tra, thanh tra thuế như tỷ lệ người nộp thuế tiến hành thanh tra, kiểm tra
trong vòng một năm. Tỷ lệ phần trăm (%) độ chính xác tại khâu phân tích hồ sơ
so với kết quả thanh tra.
Luận văn thạc sĩ kinh tế “ Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra đối
tượng nộp thuế ở Việt nam hiện nay”, tác giả: Lê Thị Phương Thảo [43] . Đã
đánh giá thực trạng kiểm tra, thanh tra thuế qua ba nội dung: kiểm tra đăng ký
thuế; chấp hành chế độ kế toán sổ sách chứng từ, hóa đơn; kê khai, tính thuế
và nộp thuế. Qua đó, luận văn đã phân tích những ưu điểm và hạn chế của
khâu lập kế hoạch kiểm tra, thanh tra thuế các năm từ 2005-2008. Phần giải
pháp đổi mới kiểm tra, thanh tra thuế luận văn tập trung vào một số giải pháp
như: phân cấp quản lý doanh nghiệp, xây dựng tiêu chí, đánh giá, lựa chọn
xếp loại doanh nghiệp để có chiến lược kiểm tra, thanh tra thuế cụ thể cho
từng loại hình doanh nghiệp.
Luận văn thạc sĩ kinh tế “Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với các doanh
Nguyên [22 ]. Luận văn đã phân tích làm rõ vai trò của thuế trong nền kinh tế
ở nước ta: Thuế là công cụ chủ yếu huy động tập trung nguồn lực cho Nhà
nước; Là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế; Góp phần điều hòa thu nhập
thực hiện công bằng xã hội trong phân phối. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu
để tăng cường quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên
địa bàn tỉnh Quảng Ngãi như: Đối với các cơ sở thực hiện thu thuế giá trị gia
tăng thực hiện theo phương thức trực tiếp; Đối với các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh và kinh doanh cá thể nộp thuế theo phương thức khấu trừ; Phát
7
huy tác dụng quản lý thu thuế theo quy trình tự tính, tự khai, tự nộp thuế;
Hoàn thiện chế độ sổ sách kế toán, chứng từ hóa đơn trong quản lý thu thuế;
Tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương trong quản
lý thu thuế; Thực hiện tốt công tác tuyên truyền chính sách thuế; Sử dụng các
biện pháp đặc thù đối với công tác quản lý thu thuế ngoài quốc doanh.
Bên cạnh những công trình được phân tích ở trên, trong quá trình triển
khai đề tài luận văn tác giả đã nghiên cứu, kế thừa từ một số tài liệu như: Học
viện Tài chính (2005), Giáo trình Lý thuyết Tài chính; Học viện Tài chính
(2009), Giáo trình Thuế; Học viện Tài chính (2009), Giáo trình Nghiệp vụ
thuế; Học viện Tài chính (2010), Giáo trình Lý thuyết thuế; Học viện Tài
chính (2000), Giáo trình Thanh tra tài chính; Trường Cán bộ Thanh tra
(2008), Kiểm tra tài chính trong các doanh nghiệp; Quang Anh, Hà Đăng
(2002), Những điều cần biết về thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp; Đàm Thị
Thu Hương (2005), Đổi mới công tác thanh tra- kiểm tra tại cơ quan thuế địa
phương, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội ; Nguyễn Thị
Nhung (2006), Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc
sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội; Nguyễn Thị Thanh Minh (2007), Đổi
có công trình nào nghiên cứu vấn đề "Vai trò của thuế trong phát triển kinh tế
- xã hội ở Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội" dưới góc độ khoa học kinh tế
chính trị như một công trình nghiên cứu chuyên ngành. Chính vì vậy, vấn đề
này đang thực sự là một “khoảng trống” để tôi tập trung nghiên cứu làm sáng
tỏ trong luận văn của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải những vấn đề cơ bản về lý luận và thực trạng vai trò của thuế
trong phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn quận Hà Đông. Trên cơ sở đó đề
9
xuất một số quan điểm cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai
trò của thuế trong phát triển kinh tế - xã hội ở địa bàn quận Hà Đông, Thành
phố Hà Nội trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của thuế trong phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn quận Hà Đông.
