Thực hiện chính sách về xây dựng gia đình văn hóa từ thực tiễn huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hoá - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ ANH TUẤN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA TỪ
THỰC TIỄN HUYỆN CẨM THỦY, TỈNH THANH HÓA

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Châm

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Thực hiện chính sách về xây dựng gia đình văn hóa từ thực
tiễn huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hoá” là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của bản
thân tôi. Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả nêu trong luận văn đều trung thực
và có nguồn gốc rõ ràng, có điều gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 02 năm 2017
Học viên

Lê Anh Tuấn


giới rất quan tâm. Liên hợp quốc đã lấy năm 1994 là "Năm quốc tế gia đình", các
quốc gia trên thế giới cũng nhận thức rõ rằng: củng cố sự vững chắc của gia đình là
nhân tố quan trọng để ổn định và phát triển xã hội. Ở Việt Nam, chúng ta đã nhận
thức đúng vị trí của gia đình trong sự phát triển và tiến bộ xã hội cũng như hạnh
phúc của mỗi cá nhân, từ năm 2001 Chính phủ đã quyết định chọn ngày 28/6 hàng
năm là “Ngày gia đình Việt Nam”. Gia đình là nơi hội tụ, gắn kết mỗi thành viên
với nhau. Khi vui người ta luôn chia sẻ cùng gia đình và khi buồn cũng tìm sự an ủi,
chở che từ gia đình. Bởi thế, đối với mỗi con người Việt, gia đình là nơi thiêng
liêng nhất, thực sự là mái ấm của sự yên ổn, kính trọng và tình thương yêu. Nét đẹp
văn hóa gia đình trở thành nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam, góp phần làm
phong phú và rõ nét hơn bản sắc văn hóa của người dân Việt. Từ văn hóa gia đình
truyền thống đến hiện đại đã có sự biến đổi lớn, đặc biệt trong bối cảnh nước ta
đang trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế thị trường, của quá trình toàn cầu
hoá và hội nhập quốc tế. Trong đó, cùng với những biến đổi tích cực cũng đã nảy
sinh nhiều hiện tượng tiêu cực có nguy cơ ảnh hưởng đến các giá trị văn hóa gia
đình truyền thống Việt Nam. Từ thực tế đó, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến
vấn đề xây dựng văn hoá gia đình. Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa VIII đã nhấn mạnh đến trách nhiệm của gia đình: Giữ
gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam, nêu cao vai trò gương
mẫu của các bậc cha mẹ, coi trọng xây dựng gia đình văn hóa, xây dựng mối quan
hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng
chỉ rõ: Nêu cao trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng các
1


thành viên của mình lối sống văn hóa, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi
người và là tế bào lành mạnh của xã hội.
Cẩm Thủy là một huyện miền núi của tỉnh Thanh hóa, điều kiện kinh tế còn
nhiều khó khăn, tuy nhiên là vùng đất có nhiều truyền thống về lịch sử, văn hóa.
Trong giai đoạn hiện nay cùng với quá trình mở cửa và hội nhập của nền kinh tế thị

