VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHÙNG TÔ LONG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN SƠN HÀ,
TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHÙNG TÔ LONG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN SƠN HÀ,
TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 60.34.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc
sĩ Chính sách công về “Thực hiện chính sách dân tộc từ thực tiễn huyện Sơn Hà,
tỉnh Quảng Ngãi” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài
khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
Phùng Tô Long
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH DÂN TỘC Ở NƢỚC TA.......................................................................... 8
1.1. Các khái niệm .................................................................................................. 8
1.2. Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước ta về dân tộc ..................... 10
1.3. Ý nghĩa, tầm quan trọng, nội dung thực hiện chính sách dân tộc ................. 17
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN SƠN HÀ TỈNH QUẢNG NGÃI .......................... 37
2.1. Tình hình kinh tế - xã hội và đặc điểm dân tộc của huyện Sơn Hà, tỉnh
Quảng Ngãi........................................................................................................... 37
2.2. Nội dung các bước tổ chức thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Sơn Hà,
tỉnh Quảng Ngãi ................................................................................................... 40
2.3. Kết quả thực hiện chính sách dân tộc tại huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi
từ năm 2010 đến nay ............................................................................................ 48
2.4. Đánh giá chung về việc tổ chức, thực hiện chính sách dân tộc tại huyện
Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi ..................................................................................... 54
CHƢƠNG 3. PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở HUYỆN SƠN HÀ, TỈNH
Số hiệu
Tên bảng
bảng
2.1.
2.2.
2.3.
Tổng giá trị sản xuất các ngành của huyện giai đoạn 20112015
Tổng hợp các nguồn vốn đầu tư vùng đồng bào dân tộc
miền núi của huyện Sơn Hà
Tỷ lệ giảm nghèo của huyện Sơn Hà giai đoạn 2011-2015
Trang
49
50
53
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Phần lớn các dân tộc thiểu số sống ở
miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa – những địa bàn có vị trí chiến
lược về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái. Do đó,
Đảng ta luôn coi việc hoạch định và thực hiện đúng chính sách dân tộc là vấn đề
có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong tiến trình cách mạng.
tranh chống lại các thế lực phản động có âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn
dân tộc, chống lại việc thực hiện chính sách của Đảng về vấn đề dân tộc.
Sơn Hà là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Ngãi, huyện có 13 xã và 01
thị trấn, trong đó có 11 xã đặc biệt khó khăn. Toàn huyện có 75.000 nhân khẩu,
nhưng có đến 82% là đồng bào dân tộc thiểu số, gồm các dân tộc chủ yếu là:
Hre, Cadong, Cor. Các dân tộc sống đan xen, đoàn kết, hoà thuận và hỗ trợ nhau
phát triển. Đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây còn rất nhiều khó
khăn. Những năm qua, các chính sách dân tộc và miền núi của Đảng và nhà
nước được thực hiện trên địa bàn huyện đã góp phần nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho đồng bào các dân tộc, đặc biệt là dân tộc thiểu số và miền núi,
rút ngắn dần khoảng cách giữa miền núi và đồng bằng. Tuy nhiên, việc thực
hiện chính sách dân tộc trong thời gian qua vẫn còn những hạn chế cần được
nhận thức và có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính
sách dân tộc trên địa bàn huyện, nhất là trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ những vấn đề trên, cùng với mong muốn góp một phần nhỏ
bé của mình vào việc quán triệt và triển khai thực hiện chính sách dân tộc của
Đảng và Nhà nước trên địa bàn đang công tác, tôi đã chọn đề tài “Thực hiện
chính sách dân tộc từ thực tiễn huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi” làm đề tài cho
luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc là đối tượng nghiên cứu của nhiều
2
môn khoa học xã hội khác nhau như Triết học, Sử học, Dân tộc học, Xã hội học,
Chủ nghĩa xã hội khoa học,… Ở nước ta cho đến nay đã có rất nhiều công trình
khoa học đi sâu nghiên cứu về vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc, chính sách dân
tộc, những vấn đề về thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Có
thể kể đến một số công trình như:
Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam, của TS. Lê Ngọc
luận giải và làm sáng tỏ vấn đề dân tộc ở Việt Nam; đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước ta đối với đồng bào các dân tộc và công tác dân tộc hiện nay.
Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số cho sự nghiệp
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước do PGS, TS. Nguyễn Đăng
Thành chủ biên được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm
2012. Cuốn sách tuyển chọn một số công trình nghiên cứu của Đề án “Luận cứ
và giải pháp phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số nước ta đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
Giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
của TS. Phạm Thanh Hà, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản
năm 2014 đã phân tích cơ sở hình thành, đặc điểm và nhấn mạnh vai trò quan
trọng của việc giữ gìn bản sắc dân tộc, đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa và những
tác động hai mặt của toàn cầu hóa. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề ra những định
hướng và giải pháp chủ yếu nhằm gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc Việt Nam,
phát triển lành mạnh con người, xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước.
Đề tài nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần phát triển
kinh tế - xã hội các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi của TS Võ Tuấn Nhân đã
đánh giá thực trạng tình hình tổ chức thực hiện các chương trình, chính sách hỗ
trợ đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi trong
giai đoạn 2006 - 2010. Qua đó đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư ở
miền núi của tỉnh.
Ngoài ra còn có nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ có liên quan đến đề
tài này như:
4
Thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (2006) – Luận án Tiến sĩ Triết học của
Nguyễn Thị Phương Thủy.
Đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Khánh Hòa trong giai
thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các chính sách về dân tộc và quá trình
thực hiện chính sách dân tộc tại huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi.
- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2010 đến nay.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và
phương pháp nghiên cứu chính sách công. Đó là cách tiếp cận quy phạm chính
sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và
đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách. Lý thuyết
chính sách công được soi sáng qua thực tiễn của chính sách công giúp hình
thành lý luận về chính sách chuyên ngành.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin, phương pháp phân tích và tổng hợp,
thống kê và so sánh được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin
từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện,
Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các tài
liệu, công trình nghiên cứu, các báo cáo, thống kê của chính quyền, ban ngành
đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề thực
hiện chính sách dân tộc ở nước ta nói chung và thực tế tại huyện Sơn Hà, tỉnh
6
Quảng Ngãi nói riêng. Đồng thời, thu thập, tìm hiểu và vận dụng các lý thuyết
của ngành chính sách xã hội liên quan đến vấn đề thực hiện chính sách dân tộc.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Theo nghĩa thứ nhất, “dân tộc” được hiểu là “tộc người”. Với nghĩa này,
dân tộc là khái niệm dùng để chỉ cộng đồng người có các đặc trưng cơ bản về
ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác về cộng đồng có tính bền vững qua sự phát
triển lâu dài của lịch sử.
Hiểu theo nghĩa này, kết cấu dân cư của một quốc gia có thể bao gồm
nhiều dân tộc (tộc người) khác nhau, trong đó có những dân tộc chiếm đa số
trong thành phần dân cư và có những dân tộc thiểu số. Trong quá trình phát triển
của mình, trong bản thân mỗi dân tộc có thể có sự phân chia thành các nhóm
người có những đặc điểm khác nhau về nơi cư trú, văn hoá, lối sống, phong tục
tập quán, nhưng đều được coi là cùng một dân tộc, bởi có chung 3 điểm đặc
trưng của một dân tộc như nói trên đây.
Theo nghĩa thứ hai, dân tộc được hiểu là quốc gia dân tộc. Theo nghĩa
này, dân tộc là khái niệm dùng để chỉ cộng đồng chính trị - xã hội được hợp
thành bởi những tộc người khác nhau trên lãnh thổ của một quốc gia nhất định.
Như vậy, khái niệm dân tộc ở đây được hiểu đồng nghĩa với quốc gia đa tộc
người, và cũng đồng nghĩa với nhà nước thống nhất của các tộc người trên một
lãnh thổ có chủ quyền quốc gia.
Trong luận văn này, khái niệm dân tộc được sử dụng theo nghĩa thứ nhất,
tức là “tộc người”.
8
1.1.2. Chính sách dân tộc
Chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam là một bộ phận quan hệ hữu
cơ với công tác dân tộc và chính sách quốc gia, được qui định bởi quan điểm về
vấn đề dân tộc, xử lý vấn đề dân tộc và cách thức thực hiện công tác dân tộc.
Chính sách dân tộc ở Việt Nam mang tính chính trị sâu sắc, là sự thể chế hoá
nguyên tắc, chủ trương, đường lối Nghị quyết của Đảng và Nhà nước.
Hiện nay, khái niệm chính sách dân tộc được luận giải phong phú và đã
có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Dưới góc độ chính trị “chính sách dân tộc là
Vấn đề dân tộc mang tính lịch sử. Từ khi mới thành lập, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã xác định rõ tầm quan trọng của vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc
trong sự nghiệp cách mạng. Quan điểm cơ bản của Đảng là: “giải quyết vấn đề
dân tộc ở nước ta là giải phóng con người thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, thực
hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh; thực hiện dân
chủ, tự do cho các dân tộc, phát huy truyền thống đoàn kết xây dựng cuộc sống
ấm no, hạnh phúc” [57].