- Phân tích, đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và những vấn đề
đặt ra cần giải quyết từ thực trạng phát huy vai trò của thuế trong phát triển
kinh tế - xã hội ở quận Hà Đông thời gian qua.
- Đề xuất những quan điểm cơ bản và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy
vai trò của thuế trong phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn quận Hà Đông trong thời
gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của thuế trong phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn quận Hà Đông
* Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung : Nghiên cứu về vai trò của thuế trên địa bàn quận Hà Đông.
- Về thời gian : Số liệu khảo sát thực tế từ năm 2009 đến nay.
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn quận Hà Đông
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Cơ sở lý luận về thuế
1.1.1. Khái niệm
Thuế ra đời và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của Nhà nước, vì
Nhà nước và do Nhà nước. Dưới bất kỳ một hình thái kinh tế - xã hội nào khi
còn Nhà nước là còn thuế. Thuế là một công cụ quan trọng mà bất kỳ Nhà
nước nào cũng sử dụng để hoàn thành chức năng của mình. Bàn về mối liên hệ
giữa thuế và nhà nước, Mác viết "Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước,
là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để
dùng vào việc chi tiêu của nhà nước”[20].
Ănghen cũng viết "Để duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có sự
đóng góp của công dân đó là thuế má"
Tuy nhiên, cho đến nay có nhiều cách nhìn nhận khác nhau và người ta
vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế cũng như nhìn chung
chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế.
Ở góc độ nghiên cứu về Pháp luật thì thuế được quan niệm là khoản
đóng góp theo quy định của Pháp luật mà Nhà nước bắt buộc các tổ chức và
cá nhân phải nộp vào Ngân sách Nhà nước.
Ở góc độ nghiên cứu về Kinh tế Chính trị học thì khái niệm về thuế là
hình thức phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình
thành lên các quỹ tiền tệ tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu theo chức
năng của Nhà nước.
Ở góc độ người thu thuế thì thường hiểu thuế là khoản đóng góp bắt buộc
theo nghĩa vụ do Pháp luật quy định. Thuế là khoản thu không phải hoàn trả
ngang giá và trực tiếp.
12
Ở góc độ người nộp thuế thì hiểu thuế là khoản bắt buộc phải nộp cho
Nhà nước theo quy định. Còn trên góc độ phân phối thu nhập, TS. Nguyễn Thị
thể hiện thu thuế một cách tùy tiện mà phải dựa trên những cơ sở pháp luật nhất
định đã được xác định trong các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành.
-Tính bắt buộc phải nộp thuế :
Nhà nước sử dụng quyền lực của mình buộc các thành phần kinh tế có
sản xuất kinh doanh đều phải đóng góp một phần thu nhập của mình dưới
hình thức nộp thuế cho Ngân sách Nhà nước. Do vậy, Nhà nước đã ban hành
các sắc thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, các khoản phí, lệ phí
để buộc người sản xuất kinh doanh, người tiêu dùng dịch vụ, người có thu nhập
cao phải nộp thuế.
-Tính không hoàn trả trực tiếp :
Tính không hoàn trả trực tiếp thể hiện trên các khía cạnh : người nộp
thuế vào Ngân sách Nhà nước không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung
cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình. Người nộp thuế sẽ được
nhận một phần dịch vụ công cộng mà Nhà nước cung cấp chung cho cả cộng
đồng, giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết phải trùng với khoản thuế mà họ
phải nộp cho Nhà nước.
-Tính cố định của thuế :
Nhà nước ban hành các sắc thuế, luật thuế để làm căn cứ, bắt buộc các
thành phần kinh tế trong xã hội phải đóng góp nghĩa vụ thuế. Luật thuế ban
hành một mức thu cố định cho các hàng hóa dịch vụ. Do đó, các mức cố định
này mà Nhà nước có thể tính trước được nguồn thu của mình. Người nộp thuế
cũng có thể tính toán được sẽ phải nộp bao nhiêu trong thu nhập của mình cho
Nhà nước. Thuế còn có một ưu điểm lớn với Nhà nước là thu một cách
thường xuyên, chỉ cần có hoạt động sản xuất kinh doanh là phải nộp thuế cho
Nhà nước. Do đó, Nhà nước có nguồn tài chính để chi trả thường xuyên ổn
định cho các nhu cầu của mình.
