VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ VĂN ANH
TỘI PHẠM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH: TÌNH HÌNH,
NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP PHÕNG NGỪA
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số
: 62.38.01.05
LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHẠM VĂN TỈNH
HÀ NỘI - 2017
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ....................................... 6
1.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam ........................................................................... 6
1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ......................................................................... 15
1.3. Đánh giá chung tình hình nghiên cứu .................................................................... 18
CHƢƠNG 2. TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
GIAI ĐOẠN 2006-2015............................................................................................... 23
2.1. Những vấn đề lý luận chung về tình hình tội phạm ............................................... 23
2.2. Phần hiện của tình hình tội phạm ........................................................................... 27
BLHS
Bộ luật hình sự
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
CTKGG
Cải tạo không giam giữ
CQĐT
Cơ quan điều tra
PNTP
Phòng ngừa tội phạm
TTHS
Tố tụng hình sự
TA
Tòa án
TAND
Bảng 2.2
Cơ số tội phạm của THTP ở cả nước và ở tỉnh Nam Định
163
Bảng 2.3
Cơ số THTP của Nam Định và một số tỉnh (thành phố)
166
Bảng 2.4
Tỉ lệ giữa bị cáo - vụ của THTP trên địa bàn tỉnh Nam Định và cả nước
168
Bảng 2.5
Tỉ lệ giữa số bị cáo và số vụ của THTP tỉnh Nam Định và một số tỉnh
169
Bảng 2.6
THTP xét theo mức độ nhóm, theo số vụ của Nam Định từ 2006 - 2015
170
174
Bảng 2.13
Cơ cấu về mức độ của THTP giai đoạn 2006-2015 được tính toán theo
175
dân số trên 10 địa danh của tỉnh Nam Định
Cơ cấu về mức độ của THTP giai đoạn 2006-2015 được tính toán theo
175
diện tích trên 10 địa danh của tỉnh Nam Định
Cơ cấu về mức độ của THTP 2006-2015 tính toán trên 10 địa danh tỉnh
Bảng 2.15
176
Nam Định được xác định trên cơ sở kết hợp yếu tố dân cư và diện tích
Bảng 2.14
Bảng 2.16
Cơ cấu về mức độ của THTP giai đoạn 2006-2015 xét theo nhóm tội ở
176
các huyện, thành phố trong tỉnh Nam Định
Bảng 2.17
Cơ cấu về mức độ của THTP giai đoạn 2006-2015 xét theo nhóm tội
177
mức độ cao ở các huyện, thành phố trong tỉnh Nam Định
Bảng 2.18 Cơ cấu của THTP ở tỉnh Nam Định xét theo hình phạt chính
Mức độ tổng quan của THTP ở tỉnh Nam Định 2006-2015
162
Biểu đồ 2.1.2
Mức độ tổng quan của THTP cả nước 2006-2015
163
Biểu đồ 2.2.1
Số vụ/100.000 dân của THTP tỉnh Nam Định giai đoạn 2006-2015
164
Biểu đồ 2.2.2
Số bị cáo/100.000 dân của tỉnh Nam Định giai đoạn 2006-2015
165
Biểu đồ 2.2.3
So sánh bị cáo/100.000 dân giữa Nam Định - cả nước (2006-2015)
165
Biểu đồ 2.2.4
Mức độ tăng, giảm theo số vụ của nhóm tội mức độ cao của THTP
tỉnh Nam Định giai đoạn 2006-2015
170
Biểu đồ 2.7
Mức độ tăng, giảm theo số bị cáo của nhóm tội mức độ cao của
THTP tỉnh Nam Định giai đoạn 2006-2015
171
Biểu đồ 2.10
Mức độ tăng, giảm theo số bị cáo của 4 tội danh có mức độ cao
173
PHỤ LỤC 2: DANH MỤC 217 BẢN ÁN
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nam Định có vị trí thuộc đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp với tỉnh Thái Bình ở
phía Đông Bắc, tỉnh Ninh Bình ở phía Nam, tỉnh Hà Nam ở phía Tây Bắc, giáp biển
(vịnh Bắc Bộ) ở phía Đông và cách thủ đô Hà Nội 100 km về phía Bắc, có diện tích
1.652,29 km². Theo điều tra dân số ngày 01/04/2014 Nam Định có 1,805,771 người
với mật độ dân số 1,196 người/km² [152]. Nam Định có 10 đơn vị hành chính cấp
huyện là thành phố Nam Định và 9 huyện là Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Ý
Yên, Vụ Bản, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường, Mĩ Lộc, trong đó có một thành
phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn tỉnh... với mục tiêu đấu tranh không khoan
nhượng với các loại tội phạm trên địa bàn tỉnh.
