VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THÙY
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ
SỞ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN LƢƠNG TÀI,
TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THÙY
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ
SỞ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN LƢƠNG TÀI,
TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS TRẦN THỊ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH XÂY
DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ ..................................................... 8
1.1. Cơ sở lý luận về chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ sở .............. 8
1.2. Thực tiễn chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở nước ta ....... 21
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG ĐỜI
SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ Ở HUYỆN LƢƠNG TÀI .................................... 28
2.1. Khái quát về văn hóa huyện Lương Tài .............................................. 28
2.2. Văn bản chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tại huyện Lương
Tài ............................................................................................................ 31
2.3. Thực trạng thực hiện chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tại
huyện Lương Tài ...................................................................................... 33
2.4. Đánh giá việc thực hiện chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tại
huyện Lương Tài ……………………………………………………………53
Chƣơng 3. HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN
HÓA CƠ SỞ ............................................................................................ 57
3.1. Quan điểm hoàn thiện chính sách ....................................................... 57
3.2. Giải pháp ........................................................................................... 60
KẾT LUẬN ............................................................................................. 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................... 68
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ văn kiện đầu tiên về văn hóa, Đề cương văn hóa 1943, Đảng ta
đã xác định 3 nguyên tắc: dân tộc hóa, khoa học hóa và đại chúng hóa với mục
tiêu xây dựng một nền văn hóa cho toàn thể nhân dân. Trong hơn 70 năm qua,
mục tiêu đó vẫn được giữ vững và phát huy và một trong những hoạt động
quan trọng để đạt đến mục tiêu đó là công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ
sở. Hoạt động này đã được Đảng và Nhà nước ta đã xác định tại các Nghị
quyết, văn kiện của Đảng các văn bản chỉ đạo của Nhà nước. Đặc biệt trong
quản lý về văn hóa đang là yêu cầu cần thiết, trong đó, việc đưa phong trào xây
dựng đời sống văn hóa cơ sở thành một trong những nhiệm vụ về văn hóa là hết
sức quan trọng.
Huyện Lương Tài là một trong tám huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Bắc
Ninh. Trong những năm qua, huyện Lương Tài luôn quan tâm tới công tác xây
dựng đời sống văn hóa cơ sở ở các địa phương, các cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp đóng trên địa bàn huyện. Các hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa mới
trong việc cưới, tang, lễ hội, xây dựng các gia đình văn hóa, làng văn hóa, khu
dân cư văn hóa, đơn vị đạt chuẩn văn hóa đã được đẩy mạnh và đạt được nhiều
kết quả tốt. Công tác tuyên truyền, xây dựng các thiết chế văn hóa cũng được
huyện quan tâm đầu tư phát triển góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội của huyện. Tuy nhiên, việc thực hiện phong trào văn hóa cơ
sở ở huyện vẫn còn nhiều bất cập. Để có thể đáp ứng tốt hơn nữa những yêu cầu
nhiệm vụ về văn hóa cơ sở của huyện trong trong giai đoạn phát triển công
nghiệp hóa và hiện đại hóa của tỉnh, cần có những phương hướng, giải pháp phù
hợp hơn nữa để tổ chức, thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước về văn hóa một cách công bằng, dân chủ, hiệu lực,
hiệu quả.
Thực tiễn quản lý văn hóa hiện nay của huyện Lương Tài đặt ra vấn đề
cần có một sự nghiên cứu toàn diện về công tác xây dựng văn hóa cơ sở của
2
huyện. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, tôi chọn đề tài: “Thực hiện chính
sách về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở từ thực tiễn huyện Lương Tài, tỉnh
Bắc Ninh” làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu luận văn
Công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là một vấn đề đã được nhiều
nhà nghiên cứu, các nhà quản lý văn hóa quan tâm. Từ sau đổi mới (1986), nền
kinh tế nước ta phát triển theo hướng kinh tế thị trường, đất nước ta từng bước
tác giả gợi ý cho chúng tôi những kinh nghiệm quý báu.