14
1.1.3. Bản chất của thuế
-Thuế còn thể hiện tính xã hội rộng rãi :
Trước hết, vì thuế thu vào toàn dân, thuế có liên quan đến mọi tổ chức,
cá nhân trong xã hội. Thuế điều chỉnh các quan hệ phân phối, phân phối lại
thu nhập xã hội giữa các tổ chức kinh tế, giữa các tầng lớp dân cư.
1.1.3. Phân loại thuế
Phân loại thuế là việc sắp xếp các sắc thuế trong hệ thống thuế thành
những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định. Có các tiêu thức phân
loại thuế như sau :
Dựa vào phương thức đánh thuế
Các hình thức thuế đều đánh vào thu nhập của người nộp thuế. Người ta
chia hệ thống thuế thành hai loại :
- Thuế giá trị gia tăng : là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá,
dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
- Thuế thu nhập doanh nghiệp : là một loại thuế trực thu đánh vào lợi
nhuận của các doanh nghiệp.
Dựa vào cơ sở đánh thuế
Cơ sở đánh thuế chỉ rõ thuế đánh trên cái gì. Căn cứ vào cơ sở đánh thuế
có thể chia thuế làm ba loại :
- Thuế thu nhập : Bao gồm các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập
kiếm được. Thu nhập kiếm được từ nhiều nguồn; từ lao động dưới dạng tiền
lương, tiền công ; thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh dưới dạng lợi
nhuận, lợi tức cổ phần…do đó thuế thu nhập cũng có nhiều dạng: Thuế thu
nhập cá nhân, thuế thu nhập công ty, thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài …
- Thuế tiêu dùng : Là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là phần thu nhập của tổ
chức, cá nhân được mang ra tiêu dùng trong hiện tại. Trong thực tế loại thuế tiêu
dùng được thể hiện dưới nhiều dạng như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt…
- Thuế tài sản : Là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản. Tài sản có
nhiều hình thức biểu hiện :
16
nhất trong tổng thu Ngân sách Nhà nước của tất cả các nước có nền kinh tế thị
trường. Hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới, sau khi thực hiện cải cách hệ thống
thuế, số thu từ thuế và phí thường chiếm tới 90% tổng số thu Ngân sách Nhà nước.
Chức năng huy động nguồn lực tài chính tạo ra những tiền đề khách
quan cho sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế. Trong quá trình
thực hiện chức năng này, thuế đã tự động làm xuất hiện chức năng điều
tiết vĩ mô nền kinh tế.
-Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế
Thuế thực hiện chức năng điều chỉnh thông qua việc quy định các
hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và
nộp thuế, xây dựng chính xác các mức thuế phải nộp có tính đến khả
năng của người nộp thuế. Trên cơ sở đó Nhà nước hướng dẫn các hoạt
động kinh tế đi vào quỹ đạo chung của nền kinh tế quốc dân phù hợp với
lợi ích của xã hội. Trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường, vai trò
kích thích kinh tế thông qua thuế ngày càng được nâng cao. Với cải cách
thuế, sự can thiệp của Nhà nước không còn mang tính mệnh lệnh bắt
buộc, các cơ sở sản xuất kinh doanh lựa chọn hình thức sản xuất cho phù
hợp với nền kinh tế và đẩy mạnh sản xuất kinh doanh phát triển tăng thu
nhập cho bản thân mình và tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước.
Từ nghiên cứu chức năng của thuế cho thấy vai trò của thuế là
nguồn thu chủ yếu của ngân sách, là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà
nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội, góp phần bảo đảm sự
bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội.