Đại hội VI của Đảng là Đại hội mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn điện
đất nước. Về vấn đề dân tộc, Đại hội khẳng định, “chính sách dân tộc luôn luôn
là một bộ phận trọng yếu trong chính sách xã hội”. Đồng thời, Đại hội nhấn
mạnh rằng, sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố, phát
triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta. Sau Đại hội VI, trước những
yêu cầu đòi hỏi của thực tế vùng dân tộc và miền núi, ngày 27/11/1989, Bộ
Chính trị ra Nghị quyết 22-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn phát
triển kinh tế - xã hội miền núi đã góp phần thúc đẩy phát triển một bước quan
trọng kinh tế - xã hội miền núi và các vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Tình hình thế giới những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ
XX có những biến động to lớn.Hệ thống các nước xã hội rơi vào khủng hoảng
sâu sắc và chủ nghĩa sụp đổ gây bất lợi cho phong trào cách mạng thế giới trong
đó có Việt Nam. Trong bối cảnh đó, Đại hội lần thứ VII của Đảng đã thông qua
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Lần
10
đầu tiên, chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc đã được
Đảng ta đưa vào trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh ghi rõ: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết,
tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên
con đường văn minh tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng
đồng các dân tộc Việt Nam”.
- Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc
phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải
quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển,
bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số;
giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu
số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất;
- Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi,
trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xóa đói, giảm
nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo
vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường
của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung
ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước;
- Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính
trị.
Tiếp tục tư tưởng của Nghị quyết về công tác dân tộc được thông qua tại
Hội nghị lần thứ bảy, khóa IX, Đại hội X khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn
kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta”.
Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp
đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Vấn đề dân tộc tiếp tục được Đại hội XI của Đảng quan tâm. Báo cáo
chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn
12
quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược
trong sự nghiệp cách mạng của nước ta”. Các dân tộc trong đại gia đình Việt
Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ, thực
hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ
văn hóa tốt đẹp của mình. (4) Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn
diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển
với đất nước”. Về mặt bản chất, chính sách dân tộc cũng là chính sách phát triển
cho một đối tượng đặc thù là đồng bào dân tộc thiểu số, ở đó đặc biệt chú trọng
cả khía cạnh chính trị, xã hội và kinh tế là nền tảng.
Cụ thể hóa các quan điểm của Đảng và các quy định trong Hiến pháp về
chính sach dân tộc, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày
14/01/2011 quy định các chính sách cụ thể sau:
a) Chính sách đầu tư và sử dụng nguồn lực: Kinh phí thực hiện các chính
sách dân tộc được bố trí từ nguồn ngân sách nhà nước theo quy định về phân cấp
ngân sách nhà nước hiện hành và các nguồn kinh phí hợp pháp khác để phát
triển toàn diện kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số, xóa đói, giảm nghèo, thu
hẹp khoảng cách giữa vùng dân tộc với các vùng khác; Quy hoạch, đào tạo, bồi
dưỡng, sử dụng, quản lý nguồn lao động là người dân tộc thiểu số tại chỗ, có chế
độ đãi ngộ hợp lý; Khai thác, sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên vùng
dân tộc thiểu số và đầu tư trở lại phù hợp điều kiện kinh tế - xã hội của địa
phương; Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, đưa khoa học và công nghệ tiên tiến vào
sản xuất nhằm nâng cao đời sống của đồng bào vùng dân tộc thiểu số.
b) Chính sách đầu tư phát triển bền vững: Đảm bảo việc đầu tư phát triển
kinh tế - xã hội, kết cấu hạ tầng thiết yếu vùng dân tộc thiểu số; khai thác có
hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, bảo vệ môi trường sinh thái; chú
trọng đào tạo nghề, sử dụng lao động là người tại chỗ, đảm bảo thu nhập ổn
định, xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng khác; Khôi
phục và phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống của đồng bào các dân
tộc thiểu số, phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; Thực hiện quy hoạch, sắp
14
xếp các điểm dân cư tập trung một cách hợp lý; Thực hiện các chương trình, đề
án xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, giải quyết cơ bản vấn đề vốn, đất ở,
g) Chính sách phát triển thể dục, thể thao vùng dân tộc thiểu số: Bảo tồn
và phát triển các môn thể dục, thể thao truyền thống của các dân tộc; đầu tư xây
dựng và hỗ trợ các hoạt động thể dục, thể thao, xây dựng sân vận động, nhà thi
đấu, trung tâm tập luyện thể dục thể thao ở vùng dân tộc thiểu số.