Như vậy, có thể nói tất cả hệ thống chính trị địa phương đã vào cuộc rất tích
cực, với quyết tâm cao trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm song THTP
vẫn diễn biến hết sức phức tạp cả về tính chất, mức độ, với thủ đoạn tội phạm ngày
càng tinh vi, xảo quyệt, gây bức xúc trong nhân dân và là lực cản lớn cho sự phát
triển các mặt kinh tế - xã hội của tỉnh. Từ năm 2006 đến năm 2015, TAND các cấp
tỉnh Nam Định đã xét xử sơ thẩm tổng số 9186 vụ án, với 13.812 bị cáo, bình quân
năm là 919 vụ với 1382 bị cáo và đang có xu hướng gia tăng. Nếu năm 2006 xét xử
817 vụ với 1195 bị cáo, thì năm 2014 xét xử 1098 vụ với 1784 bị cáo, tức là tăng
gấp 1,34 lần về số vụ và 1,5 về số bị cáo.
Trước thực tế như vậy của THTP, đặc biệt là để góp phần thực hiện thiết thực
mục tiêu đã đề ra của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Nam Định về phòng ngừa tội
phạm. Do đó, việc nghiên cứu THTP ở Nam Định phải được thực hiện một cách cơ
bản và chuyên sâu theo hướng phòng ngừa, tức là việc phòng ngừa tội phạm phải
được nghiên cứu và thiết lập trên cơ sở hướng dẫn của khoa học chuyên ngành. Đó
là tội phạm học, theo đó phòng ngừa tội phạm với tính cách là mục đích cuối cùng
của khoa học này, chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi nó được thiết lập trên cơ sở đã
làm rõ được bản chất THTP và xác định được nguyên nhân và điều kiện của hiện
tượng tiêu cực này.
Với cách nhìn nhận như vậy, đề tài "Tội phạm trên địa bàn tỉnh Nam Định: Tình
hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa” đã được chọn lựa để nghiên cứu.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận án đã được thể hiện rõ ngay trong tên của
đề tài, tức là phòng ngừa tội phạm trên địa bàn tỉnh Nam Định. Cụ thể là, trên cơ sở
nghiên cứu THTP, nguyên nhân và điều kiện của THTP trên địa bàn tỉnh Nam
Định, luận án kiến nghị các giải pháp phòng ngừa tội phạm phù hợp với điều kiện
địa phương Nam Định.
2
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, mang tính đặc trưng
tội phạm học đối với từng chương, cụ thể như sau:
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu trong chương 1 gồm:
Phương pháp nghiên cứu tổng hợp; phương pháp phân tích; phương pháp so sánh;
3
phương pháp lịch sử; phương pháp hệ thống; phương pháp kế thừa. Những phương
pháp này giúp cho việc lược thuật và đánh giá được tình hình nghiên cứu đề tài trên
cơ sở của các công trình khoa học trong nước và nước ngoài, tìm ra những kinh
nghiệm, tư tưởng hay ý tưởng cho phép kế thừa và phát triển đối với các vấn đề
then chốt của đề tài.
Trong chương 2 đã sử dụng các phương pháp khác nhau để giải quyết những
vấn đề cụ thể: Sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương
pháp hệ thống hóa, phương pháp so sánh để làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản của
TPH; sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp so
sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp logic, phương pháp tiếp cận đa ngành liên ngành để làm rõ THTP trên địa bàn tỉnh Nam Định.
Trong chương 3 các phương pháp chủ yếu được sử dụng gồm: Sử dụng
phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp hệ thống hóa, phương
pháp so sánh để làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản của tội phạm học; sử dụng
phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp so sánh, phương
pháp phân tích để tìm ra những nguyên nhân và điều kiện chủ yếu dẫn đến thực
trạng THTP trên địa bàn tỉnh Nam Định trong thời gian qua.
Trong chương 4 sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp dự
báo, phương pháp tiếp cận đa ngành - liên ngành để đưa ra các biện pháp cụ thể
nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa THTP trên địa bàn tỉnh Nam Định.