Từ vai trò của thuế nói chung, có thể quan niệm: Vai trò của thuế
trong phát triển kinh tế xã hội của Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội
là việc thực hiện chức năng của thuế trên địa bàn Quận, là nguồn thu
chủ yếu của ngân sách, là công cụ điều tiết đối với phát triển kinh tế xã hội, góp phần bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế
và công bằng xã hội trên địa bàn Quận.
19
tỏ vai trò chủ đạo của mình trong việc huy động tài chính công phục vụ cho
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Hầu hết mọi cá nhân, tổ chức sống, hoạt động và thực hiện các giao
dịch trong phạm vi quy định đều phải nộp thuế vào ngân sách nhà nước. Các
cá nhân, tổ chức khi thực hiện bất kỳ giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ
hay tài sản nào cũng đều phải nộp thuế trên giá trị hàng hóa đó. Loại thuế
không thể tránh được là thuế giá trị gia tăng, ngoài ra còn có thể có thuế xuất
nhập khẩu hay thuế tiêu thụ đặc biệt. Khi thực hiện các giao dịch khác liên
quan đến tài sản của mình, tổ chức và cá nhân cũng phải nộp thuế vào ngân
sách nhà nước. Cá nhân có thu nhập cao phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Mọi
doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh có lãi đều phải nộp thuế thu
nhập doanh nghiệp. Như vậy, hầu như không ai sống trong xã hội mà không
phải nộp thuế cho nhà nước. Từ những người nội trợ, người làm việc văn
phòng, doanh nhân cho đến các tổ chức hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận
hay các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh kiếm lời đều phải thường xuyên
đóng thuế vào ngân sách Nhà nước.
Đối tượng đánh thuế trong mỗi nền kinh tế rất rộng lớn và gần như bao
quát toàn bộ nền kinh tế - xã hội của quốc gia đó như:
Thuế đánh vào tiêu dùng: là loại thuế phổ biến và có tính thường
xuyên, ổn định nhất. Không có tổ chức, cá nhân nào có thể tồn tại trong nền
xã hội mà không tiêu dùng. Vì vậy, đánh thuế vào tiêu dùng là một chính sách
giúp ổn định nguồn thu và tạo tính công bằng xã hội. Mọi hàng hóa, dịch vụ
lưu thông trên thị trường đều phải chịu thuế, trong đó, thuế phổ biến nhất là
thuế giá trị gia tăng. Tiêu dùng ở đây không chỉ nói đến tiêu dùng cho đời
sống và sinh hoạt hàng ngày của người dân mà còn nói đến nhu cầu mua sắm
nói chung, kể cả mua sắm nguyên vật liệu, trang thiết bị, cơ sở vật chất của
thuần tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, mà quan trọng hơn là thực hiện
chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông qua pháp lệnh về thuế,
Nhà nước chủ động tác động đến cung - cầu của nền kinh tế góp phần phân bổ
lại nguồn lực nhằm thực hiện tốt chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
21
Thuế có tác động định hướng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
thông qua tác động trực tiếp tới cung- cầu thị trường. Chính sách thuế phải
thiết thực, góp phần chuyển được cơ cấu kinh tế cũ, lạc hậu sang cơ cấu kinh
tế mới hiện đại, hợp lý và thay đổi được tỷ lệ tương quan giữa các ngành
trong GDP, đúng chiến lược phát triển kinh tế của đất nước. Quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế phụ thuộc một phần rất lớn vào mối quan hệ cung cầu của
thị trường. Có nhu cầu tất yếu đòi hỏi phát triển sản xuất, dịch vụ để đủ cung
ứng cho nhu cầu và ngược lại.
Mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là làm tăng tổng cung gắn
với kích cầu để quá trình chuyển dịch cơ cấu đạt hiệu quả tốt. Tổng cầu tăng
hay giảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan, chủ yếu là thu nhập của các
tầng lớp dân cư, giá cả từng loại sản phẩm, cơ cấu hàng hoá trên thị trường…
Ảnh hưởng của chính sách thuế thông qua các mức thuế, các chế độ miễn
giảm, các chế độ quản lý thu thuế khác nhau có vai trò quan trọng đến việc
tạo nên tổng cầu theo hai hướng: khuyến khích phát triển hay hạn chế. Thuế
cũng có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới cung của thị trường. Đó là việc
đánh thuế cao hay thấp vào các yếu tố sản xuất, tiêu dùng, thu nhập.