phong trào văn hóa cơ sở, trong đó, ông nhấn mạnh đến phong trào toàn dân đoàn
kết xây dựng đời sống văn hóa và việc đẩy mạnh thực hiện mục tiêu chương trình
nông thôn mới ở cơ sở [13].
Tác giả Trần Hữu Tòng - Trương Thìn (chủ biên), (1997) với công trình
“Xây dựng gia đình văn hóa trong sự nghiệp đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội đã giới thiệu những quan điểm chỉ đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước về vấn
đề gia đình và xây dựng gia đình văn hóa; những lý luận cơ bản về gia đình và gia
đình văn hóa. Nêu lên một số kinh nghiệm chỉ đạo phong trào ở các địa phương và
những tư liệu để cán bộ chuyên trách công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
tham gia chỉ đạo phong trào.
Tác giả Lê Thi (2002) với “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi
mới”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội đã phản ánh về sự biến đổi của gia đình Việt
nam trong những năm đầu của thế kỷ XXI. Đồng thời nhấn mạnh cơ sở hình thành
của gia đình văn hóa là sự kế thừa có chọn lọc giá trị đạo đức gia đình truyền thống
và sự tiếp biến giá trị tư tưởng hiện đại. Tiếp đó, đưa ra một số biện pháp xây dựng
gia đình văn hóa mà theo tác giả, biện pháp quan trọng nhất chính là vai trò và trách
nhiệm của mỗi gia đình.
Tác giả Khổng Diễn (chủ biên), (2001) với “Dân số - kế hoạch hóa gia đình
các dân tộc ở Hòa Bình”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội đã tập trung làm rõ thực
trạng gia đình đồng bào các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình đồng thời nêu lên điển hình
trong phong trào xây dựng gia đình văn hóa, giải pháp, phương hướng xây dựng gia
đình mới – gia đình văn hóa phù hợp với tâm lý truyền thống tộc người và sự phát
triển chung của đất nước trong thời kỳ Đổi mới công nghiệp hóa và hiện đại hóa.

3


Tác giả Đỗ Kim Thịnh với chuyên đề “Gia đình văn hóa, làng văn hóa trong
nông thôn hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 57(8/1997) và Lê Thi với chuyên đề
“Gia đình văn hóa trong sự đổi mới đất nước hiện nay”, Tạp chí thông tin lý luận số

Tác giả Đỗ Thị Thạch trong bài viết “Về xây dựng gia đình văn hóa Việt
Nam dưới ánh sáng Đại hội XI của Đảng”, Tạp chí Cộng sản, số 56 (8/2011) đã tập
trung phân tích làm rõ nghị quyết Đại hội XI về vai trò của gia đình, tầm quan trọng
của việc xây dựng gia đình văn hóa trong thời kỳ mới.
Ngoài ra, nghiên cứu về gia đình cũng còn là mảng chủ đề nhận được sự
quan tâm mạnh mẽ của nhiều luận án khoa học thạc sĩ, tiến sĩ. Đã có một số luận
văn, luận án như sau:
Tác giả Lê Cẩm Lệ (2001), “Phát huy vai trò của người phụ nữ trong xây
dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Bạc Liêu hiện nay”, luận văn thạc sỹ chuyên ngành
chủ nghĩa xã hội khoa học.
Tác giả Nguyễn Thị Luân (2005), “Xây dựng gia đình văn hóa ở làng nghề
truyền thống tỉnh Bắc Ninh hiện nay”, luận văn thạc sỹ chuyên ngành chủ nghĩa xã
hội khoa học.
Tác giả Vũ Thị Thanh Phúc (2007), “Giải quyết xung đột gia đình nhằm xây
dựng gia đình văn hóa ở nước ta hiện nay”, luận văn thạc sỹ chuyên ngành chủ
nghĩa xã hội khoa học.
Một số bài viết, bài chuyên khảo về gia đình cũng đã được đăng trên các tạp
chí như: Tạp chí Thanh niên; Khoa học và phụ nữ; Xã hội học; Tâm lý học; Nghiên
cứu văn hóa nghệ thuật; các báo cáo tại các hội nghị khoa học về gia đình, giới, phụ
nữ; dân số, trẻ em…
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu về gia đình và gia đình văn hóa kể
trên đã góp phần đáng kể trong việc tìm hiểu về vấn đề gia đình Việt Nam cả truyền
thống và hiện đại, đã khắc họa được những thay đổi trong gia đình Việt Nam nhất là
trong thời kỳ đổi mới từ 1986 tới nay. Những kinh nghiệm nghiên cứu cũng như
những gợi ý về lý thuyết và phương pháp luận từ những công trình đó là bài học
5


quý báu cho chúng tôi trong quá trình thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn
hóa ở luận văn này.

