Tội phạm trên địa bàn tỉnh nam định tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa (tt) - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ VĂN ANH

TỘI PHẠM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH:
TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP
PHÕNG NGỪA

Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số : 62.38.01.05

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Văn Tỉnh

Phản biện 1: GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa
Phản biện 2: PGS.TS. Trần Đình Nhã
Phản biện 3: PGS.TS. Trần Văn Luyện

Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại
Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam,
477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội.

hiện Quyết định số 312/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ, ban hành
chương trình thực hiện Nghị quyết số 63/2013/QH13 ngày 27/11/2013 của
Quốc hội “về tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng chống tội
phạm””,... với mục tiêu đấu tranh không khoan nhượng với các loại tội
phạm trên địa bàn tỉnh.
Như vậy, tất cả hệ thống chính trị địa phương đã vào cuộc rất tích
cực, với quyết tâm cao trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
song tình hình tội phạm vẫn có diễn biến phức tạp cả về tính chất và mức
1


độ, với thủ đoạn tội phạm ngày càng tinh vi, xảo quyệt, gây bức xúc trong
nhân dân và làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Từ
năm 2006 đến năm 2015, TAND hai cấp tỉnh Nam Định đã xét xử sơ thẩm
tổng số 9186 vụ án, với 13.812 bị cáo, bình quân năm là 919 vụ với 1382 bị
cáo và đang có xu hướng gia tăng.
Do đó, việc nghiên cứu tình hình tội phạm ở Nam Định phải được
thực hiện một cách cơ bản và chuyên sâu theo hướng phòng ngừa, tức là
việc phòng ngừa tội phạm phải được nghiên cứu và thiết lập trên cơ sở
hướng dẫn của khoa học chuyên ngành. Đó là tội phạm học, theo đó phòng
ngừa tội phạm với tính cách là mục đích cuối cùng của khoa học này, chỉ có
thể đạt hiệu quả cao khi nó được thiết lập trên cơ sở đã làm rõ được bản
chất tình hình tội phạm và xác định được nguyên nhân và điều kiện của hiện
tượng tiêu cực này.
Với cách nhìn nhận như vậy, đề tài" Tội phạm trên địa bàn tỉnh Nam
Định: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa” đã được chọn lựa để
nghiên cứu.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục đích nghiên cứu đề tài: Trên cơ sở nghiên cứu tình hình tội phạm,
nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Nam Định,

- Phương pháp nghiên cứu đề tài: Đề tài sử dụng nhiều phương pháp
nghiên cứu khác nhau, mang tính đặc trưng tội phạm học đối với từng
chương, như sử dụng phương pháp thống kê; phương pháp nghiên cứu tổng
hợp; phương pháp phân tích; phương pháp so sánh; phương pháp lịch sử;
phương pháp hệ thống; phương pháp kế thừa; phương pháp logic, phương
pháp tiếp cận đa ngành - liên ngành... trên cơ sở đó sẽ vận dụng để làm rõ
nội dung nghiên cứu.
5. Điểm mới của luận án
Thứ nhất: Trên cơ sở kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, luận án đã làm rõ
nhất bức tranh toàn cảnh của tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Nam Định
giai đoạn 2006-2015.
Thứ hai: Luận án sử dụng một số cách tiếp cận nghiên cứu dựa trên
nền tảng chủ nghĩa Mác-Lê Nin đã làm rõ tính quyết định về mặt xã hội của
tình hình tội phạm. Nói cách khác là làm rõ nguyên nhân và điều kiện của
tình hình tội phạm từ các yếu tố tiêu cực thuộc về môi trường sống và các

3


yếu tố tiêu cực từ phía người phạm tội trong điều kiện riêng về địa lý, kinh
tế, văn hóa, lịch sử xã hội của tỉnh Nam Định.
Thứ ba: Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về tội phạm
trên địa bàn tỉnh Nam Định dưới góc độ chuyên ngành tội phạm học và phòng
ngừa tội phạm. Luận án đã xây dựng các giải pháp phòng ngừa tình hình tội
phạm trên địa bàn tỉnh Nam Định trong điều kiện hiện nay.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa về mặt khoa học: Luận án nghiên cứu làm sáng tỏ những
vấn đề lý luận về tội phạm học cũng như các biện pháp phòng ngừa tình
hình tội phạm. Vì vậy, luận án có thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ
giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực tội phạm học và