- Bài “Nâng cao chất lượng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở và phong
trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” của tác giả Trần Minh
Chính phân tích hiệu quả của hoạt động văn hóa cơ sở. Ông viết: “Công tác tổ
chức, quản lý các hoạt động văn hoá cơ sở và phong trào Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa đã đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân. Các hoạt
động văn hoá cơ sở đã thực sự có chuyển biến tích cực làm cho văn hoá thấm
sâu vào mỗi gia đình, cộng đồng dân cư, tạo nên sự chuyển biến sâu sắc và trở
thành thước đo giá trị về chất lượng cuộc sống, về sự phát triển nhân cách con
người, về nét đẹp trong mỗi gia đình, dòng họ và cộng đồng dân cư; góp phần
xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, ổn định, tạo đà cho sự gia tăng phát
triển kinh tế ở mỗi địa phương”[12].
Trong bài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng đời sống văn
hóa cơ sở“, tác giả Nguyễn Văn Đại đã bàn về các giải pháp nâng cao chất
lượng phong trào văn hóa cơ sở, trong đó, ông nhấn mạnh đến phong trào toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa và việc đẩy mạnh thực hiện mục tiêu
chương trình nông thôn mới ở cơ sở [22].
Trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, Lương Tài là địa phương đạt nhiều hiệu quả
về công tác văn hóa cơ sở. Các bài viết đăng trên các phương tiện truyền thông
về văn hóa của tỉnh Bắc Ninh đã nhiều lần đưa tin về việc thực hiện phong trào
văn hóa cơ sở của huyện Lương Tài. Đó là các bài viết: Lương Tài nâng cao
chất lượng phong trào “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa” [15], “Lương Tài
4
đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” [25],
“Lương Tài chú trọng xây dựng các thiết chế văn hóa thể thao cơ sở” [17],
“Lương Tài xây dựng cơ quan, đơn vị đạt chuẩn văn hóa”[16].
Như vậy, việc nghiên cứu về đời sống văn hóa cơ sở đã được nghiên
cụ chính sách).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
Phạm vi thời gian: từ năm 2011 đến 2015
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận liên ngành xã hội học và phương pháp
nghiên cứu chính sách công. Việc tiếp cận quy phạm chính sách công sẽ được
vận dụng theo chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và
đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, được sử dụng để
thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài
nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà
nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo
cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên
quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
ở nước ta nói chung và thực tế huyện Lương Tài nói riêng.
- Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Luận văn sẽ sử dụng các số
liệu thống kê của huyện Lương Tài để phân tích thực trạng chính sách về phong
trào văn hóa cơ sở của địa phương.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận
Đề tài vận dụng các lý thuyết về chính sách công để nghiên cứu thực
tiễn, từ đó đề xuất các vấn đề hoàn thiện chính sách, có ý nghĩa bổ sung lý
6
luận. Kết quả đánh giá nghiên cứu làm sáng tỏ, minh chứng cho các lý thuyết
liên quan đến chính sách công, từ đó hình thành các tiến trình đề xuất các giải
và phát minh đó là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh
hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người sản sinh ra nhằm thích ứng những
nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
- Khái niệm về đời sống văn hóa
Đời sống văn hóa là toàn thể các hoạt động sống của con người nhằm đáp
ứng nhu cầu hưởng thụ và phát triển của con người. Đó là sự tích lũy, sáng tạo
trong quá trình lao động sản xuất, trong cuộc sống hàng ngày, trong mỗi con
người, trong mỗi gia đình và cộng đồng, nhằm định hướng cho lối sống, đạo đức
trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với môi trường
tự nhiên, hướng con người đến các giá trị chân, thiện, mỹ và thúc đẩy sự tiến bộ
của xã hội. Nhu cầu vật chất tinh thần được đáp ứng làm cho con người tồn tại
như một hình thể xã hội, tức một nhân cách văn hóa, khi xã hội phát triển cao đạt
tới trình độ khác nhau của nền văn minh, thì sự đáp ứng nhu cầu cũng phải đạt
tới trình độ phát triển phù hợp tương ứng.