Việc thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa tại huyện Cẩm Thủy,
tỉnh Thanh Hóa, trong đó bao gồm cả việc nghiên cứu thực hiện các chính sách
chung của nhà nước, việc ban hành và thực hiện các chính sách cụ thể của địa
phương, kết quả tác động của chính sách và những vấn đề đặt ra từ đó.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về tình hình thực hiện chính sách xây dựng gia
đình văn hóa ở huyện Cẩm Thủy và có đánh giá, so sánh kết quả thực hiện với một
số địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng như huyện Thạch Thành,
huyện Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hoá
Khoảng thời gian được lựa chọn nghiên cứu là trong giai đoạn 2011 - 2016,
bởi vì giai đoạn này gắn với việc thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ huyện,
mục tiêu về xây dựng gia đình văn hoá được xây dựng cụ thể, đồng thời gắn với
chương trình xây dựng nôn thôn mới của địa phương do đó việc triển khai thực hiện
các nhiệm vụ về xây dựng gia đình văn hoá được thực hiện rõ nét hơn, cụ thể hơn,
thuận tiện cho việc nghiên cứu hơn.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn sử dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa học xã hội và
phương pháp nghiên cứu chính sách công. Lý thuyết chính sách công được áp dụng
qua thực tiễn giúp cho hình thành lý luận về chính sách xây dựng gia đình văn hoá.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau:
- Phương pháp thu thập nguồn tài liệu thứ cấp: Tập hợp và phân tích các
nguồn tư liệu có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu,
7


Nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa
phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền,
ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề

Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa ở
huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hoá.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xây dựng gia
đình văn hóa tại huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá.

9


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG
GIA ĐÌNH VĂN HÓA
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm về chính sách và chính sách văn hoá
1.1.1.1. Khái niệm về chính sách
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: "Chính sách là những chuẩn tắc
cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong thời gian
nhất định, trên nhiều lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng
của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế,
văn hóa …”. Theo GS James Anderson - cựu Chủ tịch Tổ chức nghiên cứu chính
sách của Hiệp hội khoa học Mỹ thì cho rằng: "Chính sách là một quá trình hành
động có mục đích được theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết
các vấn đề mà họ quan tâm"
Như vậy, có thể hiểu chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh
đạo hay các nhà quản lý đề ra để giải quyết một số vấn đề nào đó thuộc phạm vi
thẩm quyền của mình.
Chính sách công là một loại chính sách do các chủ thể quản lý nhà nước ban
hành và được hiểu là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước
nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề phát
triển theo mục tiêu tổng thể đã xác định [10, tr.12].

Gia đình là một khái niệm mở có nội dung phức tạp, đa dạng và có tính lịch
sử, đồng thời với tư cách là một thiết chế xã hội có sức sống bền bỉ mãnh liệt nhất,
gia đình đã khẳng định vị trí quan trọng của mình trong tiến trình phát triển của xã
hội loài người. Gia đình đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau phụ thuộc
vào từng góc nhìn của các ngành khoa học và nhà khoa học khác nhau, trong đó có
một số định nghĩa đáng chú ý như:

11


Mác coi gia đình là một trong những nhân tố đầu tiên tham gia quyết định sự
hình thành và phát triển của lịch sử, quan hệ giữa gia đình và xã hội như quan hệ
giữa tế bào với cơ thể sống, “Quan hệ thứ ba tham dự ngay từ đầu vào quá trình
phát triển lịch sử là hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người tạo
ra những người khác sinh sôi, nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và
con cái. Đó là gia đình”. [10, tr.41]
Thực tế đã chứng minh, những luận điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin
là hoàn toàn có cơ sở khoa học, có giá trị thực tiễn cao, đặc biệt là tư tưởng về
những biến đổi của gia đình phụ thuộc và gắn liền với sự biến đổi của các điều kiện
kinh tế xã hội.
UNESCO quan tâm đến giá trị của gia đình trong vốn tinh thần của nhân
loại, nghĩa là gia đình của tất cả các thời đại, các châu lục đều mang đặc trưng
chung của con người, đều mang tính nhân văn, nhân ái và nhân đạo và khẳng định:
gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng cùng sống chung và có ngân sách
chung.
Như vậy, theo quan điểm này, khái niệm “gia đình” mang ba đặc trưng:
Một là, gia đình được tạo ra bởi hai mối quan hệ hôn nhân và huyết thống thường
gồm vợ chồng, cha mẹ và con cái; Hai là, gia đình ra đời, tồn tại cùng với sự ra đời
và tồn tại của xã hội loài người; Ba là, gia đình là đơn vị nhỏ nhất trong xã hội có
nền kinh tế chung, gắn bó với nhau bởi quyền lợi và nghĩa vụ bắt buộc về mặt