phát triển của tội phạm học Việt Nam; về đối tượng nghiên cứu của tội
phạm học Việt Nam; về phương pháp nghiên cứu tội phạm học và những
vấn đề phòng ngừa tội phạm.
Sách Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm của GS.TS
Nguyễn Xuân Yêm, nghiên cứu tội phạm học đại cương và tội phạm học
chuyên ngành, tức là đề cập đến việc phòng ngừa một số loại tội phạm cụ
thể, kể cả tội phạm có ở Việt Nam, kể cả tội phạm chưa có ở Việt Nam như
tội khủng bố.
Sách Giáo trình tội phạm học của trường đại học Luật Hà Nội,
nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về tội phạm học, như lịch sử ra đời
và phát triển của tội phạm học; tình hình tội phạm; nguyên nhân và điều
kiện của tình hình tội phạm; nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cụ thể;
nhân thân người phạm tội; phòng ngừa tình hình tội phạm; dự báo tình hình
tội phạm và kế hoạch hóa hoạt động phòng chống tình hình tội phạm;
phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thực hiện, phòng ngừa tình
hình tội phạm về tham nhũng và ma túy;
Sách Một số vấn đề lý luận về tình hình tội phạm ở Việt Nam của
PGS.TS. Phạm Văn Tỉnh, nghiên cứu khái niệm và các đặc điểm của tình
hình tội phạm ở Việt Nam dưới góc độ tội phạm học từ năm 1986 - 2003;
nghiên cứu đặc điểm định tính và định lượng của tình hình tội phạm ở nước
ta; các loại tội phạm ẩn ở nước ta và giải pháp đấu tranh; đề xuất một số
giải pháp đấu tranh với tình hình tội phạm ở nước ta.
Sách Giáo trình tội phạm học của GS.TS Võ Khánh Vinh nghiên cứu
5


khái niệm tội phạm học, đối tượng, nhiệm vụ và vị trí của tội phạm học
trong hệ thống các khoa học; các phương pháp nghiên cứu của tội phạm
học; về hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng ngừa và chống tình hình tội
phạm; nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của tư tưởng tội phạm

về tình hình tội phạm ở Việt Nam từ năm 2000 - 2003 thông qua hệ thống
các đặc điểm định tính và định lượng cả tình hình tội phạm, kiến nghị một
số giải pháp đấu tranh với tình hình tội phạm.
6


- Luận văn thạc sĩ “Tội giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam từ
thực tiễn tỉnh Nam Định” của Nguyễn Chí Công, trên cơ sở nghiên cứu đã
đề xuất các giải pháp bảo đảm định tội danh và quyết định hình phạt đúng
đối với tội giết người ở nước ta từ thực tiễn tỉnh Nam Định.
- Luận văn thạc sĩ “Tội phạm trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam
Định: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa” của Bùi Thị Ngọc
Bích đã đánh giá thực trạng tình hình tội phạm; phân tích, làm rõ nguyên
nhân, điều kiện của thực trạng đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả
đấu tranh phòng chống loại tội phạm này trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh
Nam Định.
Ngoài các tác phẩm nêu trên, tác giả đã nghiên cứu nhiều luận án tiến
sĩ, luận văn thạc sĩ về tình hình tội phạm nói chung, về tình hình tội phạm
của nhóm tội và tình hình tội phạm cụ thể dưới góc độ tội phạm học.
1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Sách Tội phạm học xã hội chủ nghĩa (1971) của E. Buchholz, R.
Hartmann, J. Lekschas và G. Stiller nghiên cứu một số vấn đề cơ bản của
TPH theo quan điểm Mác-xít. Tác giả nhấn mạnh “trong tội phạm học khi
nói về khái niệm nguyên nhân, cần phân biệt nguyên nhân của tội phạm với
khái niệm nguyên nhân của tình hình tội phạm. Nguyên nhân của tình hình
tội phạm - đó là tổng hợp các hiện tượng có mối tác động qua lại và thâm
nhập lẫn nhau; các hiện tượng này là phổ biến và được lặp đi lặp lại nhiều
lần trong các mối quan hệ luôn luôn thay đổi. Trong khi đó, khái niệm
nguyên nhân của tội phạm có phạm vi hẹp hơn. Cụ thể, khi nói đến nguyên
nhân của tội phạm, người ta nói đến sự kiện nhất định tác động đến hiện