5. Điểm mới của luận án
Thứ nhất: Trên cơ sở kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, luận án đã làm rõ nhất
bức tranh toàn cảnh của tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Nam Định giai đoạn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4
chương:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2. Tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Nam Định giai đoạn 20062015
Chương 3. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh
Nam Định
Chương 4. Dự báo tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Nam Định và các giải
pháp phòng ngừa
5
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Với nhận thức để có thể thực hiện được đề tài đang nói ở đây, Luận án không
chỉ kế thừa những công trình đã công bố về THTP nói chung mà còn tiếp thu có
chọn lọc những công trình lý luận về TPH để triển khai nghiên cứu thực tế những
vấn đề cơ bản của đề tài. Vì thế, tình hình nghiên cứu đề tài phải có hai nội dung đề
cập: Một là tình hình nghiên cứu phát triển lý luận chung của TPH, hai là tình hình
nghiên cứu thực tế cụ thể, tức là, trong tình hình nghiên cứu ở Việt Nam, cũng như
trong tình hình nghiên cứu trên thế giới đều hàm chứa hai nội dung như vậy.
1.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.1.1. Tình hình nghiên cứu phát triển lý luận chung của tội phạm học
Hiện nay ở Việt Nam có khá nhiều sách chuyên khảo về TPH, những cuốn
sách mà trong đó cho phép người đọc hiểu được lý luận chung về các vấn đề cơ bản
của TPH với tính cách là một khoa học pháp lý hình sự độc lập. Sau đây, theo trình
tự thời gian ấn hành, một số công trình đã được tập hợp và nghiên cứu sâu:
a) Những vấn đề lý luận về luật hình sự, tố tụng hình sự và TPH, do Viện
thông tin khoa học xã hội xuất bản năm 1982. Phần III có nội dung nghiên cứu
những vấn đề lý luận về TPH. Các tác giả tên tuổi như Buchholz E, John Lekschas,
là phần rõ của THTP) đã được đề cập. Nội dung chương 2, GS.TS Đào Trí Úc đưa
ra một mô hình nhận thức về tội phạm và kẻ phạm tội cũng như nguyên nhân của tội
phạm “1. Những quan niệm về chuẩn mực (mô hình) về con người; 2. Xác định
những cái mà con người cụ thể không có được, tức là sự thiếu tính cần có; 3. Xác
nhận nguyên nhân của cái thiếu đó; 4. Xác định phương pháp đưa con người trở lại
mô hình cần có, tức là phản ứng với hiện trạng; 5. Xác định mục đích của việc sử
dụng phương pháp đó”, các vấn đề nhận thức về TPH dù có khác nhau nhưng đều
có mô hình nhận thức chung này, từ nhận định đó tác giả đi phân tích những quan
điểm khác nhau về TPH.
c) Tội phạm học Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, của Viện
nghiên cứu nhà nước và pháp luật, do NXB Công an nhân dân xuất bản năm 2000.
Có nội dung nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của TPH Việt Nam; về
đối tượng nghiên cứu của TPH Việt Nam; về phương pháp nghiên cứu TPH và
những vấn đề phòng ngừa tội phạm. Khi phân tích về mối quan hệ giữa tội phạm và
THTP, tác giả đã đề cập đến cặp phạm trù “cái chung” và “cái riêng”. Điều đó có
nghĩa là mối quan hệ giữa tội phạm và THTP là mối quan hệ giữa “cái chung” và
“cái riêng”, THTP với tính cách là hiện tượng xã hội giữ vai trò là “cái chung” nên
7
chỉ tồn tại và biểu hiện thông qua các tội phạm với tính cách là các hành vi của từng cá
nhân riêng biệt giữ vai trò là “cái riêng”. Về nội dung dự báo THTP, GS.TS Võ Khánh
Vinh đã đặc biệt nhấn mạnh “... dự báo THTP không chỉ là hướng nghiên cứu của TPH
mà còn là nhu cầu cấp bách của thực tế đấu tranh phòng và chống tội phạm”.
d) Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, của GS.TS Nguyễn Xuân
Yêm, do NXB Công an nhân dân ấn hành năm 2001. Tác giả đề cập đến cả TPH đại
cương, cả TPH chuyên ngành, tức là đề cập đến việc phòng ngừa một số loại THTP
cụ thể, kể cả tội phạm có ở Việt Nam, kể cả tội phạm chưa có ở Việt Nam như tội
khủng bố. Nội dung phần II - Phòng ngừa các tội phạm cụ thể, từ chương 12 đến
chương 36. Tác giả chỉ nêu ra một số đặc điểm TPH của tội phạm nghiên cứu, qua
Ngoài ra, cũng về chủ đề lý luận chung của TPH còn phải nói đến những công
trình đã công bố rải rác trên các tạp chí chuyên ngành, đó là: Lê Thị Sơn (2011),
“Tội phạm học - Khái niệm và đối tượng nghiên cứu”, Tạp chí Luật học (2). Nguyễn
Ngọc Hòa (2009), “Các khái niệm tội phạm và tình hình tội phạm trong tội phạm
học”, Tạp chí Luật học (7). Trần Hữu Tráng (2009), “Tọa đàm về một số thuật ngữ
tội phạm học”, Tạp chí Luật học (7). Phạm Văn Tỉnh (2007), “Khái niệm tội phạm
và tình hình tội phạm dưới góc độ tội phạm học”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật
(6). Nguyễn Tuyết Mai (2013), “Khái niệm tội phạm Quốc tế”, Tạp chí Luật học
(2). Phạm Văn Tỉnh (2008), “Tội phạm học Việt Nam và phòng ngừa tội phạm”,
Tạp chí Nhà nước và pháp luật (7). Phạm Văn Tỉnh (2009), “Khái niệm tình hình tội
phạm với những hệ lụy của sự "Dễ tính” trong khoa học”, Tạp chí Nhà nước và
pháp luật (11). Phạm Văn Tỉnh (2004), “Nghiên cứu tình hình tội danh dưới góc độ
tội phạm học - Một hướng tiếp cận để hoàn thiện phần các tội phạm của Bộ luật
hình sự”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (11). Trần Hữu Tráng (2000), “Một số vấn
đề về tình hình tội phạm ẩn ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học (3). Phạm Văn Tỉnh
(2014), “Nội dung của chiến lược phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam hiện nay - nhận
thức và lý luận”, Tạp chí nhân lực khoa học xã hội (3). Lý Văn Quyền (2013),
“Nguyên nhân của tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và
pháp luật (8). Trần Hữu Tráng (2010), “Bàn về nguyên nhân của tội phạm”, Tạp chí
Luật học (11). Phạm Văn Tỉnh (2008), “Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội
phạm ở nước ta hiện nay - Mô hình lý luận”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (6).
Trần Hữu Tráng (2010), “Bàn về nguyên nhân của tội phạm”, Tạp chí Luật học
(11). Trần Hữu Quân (2012), “Một số vấn đề về phòng ngừa tội phạm của ngành
tòa án nhân dân trong tình hình hiện nay”, Tạp chí luật học (12). Nguyễn Thị
Phương Hoa (2010), “Đánh giá hiệu quả phòng ngừa tội phạm - Một số vấn đề lý
9
luận”, Tạp chí khoa học pháp lý (1). Trần Hữu Tráng (2010), “Tác động của kinh tế
thị trường đến tình hình tội phạm và phòng ngừa tội phạm ở nước ta”, Tạp chí Luật
tình hình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài về những vấn đề liên quan đến nội
dung nghiên cứu; Phân tích, làm sáng tỏ dưới góc độ tội phạm học tình hình tội rửa
tiền, những đặc điểm nhân thân người phạm tội, nguyên nhân và điều kiện của tội
phạm; về các dấu hiệu pháp lý và các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội rửa tiền
ở Việt Nam. Từ đó góp phần bổ sung cho lý luận tội phạm học, luật hình sự và góp
phần đề xuất hoàn thiện pháp luật; Phân tích, làm rõ thực trạng và nguyên nhân của
tội rửa tiền, dự báo tình hình và đề xuất các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội
rửa tiền ở Việt Nam hiện nay.
- Luận án tiến sĩ Luật học “Đấu tranh phòng, chống tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Thái Bình”, năm
2016 của tác giả Phạm Thị Mỹ Hương. Nội dung luận án tác giả đã khái quát lý
luận về tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác; Phân tích, đánh giá tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khoẻ của người khác trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong thời gian từ năm 2006
đến năm 2015; Phân tích nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Thái
Bình trong thời gian từ năm 2006 đến năm 2015; Khái quát lý luận phòng ngừa tình
hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và thực
tiễn phòng ngừa tình hình tội này trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong thời gian nói
trên; Dự báo tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của
người khác trên địa bàn tỉnh Thái Bình; Đề xuất các biện pháp tăng cường phòng
ngừa tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong thời gian tới.