đình văn hóa là sự kế thừa văn hóa gia đình truyền thống được nâng cao lên thành
giá trị văn hóa gia đình hiện đại - gia đình phát triển về vật chất và tinh thần thể
hiện qua nề nếp, kỷ cương, thuận hòa, êm ấm, yêu thương và có trách nhiệm với
nhau giữa các thành viên trong gia đình. Về điều này, Hồ Chí Minh khẳng định:
“Về tinh thần thì phải trên dưới thuận hòa không thiên tư thiên ái, bỏ thói mẹ chồng
hành hạ nàng dâu, dì ghẻ ghét bỏ con chồng. Về vật chất từ ăn mặc đến việc làm
phải ăn đều tiêu song có kế hoạch ngăn nắp. Cưới hỏi, giỗ tết nên đơn giản, tiết
kiệm. Trong nhà, ngoài vườn sạch sẽ gọn gàng. Đối với xóm giềng phải thân mật và
sẵn sàng giúp đỡ. Đối với việc làng, việc nước phải hăng hái làm gương. Người
13


trong nhà ai cũng biết chữ. Luôn luôn cố gắng làm cho nhà mình thành một nhà
kiểu mẫu trong làng. Các gia đình cần tích cực tham gia vào các hoạt động văn hóa
của cộng đồng và lôi cuốn các thành viên cùng tham gia qua đó giúp cho thành viên
gia đình tiếp thu những giá trị văn hóa dân tộc và làm cho nó trở thành giá trị văn
hóa gia đình. Thực hiện tốt chức năng biến văn hóa xã hội thành văn hóa cá nhân
bằng sự giáo dục và trao truyền văn hóa của mình”. [37, tr.100]
Ngày nay, gia đình văn hóa là gia đình phát huy được những truyền thống tốt
đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là
tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình
thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa
truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc với
những đặc trưng khái quát sau:
Thứ nhất, gia đình văn hóa là gia đình ấm no, thuận hòa, tiến bộ, khỏe mạnh
và hạnh phúc, gia đình có kinh tế ổn định, hòa thuận, có kỷ cương nền nếp, không
có người mắc các tệ nạn xã hội; thực hiện nếp sống văn minh, giữ gìn thuần phong
mỹ tục, không sử dụng loại văn hóa phẩm thuộc loại cấm lưu hành; trẻ em đang độ
tuổi đi học đều được đến trường, đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học trở lên; các

giá trị văn hóa của thời đại để phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, hướng tới mục tiêu làm cho gia đình thực sự
là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi người. Đề cao giá trị văn hóa gia
đình và vai trò của gia đình văn hóa là mục tiêu có tính chiến lược cấp bách trong sự
nghiệp xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, phù hợp với truyền
thống đạo lý của dân tộc và quy luật phát triển tất yếu của xã hội.
1.2. Thực tiễn chính sách xây dựng gia đình văn hóa tại Việt Nam
1.2.1. Nội dung của chính sách xây dựng gia đình văn hóa
Hiện nay, xây dựng gia đình văn hóa nổi lên như một nhiệm vụ trung tâm
trong giai đoạn đổi mới. Xét một cách tổng thể, chúng ta đã có một khuôn khổ
tương đối đồng bộ và thuận lợi cho sự phát triển của gia đình và làm cơ sở lý luận
15