khẳng định là ở vấn đề phương pháp luận, cái phải được sử dụng để nhận
thức từ những vấn đề khái quát đến chi tiết. Cách hiểu và cách nghiên cứu
tình hình tội phạm, nguyên nhân và phòng ngừa tội phạm... ở mức độ lý
luận chung và áp dụng cụ thể đều được tác giả đề cập một cách thực tế sâu
sắc ở địa bàn châu Âu. Cuốn sách có giá trị đặc biệt cho nhận thức và
nghiên cứu phát triển tội phạm học ở nước ta...
1.3. Đánh giá chung tình hình nghiên cứu
1.3.1. Những kết quả nghiên cứu mà luận án sẽ kế thừa và tiếp
tục phát triển
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu nhìn chung đã đưa ra các vấn
đề lý luận cơ bản của tội phạm học, đều nhận định tội phạm là một hiện
tượng xã hội tiêu cực, nó luôn chứa đựng đặc tính chống lại lợi ích xã hội,
cộng đồng, trật tự xã hội, quyền và lợi ích cơ bản của công dân. Tội phạm
có nguồn gốc xã hội, vì vậy các phương pháp xã hội học là phương pháp
đúng đắn để nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm
để từ đó đưa ra các giải pháp phòng ngừa tội phạm một cách có hiệu quả
nhất.
Thứ hai, những vấn đề lý luận về tội phạm trong các công trình nói
trên ít nhiều còn khác nhau về khái niệm và thuật ngữ của tội phạm học.
Nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục nghiên cứu dựa trên quan điểm của các nhà
khoa học tại Học viện Khoa học xã hội làm cơ sở lý luận nghiên cứu cho
luận án của mình.
Thứ ba, những kết quả nghiên cứu ở Việt Nam có ý nghĩa quan
8


trọng cho việc thực hiện luận án. Trên cơ sở phân tích, tổng hợp các kết quả
nghiên cứu về tình hình tội phạm cụ thể (hoặc nhóm tội cụ thể) trên phạm vi
địa bàn tỉnh hoặc vùng, trong đó phần ẩn và phần hiện của tình hình tội
phạm, sẽ giúp tác giả có những định hướng cụ thể trong quá trình triển khai

1.3.2. Những vấn đề đặt ra đối với việc nghiên cứu đề tài luận án
Luận án kế thừa những kết quả quan trọng, phù hợp của các công
trình nghiên cứu trước đã đạt được để áp dụng, giải quyết các vấn đề đã đặt
9


ra trong luận án, những nội dung cần nghiên cứu trong đề tài là:
Thứ nhất: Trước hết xuất phát từ đề tài nghiên cứu là “Tội phạm
trên địa bàn tỉnh Nam Định: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng
ngừa”. Vì vậy, việc nghiên cứu nội dung của đề tài mang tính chất đặc thù,
trên cơ sở các điều kiện kinh tế xã hội, tự nhiên của tỉnh Nam Định.
Thứ hai: Trên cơ sở tổng hợp, tiếp thu những vấn đề lý luận về tình
hình tội phạm. Tác giả sẽ làm rõ phần hiện và phần ẩn của tình hình tội
phạm cũng như đưa ra những đánh giá làm nổi bật tính quyết định xã hội
của tình hình tội phạm ở tỉnh Nam Định.
Thứ ba: Trên cơ sở nghiên cứu và tiếp thu các thành tựu lý luận về
nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, tác giả sẽ xác định những
nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh
Nam Định.
Thứ tư: Từ kết quả nghiên cứu về phần hiện và phẩn ẩn của tình
hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, phân tích
những thành tựu và hạn chế trong công tác phòng ngừa tình hình tội phạm,
tác giả sẽ đề xuất một số các giải pháp phòng ngừa tình hình tội phạm ở
Nam Định trong thời gian tới.
CHƢƠNG 2
TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
GIAI ĐOẠN 2006-2015
2.1. Những vấn đề lý luận chung về tình hình tội phạm
2.1.1. Khái niệm tình hình tội phạm
2.1.2. Các thông số của tình hình tội phạm