h) Chính sách phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu số: Tập trung hỗ trợ
xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch gắn với bảo vệ môi trường, sinh thái; hỗ
trợ quảng bá, đa dạng hóa các loại hình, các sản phẩm du lịch, khai thác hợp lý
các tiềm năng, danh lam thắng cảnh, phát triển du lịch.
i) Chính sách y tế, dân số: Đảm bảo đồng bào các dân tộc thiểu số được
sử dụng các dịch vụ y tế; thực hiện chương trình chăm sóc sức khoẻ, bảo hiểm y
tế cho đồng bào dân tộc thiểu số; củng cố, mở rộng cơ sở y tế; hỗ trợ việc bảo
tồn, khai thác, sử dụng những bài thuốc dân gian và phương pháp chữa bệnh cổ
truyền có giá trị của đồng bào các dân tộc đã được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền công nhận; bảo đảm nâng cao chất lượng dân số, phát triển dân số hợp lý
của từng dân tộc theo quy định của pháp luật.
k) Chính sách thông tin - truyền thông: Đầu tư phát triển thông tin truyền thông vùng dân tộc thiểu số, cung cấp một số phương tiện thiết yếu nhằm
đảm bảo quyền tiếp cận và hưởng thụ thông tin; xây dựng, củng cố hệ thống
thông tin tình hình dân tộc và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc; áp dụng
công nghệ thông tin, xây dựng và tổ chức thực hiện trong hệ thống cơ quan công
tác dân tộc; tăng cường và nâng cao chất lượng sử dụng ngôn ngữ dân tộc trên
các phương tiện thông tin đại chúng.
l) Chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý: Đồng bào
dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được
hưởng các dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí theo quy định của pháp luật.
m) Chính sách bảo vệ môi trường, sinh thái: Sử dụng, khai thác và phát
triển nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường, sinh thái vùng dân tộc thiểu số;
16
bảo vệ, cải tạo và đảm bảo cho vùng có tài nguyên được đầu tư trở lại phù hợp;
hay không đúng, phù hợp hay không phù hợp, chính sách đó có đi vào cuộc sống
hay không đi vào cuộc sống. Có những vấn đề trong giai đoạn hoạch định và xây
dựng chính sách dân tộc chưa phát sinh hoặc đã phát sinh ra nhưng các nhà
hoạch định chưa nhận thấy, đến giai đoạn tổ chức thực hiện mới phát hiện ra.
Chính quá trình thực hiện chính sách dân tộc với những hoạt động thực tiễn sẽ
góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực
tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống và nguyện vọng của nhân dân. Đồng thời
việc phân tích đánh giá một chính sách dân tộc (mức độ xấu, tốt) chỉ có cơ sở
đầy đủ, có sức thuyết phục sau khi thực hiện chính sách dân tộc đó.
Thực tiễn là chân lý, kết quả thực hiện chính sách dân tộc là thước đo, là
cơ sở đánh giá một cách chính xác, khách quan, chất lượng và hiệu quả của
chính sách dân tộc đó. Ngoài ra việc tổ chức thực hiện đưa chính sách dân tộc
vào thực tiễn cuộc sống là một quá trình phức tạp đầy biến động, chịu sự tác
động của một loạt các yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở cũng giúp cho các nhà hoạch
định và tổ chức thực hiện chính sách có kinh nghiệm đề ra được các giải pháp
hữu hiệu trong thực hiện chính sách. Như vậy thực hiện chính sách dân tộc có ý
nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt cần phải đặc biệt quan tâm đến khâu thực hiện
chính sách dân tộc. Thực tiễn thời gian qua có nhiều chính sách dân tộc chúng ta
tổ chức thực hiện tốt, nhưng cũng có một số chính sách thực hiện chưa tốt dẫn
đến các bức xúc của một bộ phận nhân dân các dân tộc, bị một số thế lực thù
địch lợi dụng xuyên tạc, tố cáo chúng ta vi phạm nhân quyền, nhất là đối với
đồng bào vùng dân tộc thiểu số.
Ngoài ra chính sách dân tộc là chính sách có tính đặc thù và nhạy cảm, do
đó trong tổ chức thực hiện chính sách dân tộc phải chú ý đến tính đặc thù này để
có giải pháp thích hợp, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả chính sách.
Tổ chức thực hiện chính sách dân tộc là yêu cầu tất yếu khách quan để
duy trì sự tồn tại của chính sách với công cụ vĩ mô theo yêu cầu quản lý của nhà
nước về dân tộc, đảm bảo quyền bình đẳng, tự do, phát triển giữa các dân tộc.
18