- Khái niệm đơn vị cơ sở
8
Đơn vị cơ sở là một kiểu tổ chức cơ bản của xã hội, là địa bàn mà những
cộng đồng dân cư liên kết với nhau trong các sinh hoạt về đời sống vật chất và
đời sống tinh thần của con người diễn ra trong đời sống hằng ngày. Đơn vị cơ sở
có hai đặc điểm nhận biết chính là: địa bàn sốn ổn định và có tổ chức hành chính
ổn định. Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, đơn vị cơ sở được
nhắc đến là: làng, xã, phường ấp, nhà máy, công trường, nông trường, đơn vị lực
lượng vũ trang, công an nhân dân, cơ quan trường học, bệnh viện, cửa hàng và
cộng đồng xã hội tương đương. Đơn vị cơ sở là nơi diễn ra mọi hoạt động kinh
tế - chính trị - văn hóa xã hội là nơi thể hiện sự lãnh đạo của Đảng, nhà nước và
quyền làm chủ của nhân dân. Đây cũng là nơi để quần chúng nhân dân xây dựng
đời sống văn hóa và hưởng thụ các giá trị văn hóa, sáng tạo ra những văn hóa
mới.
tâm xây dựng rộng khắp trên mọi miền đất nước.
1.1.2.Nội dung của chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
1.1.2.1. Vấn đề chính sách
Nền văn hóa Việt Nam được xem là là tổng thể giá trị vật chất tinh thần,
do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo, trong quá trình dựng nước và giữa
nước. Nhờ nền tảng và sức mạnh đó nên cho dù bị đô hộ nhiều năm, nhiều thế kỷ
với ách đô hộ của chế độ phong kiến phương bắc, của thực dân và đế quốc
nhưng dân tộc ta vẫn giữ vững và phát huy được bản sắc riêng của mình, chẳng
những không bị đồng hóa mà còn quật cường đứng lên để giành độc lập cho dân
tộc. Trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Đảng ta đã xác định: Văn hóa là
nền tảng tinh thần, là mặt trận, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp
cách mạng lâu dài. Trong các Nghị quyết của các Hội nghị Trung ương của các
kỳ Đại hội tiếp theo, Đảng tiếp tục kiên trì quan điểm trên, đồng thời cũng chỉ ra
những bất cập, thậm chí là các vấn đề nghiêm trọng đang diễn ra trong đời sống
văn hóa nước ta thời gian qua.
Trước thực trạng phát triển của văn hóa hiện nay, có thể thấy, hiện vẫn
còn tồn tại những mặt hạn chế, yếu kém làm ảnh hưởng tới phát triển chung của
10
toàn xã hội. Do đó, cần có những giải pháp để tiếp tục phát huy những cái tốt,
những mặt tích cực mà chúng ta đã đạt được đồng thời cũng khắc phục những
hạn chế trong đời sống. Để nền văn hóa của chúng ta phát triển một cách thiết
thực, có chiều sâu và hiệu quả hơn thì việc xây dựng các chính sách để phát triển
văn hóa từ cấp cở sở là một chiến lược hết sức quan trọng của hoạt động văn hóa
hiện nay.
1.1.2.2. Mục tiêu của chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
Nghị quyết Hội nghị 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây
dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền
vững đất nước đã xác định mục tiêu chung là: Xây dựng nền văn hóa và con
hoá”; tổ chức thực hiện tốt các phong trào xây dựng gia đình văn hoá, cơ quan
công sở văn hoá, doanh nghiệp làng bản, khu phố, đơn vị văn hoá… góp phần
vào thực hiện sâu rộng, thiết thực và có hiệu quả ở các cơ sở.
Thứ hai, tiếp tục đầu tư xây dựng và hoàn thiện các thiết chế văn hoá
thông tin ở cơ sở, khai thác và phát huy có hiệu quả các thiết chế văn hoá này để
phục vụ tốt hơn nữa nhu cầu văn hoá của mọi tầng lớp nhân dân.
Thứ ba, đẩy mạnh công tác đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ hoạt động
văn hoá ở cơ sở, kể cả cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ, có
chính sách đãi ngộ thoả đáng để họ yên tâm phục vụ cộng đồng.
Thứ tư, kiên quyết đấu tranh bài trừ những tệ nạn xã hội và tiêu cực trong
đời sống xã hội.