2014-2015, số bị cáo nhóm C18 thấp hơn nhóm C19.
* Nhóm các tội xâm phạm sở hữu (C14): So sánh giữa các năm thì
số lượng bị cáo vẫn chiếm tỉ lệ cao thứ 2, hiện đang có xu hướng giảm dần,
so với năm 2006 số bị cáo giảm tới 1,2 lần; năm 2014 thấp hơn 1,43 lần so
với nhóm C19 về số bị cáo; năm 2015 đứng thứ hai về số bị cáo chỉ sau
nhóm C19 trong nhóm mức độ cao.
- Xét theo chiều ngang của sự vận động: Nhóm này không những
có xu hướng giảm dần hàng năm mà còn có xu hướng giảm về mức độ nguy
hiểm xét theo tỉ lệ giữa số bị cáo và số vụ. Giai đoạn 2006-2015, số vụ án
có xu hướng giảm dần nhưng năm 2012 lại tăng hơn năm 2011 là 1,19 lần,
trong khi đó số bị cáo vẫn giảm đều.
- Xét theo chiều dọc của sự vận động: Nhóm tội phạm này chiếm vị
trí thứ hai sau nhóm tội phạm về ma túy nhưng đang có xu hướng giảm dần.
* Nhóm C19: Giai đoạn 2006-2010 số bị cáo giảm, so với điểm cao
nhất là năm 2008 thì giảm tới 1,4; giai đoạn 2010-2014 số bị cáo tăng, năm
2014 tăng tới 3,74 lần so với năm 2010 nhưng năm 2015 giảm nhẹ cả về số
vụ và số bị cáo.
- Xét theo chiều ngang của sự vận động: Nhóm tội phạm này đang
có chiều hướng gia tăng nhanh, tăng trung bình hàng năm 1,2 lần về số vụ
và 1,5 lần về số bị cáo. Đặc biệt là năm 2014 tăng 1,56 lần so với năm
2013.

11


- Xét theo chiều dọc của sự vận động: Luôn chiếm vị trí thứ ba, sau
nhóm tội về ma túy và nhóm tội xâm phạm quyền sở hữu, nhưng lại đang
có xu hướng tăng dần, riêng về số bị cáo thì tăng rất nhanh. Năm 2014 gấp
1,43 lần số bị cáo nhóm C14.
* Nhóm C12 có xu hướng dao động “hình Sin”, lúc tăng lúc giảm

ma túy, tội trộm cắp tài sản, tội đánh bạc, tội cướp tài sản, bốn tội danh này
đang có diễn biến hết sức phức tạp.
12


2.3. Phần ẩn của tình hình tội phạm
Ở giai đoạn tố tụng nào thì vẫn còn tồn tại tỷ lệ tội phạm ẩn đáng kể.
Tỷ lệ phá án trung bình hàng năm của cơ quan điều tra tỉnh Nam Định
khoảng gần 80%, vậy tội phạm ẩn chiếm tới hơn 20%; tỷ lệ phá án trung bình
qua chức năng kiểm sát tin báo tội phạm của VKS là 97%; cuối cùng là ở giai
đoạn tòa án thì con số tội phạm ẩn cũng rất đáng kể. Trong một công trình
nghiên tình hình tội phạm ở huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định thì tỉ lệ tội phạm
ẩn của tội trộm cắp tài sản là 20%. Đây là thực trạng có thể tìm thấy qua
thống kê ở các cơ quan tiến hành tố tụng, thực tế con số về tội phạm ẩn còn
lớn hơn nhiều bởi nhiều nguyên nhân khác nhau.
CHƢƠNG 3
NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
3.1. Khái niệm nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội
phạm
3.2. Các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm trên
địa bàn tỉnh Nam Định
3.2.1. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm thuộc
về kinh tế-xã hội
3.2.1.1. Do tác động của nền kinh tế thị trường
Các khiếm khuyết do nền kinh tế thị trường mang lại được thể hiện
trước hết là ở vấn đề giải phóng mặt bằng để xây dựng khu đô thị, khu công
nghiệp; tạo kẽ hở lớn để các đối tượng lợi dụng thực hiện tội phạm dưới rất
nhiều hình thức, vỏ bọc tinh vi thông qua việc kinh doanh buôn bán; làm
gia tăng sự phân hóa giàu nghèo, tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội... Đó