cho chiến lược phát triển gia đình Việt Nam. Khẳng định phong trào xây dựng gia
đình văn hoá theo hướng phát huy những giá trị đạo đức tốt đẹp của gia đình truyền
thống, bồi dưỡng cho trẻ em đức hiếu thảo, trung nghĩa, lòng nhân ái, vị tha là sự hỗ
trợ cho việc tiếp thu các tư tưởng tiên tiến hiện đại, quán triệt tinh thần dân chủ,
bình đẳng trong quan hệ người và người. Do đó, trách nhiệm của gia đình trong việc
nuôi dạy thế hệ trẻ thành những con người chân chính, trở thành nguồn nhân lực có
chất lượng, thành những nhân tài xuất sắc cho đất nước là một yếu tố quyết định tới
sự thành công của Việt Nam trong thiên niên kỷ mới. Đây là điểm mấu chốt để bảo
tồn và phát huy bản sắc văn hoá, giữ gìn đạo lý truyền thống của dân tộc.
Từ khi xuất hiện (1960) đến nay, phong trào xây dựng gia đình văn hoá luôn
được Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm đôn đốc, đưa ra những quan
điểm đúng đắn, phù hợp với từng thời kỳ để góp phần vào phong trào chung của
quá trình phát triển kinh tế của đất nước. Những quan điểm, chủ trương đó được thể
hiện cụ thể trong các Nghị quyết qua các kỳ Đại hội của Đảng.
Tại Đại hội VI của Đảng khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội, có vai
trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, con người

nghiệp hóa, hiện đại hóa. Xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, bình đẳng, tiến bộ,
hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi
trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn
và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ tổ quốc”. [20, tr.103-104]
Đại hội lần thứ XI, Đảng đã xác định những giải pháp và phương hướng
quan trọng: “Tiếp tục đưa phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả; xây dựng nếp sống văn hóa trong các gia
đình, khu dân cư, đơn vị, doanh nghiệp… Sớm có chiến lược quốc gia về xây dựng
gia đình Việt Nam, góp phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của
văn hóa, con người Việt Nam, nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ…”. [21, tr.85].

17


Cụ thể hoá những quan điểm, chủ trương của Đảng, Chính phủ và các Bộ
ngành liên quan đã ban hành ra nhiều các văn bản chỉ đạo thực hiện, cụ thể như
sau:
Năm 1967, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 3-CP về việc đẩy
mạnh phong trào xây dựng gia đình văn hoá, gia đình 5 tốt đi đôi với việc xây dựng
nông thôn mới và thành thị mới để phát triển nếp sống văn minh. Tiếp đó, sau khi
đất nước được thống nhất, Bộ Văn hoá kết hợp với Trung ương Hội phụ nữ Việt
Nam ra thông tư liên bộ số 35/TT ngày 12/5/1975 với ba nội dung: “Xây dựng gia
đình hoà thuận, dân chủ, bình đẳng, hạnh phúc, tiến bộ; hăng hái lao động sản
xuất, thực hành tiết kiệm; nghiêm chỉnh chấp hành chính sách của Nhà nước”.
Năm 1998 Chính phủ ban hành Chương trình hành động số 1109/CP-VX về
thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 8
về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Năm 2000 Bộ văn hoá - Thông tin ban hành Quyết định số 05/2000/QĐBVHTT về việc ban hành Kế hoạch triển khai phong trào Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa.

nguy cơ mất đi tính bền vững vốn có. Những chuẩn mực được coi là nền tảng của
gia đình trước kia thường bị gộp vào với các yếu tố lạc hậu để phê phán mà không
phân biệt đâu là yếu tố tích cực cần sự ổn định, đâu là yếu tố tiêu cực cần phải biến
đổi. Chẳng hạn, quan hệ trong nhiều gia đình ngày nay trở nên lỏng lẻo, tình cảm
phai nhạt, con cái không tôn trọng bố mẹ, thậm chí hỗn xược, đánh đập, giết hại cha
mẹ; người lớn không quan tâm, buông trôi trách nhiệm trong việc chăm nom dạy dỗ
con trẻ; vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân và trước tuổi vị thành niên, hiện
tượng sống chung, sống thử trở thành một thách thức không nhỏ đối với các bậc cha
mẹ và các nhà quản lý chính quyền, đoàn thể; việc ly hôn gắn liền với nguyên nhân
xung đột gia đình, hiện tượng ngoại tình, lừa dối về tình cảm… để lại những hậu
quả xấu đối với tâm lý, tình cảm của hai bên và chăm sóc giáo dục con cái. Lối sống
thực dụng đang gặm nhấm những giá trị vốn được coi là thiêng liêng, bất khả xâm
phạm của người Việt. Bên cạnh đó, mặt trái của kinh tế thị trường trong những năm
19