Thứ năm, nâng cao vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ đảng và chính quyền,
phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc ở các cấp trong việc phối hợp lãnh đạo, tổ
chức, vận động quần chúng nhân dân tích cực tham gia xây dựng đời sống văn
hoá ở cơ sở.
1.1.3.Tổ chức thực hiện chính sách xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
1.1.3.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách xây dựng đời
sống văn hóa ở cơ sở
12
Đời sống văn hóa cơ sở là một vấn đề được Đảng và Nhà nước ta hết sức
quan tâm. Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là một trong những chủ trương lớn
của Đảng và Nhà nước trong công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ mới của
nước ta. Đây là chủ chương được đặt ra từ Đại hội V của Đảng, xác định cụ thể:
“Nhiệm vụ của cách mạng tư tưởng văn hóa là đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc
sống hàng ngày của nhân dân„. Đây là quan điểm có ý nghĩa chiến lược đối với
sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
thời với đó, Đảng ta cũng khẳng định phải tiếp tục củng cố và xây dựng môi
trường văn hóa lành mạnh.
Một vấn đề nổi bật trong chiến lược phát triển văn hóa của nước ta hiện
nay là thực hiện phong trào toàn dân đoàn kết xây đựng đời sống văn hóa. Việc
thực hiện phong trào này giúp cho công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
được các cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể và quần chúng nhân dân quan
tâm xây dựng trên cả nước, trong đó chú trọng nhiệm vụ „xây dựng các tiêu chí
về “gia đình văn hóa”, “làng văn hóa”, “khu phố văn hóa”… để phát huy tinh
thần tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau, nâng cao ý thức tự quản cộng đồng
và „xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa“ để tạo cơ hội hưởng thụ văn hóa một
cách công bằng cho người dân sống ở mọi miền Tổ quốc.
Như vậy, nhìn một cách tổng quát, quan điểm của Đảng ta về xây dựng và
phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là quan điểm
nhất quán và xuyên suốt thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước và hội nhập quốc tế. Trong quá trình thực hiện những quan điểm chỉ đạo
này, Đảng ta luôn chú ý tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, đề ra những nhiệm
vụ và giải pháp cụ thể để đáp ứng yêu cầu của từng thời điểm, từng lĩnh vực
khác nhau của hoạt động văn hoá. Chính vì vậy, trong những năm qua, phong
trào văn hoá nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần tích cực vào
sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đã và đang trở thành nền tảng tinh
thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội.
14
Những thành tựu lý luận của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời gian vừa qua cần được kế thừa
và phát huy hơn nữa trong giai đoạn chúng ta đang hội nhập kinh tế quốc tế hiện
nay.
1.1.3.2. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách xây dựng
đời sống văn hóa cơ sở
1.1.3.3. Phổ biến, tuyên truyền thức hiện chính sách xây dựng đời sống
văn hóa cơ sở
Sau khi hoàn thiện việc xây dựng các kế hoạch để thực hiện chính sách là
việc phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách. Việc phổ biến, tuyên truyền
chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ sở giúp cán bộ, công chức làm nhiệm
vụ xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở các địa phương và nhân dân sẽ nắm bắt
được việc thực hiện chính sách trong thực tế.
Việc phổ biến tuyên truyền về phong trào đã được chỉ rõ trong Văn kiện
Đại hội V của Đảng. Văn kiện viết rõ: Phải đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc
sống hàng ngày của nhân dân ở cơ sở, đảm bảo mỗi nhà máy, công trường, nông
trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, mỗi cơ quan đơn vị
trường học, bệnh viện, cửa hàng, mỗi xã, hợp tác xã, phường đều có đời sống
văn hóa. Hiện nay, biện pháp phổ biến và tuyên truyền về thực hiện xây dựng
đời sống văn hóa cơ sở được thể hiện trên hệ thống thông tin đại chúng. Với
những chính sách cải cách mới được tuyên truyền trên hệ thống truyền hình,
mạng Internet, hệ thống Báo chí … sẽ là cách nhanh nhất và hiệu quả nhất đến
với nhân dân.