3.2.2.2. Những yếu tố tiêu cực thuộc về môi trường nhà trường
Trong thời gian qua việc quản lý học sinh trên địa bàn tỉnh Nam
Định có phần lơi lỏng. Có thể đây là hậu quả của bệnh thành tích mà nhà
nước ta đang chấn chỉnh trong ngành giáo dục. Công tác giáo dục đã quá
chú trọng đến kết quả thi cử mà không có sự quan tâm đầy đủ đến giáo dục
cho học sinh những kỹ năng sống. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn
đến một số học sinh, sinh viên có lối sống lệch lạc, không có kỹ năng để
chống lại những cám dỗ của cuộc sống, từ đó làm cho họ hình thành bản
chất coi thường pháp luật, sẵn sàng vác dao đi đâm chém người chỉ vì một
mâu thuẫn nhỏ, chỉ vì mục đích chiếm đoạt tài sản để lấy tiền tiêu sài, lười
học, ham chơi nhưng lại muốn oai nên sẵn sàng sử dụng văn bằng giả để
học cao hơn.
3.2.2.3. Những yếu tố tiêu cực thuộc về giáo dục xã hội
Nghiên cứu đã khẳng định có nhiều trường hợp tội phạm kéo dài và
có tính công khai, như ở khu vực “Khu 5 tầng” thành phố Nam Định, khu
vực cầu Non Nước thuộc địa bàn xã Yên Bằng, huyện Ý Yên... hoặc tội
đánh bạc. Đây là loại hành vi tội phạm diễn ra thường xuyên và có tính
“công khai” nhưng chúng vẫn hoạt động trước sự thờ ơ của mọi người.
Điều này cho thấy, việc tuyên truyền giáo dục đối với mọi người về chủ
trương phòng, chống tội phạm của Đảng và Nhà nước chưa được quan tâm
14


đúng mức, dẫn đến việc phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị
và nhân dân tích cực tham gia có hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống
tội phạm còn hạn chế.
3.2.3. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm thuộc
về hoạt động quản lý của nhà nƣớc ở Nam Định
3.2.3.1. Những hạn chế trong quản lý kinh tế
Trong một số năm gần đây Nam Định đang gặp nhiều khó khăn

bị xét xử trong bản án có hiệu lực pháp luật
Được nghiên cứu trên cở sở phân tích cơ cấu của tình hình tội phạm
theo đặc điểm nhân thân người phạm tội, bao gồm 3 nhóm đặc điểm chính:
a) Đặc điểm tự nhiên gồm về giới tính, về độ tuổi, về nơi cư trú; b) Đặc
điểm xã hội gồm đặc điểm về trình độ học vấn, về nghề nghiệp, người phạm
tội là Đảng viên, là cán bộ công chức, về hoàn cảnh gia đình, về tôn giáo,
tín ngưỡng; c) Đặc điểm hành vi phạm tội gồm đặc điểm về động cơ, mục
đích, về phạm tội đơn lẻ, hay đồng phạm, về tái phạm, tái phạm nguy
hiểm...
3.2.4.2. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm thuộc chủ
thể hành vi phạm tội
a) Nguyên nhân và điều kiện từ các đặc điểm tự nhiên của chủ thể
hành vi
b) Nguyên nhân và điều kiện từ các đặc điểm xã hội của chủ thể
hành vi
c) Nguyên nhân và điều kiện từ các đặc điểm hành vi phạm tội của
thể
CHƢƠNG 4
DỰ BÁO TÌNH HÌNH TỘI PHẠM VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG
NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
4.1. Thực trạng phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn
tỉnh Nam Định
4.1.1. Những kết quả đạt đƣợc của phòng ngừa tình hình tội
phạm trên địa bàn tỉnh Nam Định
Với phương châm phát triển kinh tế gắn kết hài hòa với phát triển
văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường, chăm lo, nâng cao đời sống của nhân
dân, tăng cường khối đại đoàn kết và đồng thuận xã hội, giữ vững an ninh
chính trị, trật tự - an toàn xã hội. Huy động cả hệ thống chính trị và toàn xã
hội tham gia thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Đổi
mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học; nâng cao chất lượng giáo dục toàn