gần đây đã và đang gây nên những chấn động, những thử thách đối với gia đình: xu
hướng chạy theo các tiện nghi vật chất, đề cao đồng tiền dẫn đến sự suy đồi đạo
đức, sự phân hoá giàu - nghèo giữa các gia đình có xu hướng tăng, hiện tượng phục
hồi các hủ tục và tiếp thu lối sống thực dụng, tiêu cực, văn hóa ngoại lai có chiều
hướng phát triển làm rạn nứt nền tảng gia đình và truyền thống đạo lý mà ông cha ta
đã xây dựng.
Do đó, cần có những giải pháp để tiếp tục phát huy những cái tốt, những mặt
tích cực mà chúng ta đã đạt được đồng thời cũng khắc phục những hạn chế đối với
sự phát triển gia đình. Xây dựng gia đình văn hóa có vai trò làm ổn định tình hình
kinh tế xã hội, tạo điều kiện để phát triển kinh tế, đem lại hạnh phúc cho mỗi thành
viên trong gia đình cũng như xã hội; đảm bảo nhu cầu vật chất, nhu cầu hưởng thụ
văn hóa cho các thành viên là một bước tiến mới của sự nghiệp xây dựng con người
mới. Từ thực tế trên, chúng ta thấy việc thực hiện tốt chính sách xây dựng gia đình
văn hóa là điều cần thiết. Đó là trách nhiệm đồng thời cũng là quyền lợi của mỗi cá

sách xây dựng gia đình văn hóa giúp cán bộ, công chức làm nhiệm vụ xây dựng gia
đình văn hóa ở các địa phương và nhân dân sẽ nắm bắt được việc triển khai thực
hiện chính sách trong thực tế.
Ở các địa phương, cơ sở thì tuyên truyền bằng hình thức như: băng rôn, khẩu
hiệu, pa nô, áp phích, phướn bên đường, qua hệ thống phát thanh cấp huyện, xã
tuyên truyền đến cán bộ, nhân dân biết và nắm được chính sách về xây dựng gia
đình văn hóa. Các ban ngành đoàn thể như Thanh niên, Nông dân, Phụ nữ, Cựu
chiến binh tuyên truyền đến từng hội viên của mình. Từ đó, mọi người dân sẽ tích
cực tham gia vào việc xây dựng gia đình văn hóa, nâng cao hiệu quả của việc thực
hiện chính sách trên thực tế.
1.2.4.3. Phân công, phối hợp thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn
hóa
Trong tổ chức và thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa thì phối
hợp thực hiện chính sách có ý nghĩa quan trọng tác động đến hiệu quả thực hiện
chính sách. Để tổ chức thực hiện chính sách có hiệu quả cần phải có sự phân công,
21


phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, các ngành, các cấp. Đó là việc phân công trách
nhiệm cụ thể cho các tổ chức, cá nhân có liên quan trong thực hiện chính sách; xác
định tổ chức, cá nhân chủ trì, chịu trách nhiệm chính, các tổ chức cá nhân tham gia
phối hợp trong quá trình thực hiện chính sách.
Về trách nhiệm đối với việc soạn thảo, ban hành và thực hiện chính sách xây
dựng gia đình văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chủ trì phối hợp với các
Bộ như: Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ, Bộ Giáo
dục và đào tạo, Bộ Thông tin và Truyền thông, Các cơ quan thuộc Chính Phủ và
UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
1.2.4.4. Duy trì chính sách xây dựng gia đình văn hóa
Khi chính sách được đưa vào thực hiện thì việc duy trì thực hiện chính sách
xây dựng gia đình văn hóa là việc làm rất quan trọng. Duy trì thực hiện chính sách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status