- Luận án tiến sĩ Luật học “Phòng, chống tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”, của tác
giả Huỳnh Ngọc Ánh, bảo vệ năm 2015 tại Học viện Khoa học xã hội. Tác giả tập
trung phân tích làm rõ nội hàm của khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo pháp luật hình
giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống loại tội phạm này ở Việt Nam.
- Luận án tiến sĩ Luật học “ Đấu tranh phòng chống các tội phạm về ma túy ở
Việt Nam”, của tác giả Nguyễn Tuyết Mai, bảo vệ năm 2007 tại Trường Đại học
luật Hà Nội. Luận án đánh giá thực trạng tình hình các tội về ma túy ở Việt Nam, có
tham khảo kinh nghiệm đấu tranh phòng chống các tội phạm về ma túy của Liên
hợp quốc và một số quốc gia trên thế giới, phân tích, làm rõ nguyên nhân, điều kiện
của thực trạng đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống
12
loại tội phạm này ở Việt Nam.
- Luận án tiến sĩ Luật học “Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả, thực
trạng và biện pháp phòng, chống”, của tác giả Trần Ngọc Việt, bảo vệ năm 2001 tại
Viện nhà nước và pháp luật. Luận án đánh giá thực trạng tình hình tội làm hàng giả,
tội buôn bán hàng giả ở Việt Nam, phân tích, làm rõ nguyên nhân, điều kiện của
thực trạng đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống loại
tội phạm này ở Việt Nam. Nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự qua các
giai đoạn để làm rõ những ưu điểm và hạn chế trong BLHS và các văn bản pháp
luật khác có liên quan, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm sử đổi, hoàn thiện các quy
định của pháp luật liên quan.
- Luận văn thạc sĩ Luật học “Tội phạm trên địa bàn huyện Thanh Chương, tỉnh
Nghệ An: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa”, của tác giả Nguyễn
Thị Ánh Tuyết, bảo vệ năm 2016 tại Học viện Khoa học xã hội. Luận văn đánh giá
thực trạng THTP trên địa bàn huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, phân tích, làm
rõ nguyên nhân, điều kiện của thực trạng đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu
quả đấu tranh phòng chống loại tội phạm này trên địa bàn.
- Luận văn thạc sĩ Luật học “Tội giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam
từ thực tiễn tỉnh Nam Định”, của tác giả Nguyễn Chí Công, bảo vệ năm 2016 tại
Học viện Khoa học xã hội. Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và các quy
định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội giết người, thực tiễn định tội danh và
Thành phố Hà Nội: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa”, của tác giả
Vũ Thị Thu Hà, bảo vệ năm 2015 tại Học viện Khoa học xã hội. Luận văn có mục
đích là nghiên cứu tìm hiểu về tình hình tội phạm tại quận Hai Bà Trưng thành phố
Hà Nội từ năm 2010 đến hết năm 2014, để từ đó tìm ra nguyên nhân và điều kiện và
chỉ ra hệ thống các biện pháp phòng ngừa tội phạm trên địa bàn quận Hai Bà Trưng.
- Luận văn thạc sĩ Luật học “Tội phạm trên địa bàn huyện Phú Ninh, tỉnh
Quảng Nam: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa”, của tác giả
Nguyễn Quốc Hùng, bảo vệ năm 2014 tại Học viện Khoa học xã hội. Luận văn
đánh giá thực trạng THTP trên địa bàn huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, phân
tích, làm rõ nguyên nhân, điều kiện của thực trạng đó, đề xuất các giải pháp nâng
cao hiệu quả đấu tranh phòng chống loại tội phạm này trên địa bàn.
- Luận văn thạc sĩ Luật học “Đấu tranh phòng, chống tội hiếp dâm trên địa
bàn tỉnh Sóc Trăng”, của tác giả Phan Thị Ngoan, bảo vệ năm 2013 tại Học viện
Khoa học xã hội. Luận văn đánh giá thực trạng tình hình tội hiếp dâm trên địa bàn
tỉnh Sóc Trăng và công tác đấu tranh phòng, chống tội hiếp dâm trên địa bàn tỉnh
14
Sóc Trăng.