Thứ ba, hoạt động trong lĩnh vực văn hoá - xã hội còn nhiều bất cập
cần giải quyết. Việc quản lý dạy thêm, học thêm ở một số nơi còn thiếu chặt
chẽ. Chất lượng đào tạo nghề chưa đáp ứng yêu cầu, công tác giáo dục dạy
nghề, hỗ trợ giải quyết việc làm cho những thanh niên chưa có việc làm
chưa được tổ chức tốt… từ đó dẫn đến nhiều người không có việc làm chán
nản, phát sinh tiêu cực dẫn tới phạm tội.
Thứ tư, mặc dù tỉnh đã thực hiện vận động doanh nghiệp xây dựng
quỹ “Giúp đỡ người có quá khứ phạm tội nay đã tiến bộ gặp khó khăn trong
17


cuộc sống”. Tuy nhiên, hoạt động này mới thực hiện ở phạm vi địa bàn
huyện Ý Yên, chưa có sự nhân rộng trên toàn tỉnh.
Thứ năm, tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông vẫn
là vấn đề quan tâm, lo lắng của toàn xã hội. Tình trạng khiếu kiện ở một số
nơi còn diễn biến phức tạp. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc tuy
được mở rộng nhưng còn mang tính hình thức nên hiệu quả còn nhiều hạn
chế…
Thứ sáu, công tác phòng ngừa xã hội ở một số địa phương chưa huy
động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Công tác tuyên
truyền, giáo dục, quản lý thanh thiếu niên còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ
giữa các cấp, các ngành, nhà trường và xã hội nên tình trạng thanh thiếu niên,
học sinh vi phạm pháp luật vẫn diễn biến phức tạp. Việc khuyến khích toàn
dân tham gia phòng ngừa tình hình tội phạm, tố giác tội phạm còn hạn chế.
Thứ bảy, chất lượng cán bộ vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực
tiễn nên việc xác định địa bàn trọng điểm, đối tượng đấu tranh phục vụ cho
công tác nắm tình hình, chủ động phòng ngừa, đấu tranh và điều tra khám
phá án còn có những hạn chế...
4.2. Dự báo tình hình tội phạm ở tỉnh Nam Định
4.2.1. Cơ sở dự báo

phạm; về cơ cấu của tình hình tội phạm; về phần ẩn của tình hình tội phạm
và đánh giá sự xuất hiện của tội phạm mới.
4.3. Các giải pháp phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn
tỉnh Nam Định
4.3.1. Những giải pháp kinh tế - xã hội
Cần khắc phục tình trạng yếu kém, bất cập trong việc phát triển
kinh tế - xã hội, tăng cường cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân
dân, khắc phục tình trạng thất nghiệp, mù chữ, đói nghèo, quá trình tăng
trưởng, phát triển kinh tế phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, giảm
chênh lệch về mức sống giữa khu vực nông thôn và thành thị, tạo công ăn
việc làm cho người lao động nhất là đối với những đối tượng đang trong độ
tuổi lao động, những đối tượng có nguy cơ phạm tội cao như người có tiền
án, tiền sự, các đối tượng có nhân thân xấu, nhân cách bị suy thoái, cơ sở hạ
tầng và phúc lợi xã hội đối với khu vực nông thôn phải được quan tâm thỏa
đáng, số hộ nghèo phải được phấn đấu giảm tới mức thấp nhất.
4.3.2. Các giải pháp văn hóa - giáo dục
Phát triển kinh tế cần phải gắn kết hài hòa với phát triển văn hóa, xã
hội và bảo vệ môi trường. Chăm lo, nâng cao đời sống của nhân dân. Tăng
cường khối đại đoàn kết và đồng thuận xã hội, giữ vững an ninh chính trị,
trật tự - an toàn xã hội
19


Kịp thời nhân rộng và xây dựng nhiều mô hình mới, sáng tạo, huy
động sức mạnh toàn dân tham gia, góp phần giữ ổn định tình hình an ninh
trật tự từ cơ sở. Tiếp tục duy trì và nhân điển hình mô hình “Tự quản, tự
phòng, tự bảo vệ”, xây dựng nếp sống văn minh đô thị, tổ dân phố văn hóa,
xây dựng gia đình văn hoá mới, xây dựng thôn xóm, đường phố, cơ quan
đơn vị an toàn; đồng thời phát hiện và nhân rộng các điển hình tiên tiến về
xây dựng phong trào văn hóa ở cơ sở, phát huy truyền thống đoàn kết tương