Đối với sản xuất:
Nhà nước sử dụng thuế nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, khuyến
khích hoặc hạn chế các ngành sản xuất mong muốn. Thực tế, đối với các
ngành sản xuất yếu kém trong nước, khả năng cạnh tranh với các sản phẩm
nhập khẩu kém cả về giá cả và chất lượng, nếu muốn duy trì và phát huy các
ngành này, buộc nhà nước phải có chính sách bảo hộ nhất định để hạn chế
từng ngành nghề sản xuất kinh doanh, đối với từng sản phẩm, dịch vụ, tuỳ
thuộc vào sự cần thiết của sản xuất và đời sống xã hội, tự nó đã có tác dụng
điều chỉnh việc phân bổ lại nguồn vốn đầu tư trong xã hội. Việc áp dụng các
hình thức ưu đãi (thuế suất, thời gian miễn giảm thuế…) đối với hàng hoá,
dịch vụ phù hợp với hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế thường sẽ làm cho giá
cả hàng hoá dịch vụ đó giảm xuống. Khi giá cả hàng hoá, dịch vụ giảm thì
23
lượng cầu sẽ tăng lên. Để đáp ứng cho sự gia tăng về cầu hàng hoá, các doanh
nghiệp sẽ mở rộng quy mô sản xuất nhằm thu lợi nhuận nhiều hơn. Ngược
lại, khi áp dụng thuế suất cao, giá tăng sẽ có giảm sút về cầu, thu hẹp quy mô
sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ tìm lĩnh vực đầu tư mới để chuyển
dịch cơ cấu kinh tế với mục đích sản xuất mặt hàng khác có thể tạo lợi nhuận
nhiều hơn. Với chính sách ưu đãi qua thuế suất, thời gian miễn giảm của thuế
thu nhập doanh nghiệp, Nhà nước có thể khuyến khích đầu tư trong nước
cũng như đầu tư nước ngoài vào những ngành, những lĩnh vực và những vùng
cần khuyến khích đầu tư. Áp dụng mức thuế suất thấp và miễn giảm hấp dẫn
đối với các dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn ưu đãi đầu tư
như các cơ sở sản xuất mới thành lập; đầu tư ở miền núi, hải đảo, các vùng có
nhiều khó khăn...
Đối với tiêu dùng
Để hạn chế hay khuyến khích tiêu dùng, Nhà nước xây dựng một biểu
thuế phù hợp, tác động trực tiếp đến tâm lý tiêu dùng của người dân. Khi thuế
tăng cao, đồng nghĩa với việc thu nhập giảm, người dân buộc phải có những
điều chỉnh trong chi tiêu thích hợp để hài hòa ngân sách của chính mình và
ngược lại. Thuế là công cụ điều chỉnh giá cả thị trường và kiềm chế lạm phát.
Trong điều kiện kinh tế thế giới có nhiều biến động, khủng hoảng, suy
thoái… và kinh tế trong nước vẫn đang trong giai đoạn phát triền, thị trường
luôn có những biến động khó lường. Để kiểm soát được những biến động này,
thương mại, dịch vụ. Sản xuất các mặt hàng thiết yếu được khuyến khích hơn
sản xuất các mặt hàng và dịch vụ khác. Để khuyến khích các ngành nghề sản
xuất hàng xuất khẩu, sản xuất sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu cần thiết khi
trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất nhưng chưa đáp ứng đủ nhu
cầu, hay đầu tư vào những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng không
thuận lợi cho sức khỏe, sinh hoạt của người dân,... Nhà nước thường áp dụng
thuế ưu đãi để thúc đẩy kinh tế phát triển một cách có hiệu quả, đồng bộ theo
hướng có lợi cho quốc kế dân sinh. Nhà nước ta đang sử dụng tổng hợp hệ
25