- Luận văn thạc sĩ Luật học “Phòng ngừa tội cướp giật tài sản tên địa bàn
thành phố Hà Nội”, của tác giả Nguyễn Hải Yến, bảo vệ năm 2013 tại Trường Đại
học luật Hà Nội. Luận văn đánh giá tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành
phố Hà Nội trong thời gian từ năm 2008 đến năm 2012; Làm sáng tỏ nguyên nhân
của tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian từ năm 2008
đến năm 2012; Dự báo tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội
trong thời gian tới; Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội cướp
giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Luận văn thạc sĩ Luật học “Phòng ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh
Tuyên Quang”, của tác giả Hà Thị Nhung, bảo vệ năm 2013 tại Trường Đại học luật
Hà Nội. Luận văn đánh giá tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Tuyên
NXB Tiến Bộ, Maxcova năm 1989. Tác giả đã đề cập đến các biện pháp đấu tranh
chống tội phạm. Qua đó, tác giả cũng đã khẳng định các chính sách kinh tế văn hóa
xã hội đều là các biện pháp đấu tranh chống tội phạm, theo tác giả chủ thể của hoạt
động chống tội phạm gồm cả các nhà khoa học bên cạnh các chủ thể là cơ quan nhà
nước, các tổ chức xã hội.
d) Lý thuyết phòng ngừa sớm (1996)- crime prevention by early intervention,
trong tập san Europe an Journal on Criminal Policy and Reasearch, Kugler
Publications, Amterdam/New York. Tác giả đã đề cập đến nội dung về các biện
pháp phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thực hiện, trong đó là phương
pháp sàng lọc đối tượng có nguy cơ phạm tội, tác giả chú trọng phân tích những
biến đổi mạnh về tâm sinh lý của độ tuổi này, đó là đặc tính dễ bị kích động, thường
đưa ra những quyết định nông nổi dẫn đến các hành vi phạm tội. Chính vì vậy biện
pháp phòng ngừa tốt nhất là sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội nhằm
giúp đỡ các em giải quyết những vấn đề không ổn mà cuộc sống các em đã gặp.
đ) Giáo trình Tội phạm học (1998) của Tim Newbukin, Vương Quốc Anh
năm 1998, có nội dung nghiên cứu về phòng chống tội phạm tình huống, phòng
chống tội phạm cộng đồng và ngăn ngừa tội phạm vào mức độ liên kết.
e) Giáo trình Criminology today (2002), của Frank Schmalleger, Nxb.
Prentice Hall. Tác giả cuốn sách đã nhấn mạnh đến hai vấn đề là đối tượng nghiên
cứu và tính liên nghành của TPH. Điều này có nghĩa là nghiên cứu về TPH phải
hiểu biết các vấn đề của khoa học khác, tổng các vấn đề liên quan đến tội phạm, tìm
ra các quy luật để có các giải pháp phòng ngừa.
f) Tội phạm học với ví dụ thực tế (2007) của Hans Dieter Schwind, tái bản
16
lần thứ 17, Nxb Kriminalistik, Heidelberg. Tác giả đề cập đến một loạt vấn đề thiết
thực cho việc nhận thức toàn diện về TPH từ quá trình hình thành ở các thế kỷ trước
cho đến hiện đại. Đặc biệt, tác giả giải thích tại sao trên thế giới lại có nhiều trường
phái TPH và nhiều học thuyết về THTP. Lý do chính mà tác giả khẳng định là ở vấn
1.3. Đánh giá chung tình hình nghiên cứu
1.3.1. Những kết quả nghiên cứu mà luận án sẽ kế thừa và tiếp tục phát triển
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu nhìn chung đã đưa ra các vấn đề lý luận
cơ bản của TPH. Hầu hết các công trình đều nhận định tội phạm là một hiện tượng
xã hội tiêu cực, nó luôn chứa đựng đặc tính chống lại lợi ích xã hội, cộng đồng, trật
tự xã hội, quyền và lợi ích cơ bản của công dân. Tội phạm có nguồn gốc xã hội, vì
vậy các phương pháp xã hội học là phương pháp đúng đắn để nghiên cứu nguyên
nhân và điều kiện của THTP để từ đó đưa ra các giải pháp phòng ngừa tội phạm
một cách có hiệu quả nhất.