nâng cao hiệu quả của công tác xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật
nhằm thúc đẩy kinh tế, xã hội, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
Hai là, cần kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số vấn đề liên quan trực
tiếp đến tội phạm, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa trên địa
bàn tỉnh, cụ thể:
Thứ nhất, kiến nghị Quốc hội giữ nguyên các điều luật từ Điều 249
đến Điều 252, chỉ khắc phục các dấu hiệu về định khung tăng nặng trách
nhiệm hình sự.
Thứ hai, kiến nghị BLHS sửa đổi theo hướng đối với các vụ án ma
túy cần phải quy định rõ các tiền chất ma túy phải giám định hàm lượng. Có
như vậy thì mới tạo được sự thống nhất trong công tác thực thi pháp luật,
tạo điều kiện cho công tác phòng ngừa loại tội phạm về ma túy đạt hiệu
quả.
Thứ ba, kiến nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội ủy quyền cho Tòa án
được thực hiện giải thích pháp luật trong một số trường hợp nhất định. Việc
ủy quyền giải thích pháp luật cho Tòa án tức là việc công nhận hình thức
giải thích chính thức mang tính vụ việc bên cạnh hình thức giải thích chính
thức mang tính pháp lý hiện nay của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Thứ tư, kiến nghị nước ta cần nhanh chóng xây dựng luật bảo vệ
nhân chứng cũng như thành lập cơ quan bảo vệ nhân chứng.
Thứ năm, cần thay đổi mẫu quy định về thống kê ngành tòa án, ví
dụ: Như mẫu 1A cần sửa đổi theo hướng phải lấy cơ số hành vi phạm tội
làm trung tâm, có như vậy mới phản ánh đúng tình hình tội phạm.
4.3.3.2. Trong công tác thực thi pháp luật
Các cơ quan tiến hành tố tụng là chủ thể trực tiếp, giữ vai trò nòng
cốt tổ chức và thực hiện hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm. Theo
chức năng nhiệm vụ của mình, các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải có
các giải pháp cụ thể để tăng cường hiệu quả trong hoạt động phòng ngừa
tình hình tội phạm của mình.
4.3.4. Các giải pháp thuộc hoạt động quản lý của nhà nƣớc

hại về người và tài sản. Những biện pháp ở trường hợp này là sự phản ứng
tức thì của xã hội đối với hành vi phạm tội đang diễn ra. Nó phải được thực
hiện bởi các chủ thể chuyên nghiệp như công an, lực lượng tuần tra, cơ
động, trực ban… và chủ thể không chuyên nghiệp, tức là mọi người dân sở
tại; Đối với tội phạm đã hoàn thành nhưng có nguy cơ lặp lại hành vi phạm
tội hoặc các tội phạm có hành vi kéo dài như ở tội cố ý gây thương tích,
hiếp dâm, giao cấu với trẻ em, trộm cắp tài sản… Các cơ quan chức năng
phải ngăn chặn quá trình lặp lại của hành vi phạm tội, không để cho tội
22


phạm được thực hiện nhiều lần, cắt đứt khả năng kéo dài việc thực hiện
hành vi phạm tội. Các biện pháp đối với trường hợp này phải là phát hiện
sớm, tố giác ngay, khởi tố và xử lý kịp thời. Chủ thể của những biện pháp
không chỉ là lực lượng chuyên trách, mà phải có sự tham gia tích cực, chủ
động của mọi người. Bên cạnh những biện pháp như thanh tra, kiểm tra
tuần tra, kiểm toán vốn là những biện pháp chuyên trách, thì sự phát giác, tố
giác của người dân vẫn luôn luôn giữ vai trò quan trọng.
Ba là, cần làm tốt công tác nắm và quản lý địa bàn, quản lý nhân
khẩu, khai báo tạm trú, tạm vắng, cần lưu ý đặc biệt đến các đối tượng miền
núi phía Bắc đến địa bàn tỉnh một cách thiếu minh bạc; Có sự hợp tác giữa
các địa phương với nhau trên địa bàn tỉnh và trên địa bàn cả nước để rà soát
các đối tượng nghi vấn, thu thập thông tin về các đối tượng có tiền án, tiền
sự, lưu manh chuyên nghiệp, thanh thiếu niên hư không có việc làm, các
loại đối tượng tệ nạn xã hội như cờ bạc, ma túy...
Bốn là, tăng cường hơn nữa hoạt động quản lý cư trú và ngành nghề
kinh doanh có điều kiện, những ngành nghề nhạy cảm dễ nảy sinh các mâu
thuẫn dẫn đến các hành vi xâm hại sức khỏe như karaoke, massage,
internet, các dịch vụ cho thuê lưu trú, cầm đồ.
Năm là, cần chỉ đạo các cơ quan thông tin truyền thông trên địa bàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status