Ở các địa phương, cơ sở thì tuyên truyền bằng các băng rôn, khẩu hiệu, pa
nô, áp phích, phướn bên đường, qua hệ thống phát thanh cấp huyện, xã tuyên
truyền đến cán bộ, nhân dân biết và nắm được chương trình xây dựng đời sống
văn hóa cơ sở. Các ban ngành đoàn thể như Thanh niên, Nông dân, Phụ nữ, Cựu
chiến binh tuyên truyền đến từng hội viên của mình. Từ đó, mọi người dân sẽ
16
tích cực tham gia vào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, nâng cao hiệu quả của
việc thực hiện chính sách trên thực tế.
1.1.3.4. Phân công, phối hợp thực hiện chính sách xây dựng đời sống
văn hóa cơ sở
Trong tổ chức và thực hiện chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
đời sống văn hóa cơ sở
Trong quá trình triển khai thực hiện chính sách theo dõi, đôn đốc, kiểm tra
là một nhiệm vụ, một khâu quan trọng trong thực hiện chính sách bởi nó giúp bổ
sung đồng thời hoàn thiện chính sách đồng thời tạo ra sự tập trung thống nhất
trong việc thực hiện mục tiêu chính sách.
Thực hiện chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên thực tế thì
việc theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện là rất quan trọng. Chính phủ thường
xuyên quan tâm kiểm tra tiến độ thực hiện của các Bộ, ngành, các bộ có trách
nhiệm kiểm tra các tỉnh, UBND cấp tỉnh sẽ kiểm tra đôn đốc thực hiện công tác
xây dựng văn hóa cơ sở ở các địa phương trên địa bàn quản lý. Việc kiểm tra
đon đốc thường xuyên việc thực hiện chính sách đảm bảo các mục tiêu mà kế
hoạch đã đặt ra hoàn thành đúng thời hạn.
1.1.3.7. Đánh giá tổng kết việc thực hiện chính sách xây dựng đời sống
văn hóa cơ sở
Trong công tác xây dựng và triển khai thực thi chính sách thì đánh giá
chính sách là một khâu không thể thiếu của quy trình chính sách. “Đánh giá
chính sách công là hoạt động kiểm tra chính sách bằng các tiêu chí cụ thể như sự
phù hợp, đầy đủ, tính hiệu quả, hiệu suất và tác động của chính sách nhằm cải
thiện việc hoạch định, xây dựng và thực hiện chính sách giải quyết thành công
các vấn đề chính sách công trong tương lai” (Đỗ Phú Hải – Đánh giá Chính sách
công tại Việt Nam).
18
Đánh giá việc thực hiện chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là
xem xét, kiểm định các mục tiêu của chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ
sở đã được triển khai trên thực tế có đạt được hay không như: mức sống của
người dân có tăng không, trình độ dân trí có được cải thiện không, mức hưởng
thụ các giá trị văn hóa …Do đó, hàng năm, háng tháng, quý thì các cơ quan, tổ
chức, đơn vị tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện để từ đó rút ra những
thiện cơ chế, chính sách tài chính và cơ chế quản lý tài chính trong lĩnh vực văn
hóa, nghệ thuật để sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính đầu tư cho văn hóa;
xây dựng các chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế - xã hội đầu tư cho
văn hóa.
Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực
hiện cải cách hành chính trong công tác quản lý văn hóa; xác định biên chế, xây
dựng các chế độ, chính sách đối với cán bộ ngành văn hóa, trí thức, văn nghệ sĩ,
đối với các tập thể, cá nhân tham gia xã hội hóa các hoạt động văn hóa.
Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch và các Bộ, ngành liên quan xây dựng cơ chế, chính sách để phát triển
và quản lý tốt xuất bản phẩm về văn hóa, văn học, nghệ thuật; văn hóa mạng;
quản lý phim ảnh, chương trình ca nhạc nước ngoài đưa lên sóng truyền hình.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ theo chức năng và
nhiệm vụ tổ chức, chỉ đạo,phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các
Bộ, cơ quan khác triển khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển văn hóa trên phạm
vi toàn quốc.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách
nhiệm phát triển văn hóa trên địa bàn theo thẩm quyền; xây dựng và chỉ đạo thực
hiện các kế hoạch văn hóa và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương.
20