Thứ hai, những vấn đề lý luận về tội phạm trong các công trình nói trên ít
nhiều còn khác nhau về khái niệm và thuật ngữ của TPH. Hầu hết các nhà khoa học
đầu ngành hiện nay ở nước ta nói chung và TPH nói riêng đều được đào tạo ở nước
ngoài, trong đó có nhiều nhà TPH được đào tạo ở các nước khác nhau như Nga
(Liên Xô cũ), Đức (Đông Đức cũ)... Điều này ít nhiều có ảnh hưởng đến các quan
điểm khác nhau về lý luận TPH. Nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục nghiên cứu dựa trên
quan điểm của các nhà khoa học tại Học viện Khoa học xã hội làm cơ sở lý luận
nghiên cứu cho luận án của mình.
Thứ ba, những kết quả nghiên cứu ở Việt Nam có ý nghĩa quan trọng cho
việc thực hiện luận án. Trên cơ sở phân tích, tổng hợp các kết quả nghiên cứu về
THTP cụ thể (hoặc nhóm tội cụ thể) trên phạm vi địa bàn tỉnh hoặc vùng gồm nhiều
tỉnh của các công trình đã công bố, trong đó phần ẩn và phần hiện của THTP, sẽ
giúp tác giả có những định hướng cụ thể trong quá trình triển khai luận án. Trên cơ
sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá THTP, tìm ra nguyên nhân và điều kiện của
THTP, để từ đó đưa ra dự báo THTP trên địa bàn tỉnh Nam Định trong thời gian tới,
với phương châm “dự báo THTP không chỉ là hướng nghiên cứu của TPH mà còn
là nhu cầu cấp bách của thực tế đấu tranh phòng và chống tội phạm”.
Thứ tư, trên cơ sở nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành tội phạm học và
phòng ngừa tội phạm, dưới góc độ khác nhau, hầu hết các công trình nghiên cứu
đều nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của THTP, như: luận án tiến sĩ của tác giả
Phạm Thị Mỹ Hương nghiên cứu về cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
các địa danh khác nhau với phạm vi địa lý hẹp (huyện) mà chưa nghiên cứu trên
phạm vi một tỉnh, có tính chất và phạm vi phức tạp hơn nhiều. Mặc dù vậy, đây
cũng là các công trình rất có giá trị tham khảo đối với luận án của tác giả. Ngoài
phần một số lý luận về tội phạm học được đề cập thì các phương pháp xử lý số liệu,
cũng như các phân tích lập luận của tác giả, làm rõ nhất có thể bức tranh về THTP ở
19
địa bàn nghiên cứu, để từ đó hướng tới việc phòng ngừa tội phạm đạt hiệu quả. Đó
là những yếu tố quan trọng mà nghiên cứu sinh sẽ tham khảo và vận dụng để có thể
làm rõ được vấn đề thực sự của THTP ở Nam Định đang như thế nào, đâu là yếu tố
tác động chủ yếu tới nó... thông qua các nội dung đã được phân tích, làm rõ đó,
nghiên cứu sinh mới có thể thực hiện tốt được đề tài nghiên cứu của mình với các
mục đích, nhiệm vụ cụ thể đã được đặt ra.
Thứ sáu, về các biện pháp phòng ngừa tội phạm, hầu hết các công trình đã
đưa ra các biện pháp cơ bản như biện pháp kinh tế, biện pháp chính trị, biện pháp
pháp luật, các biện pháp ngăn chặn. GS.TS Võ Khánh Vinh còn đưa ra biện pháp
nữa là biện pháp nhân chủng học. Tác giả Can Ueda đã đề cập đến biện pháp phòng
ngừa tội phạm bằng cách can thiệp sớm. Đây là các nội dung nghiên cứu sinh sẽ
tiếp tục nghiên cứu và vận dụng hợp lý trong quá trình triển khai luận án của mình.
Thứ bảy, thông qua phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu nước ngoài
đã cung cấp cho tác giả có cái nhìn khái quát hơn về lý luận TPH, đặc biệt là các
biện pháp phòng ngừa tội phạm. Luận án sẽ phân tích, tổng hợp, kết hợp giữa lý
luận và thực tiễn THTP ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn tỉnh Nam Định nói
riêng để có những phương án vận dụng phù hợp trong Luận án của mình.
Thứ tám, về sự hợp tác giữa các quốc gia về phòng chống tội phạm, các quốc
gia đều xác định tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực, các hoạt động tội phạm
luôn đi ngược lại với lợi ích xã hội, gây ra thiệt hại cho xã hội. Trong mỗi thời kỳ
khác nhau và trong mỗi giai đoạn khác nhau, tội phạm trong xã hội luôn có sự biến
đổi cả về nội dung lẫn hình thức. Thế kỷ 21 đã xuất hiện những hình thức biến