BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN THỊ HẰNG
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Ở HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số :60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Thúc Lân
HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi,
dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hoàng Thúc Lân, có kế thừa một số kết quả
nghiên cứu liên quan đã được công bố. Các số liệu và tài liệu được trích dẫn
trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan và có nguồn gốc, xuất xứ
rõ ràng.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về luận văn của mình.
Hà Nội, tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Trần Thị Hằng
LỜI CẢM ƠN
5. Giả thuyết khoa học ........................................................................................... 7
6. Nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................................................... 7
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 7
8. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 7
9. Cấu trúc luận văn................................................................................................ 8
10. Tóm tắt các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả ............................ 8
NỘI DUNG............................................................................................................ 9
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT HUY VAI
TRÒCỦA PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI .................... 9
1.1. Cơ sở lý luận .................................................................................................. 9
1.1.1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài .............................................. 9
1.1.2. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai
trò của phụ nữ ..................................................................................................18
1.1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vai trò của phụ nữ trong xây
dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay ..........................................................24
1.1.4. Thực chất của việc phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông
thôn mới ...........................................................................................................26
1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc phát huy vai trò của phụ nữ trong xây
dựng nông thôn mới .........................................................................................32
1.2. Cơ sở thực tiễn .............................................................................................36
1.2.1. Điều kiện kinh tế - xã hội của Thường Tín ............................................36
1.2.2. Đặc điểm phụ nữ Thường Tín ................................................................42
1.2.3. Phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới ở
Thường Tín, Hà Nội là đòi hỏi khách quan .....................................................45
1.2.4. Một vài nét về thực trạng xây dựng nông thôn mới huyện Thường
Tín, Hà Nội hiện nay ........................................................................................47
Tiểu kết chương 1 ...............................................................................................52
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI
góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.
Ngay từ những buổi đầu dựng nước, giữ nước, bà Trưng, bà Triệu đã dấy binh
khởi nghĩa đánh đuổi quân thù. Thế kỷ XX, trải qua hai cuộc kháng chiến chống
Pháp, chống Mỹ, lịch sử lại ghi nhận hàng vạn tấm gương phụ nữ, các mẹ, các
chị không ngại gian khổ, không tiếc máu xương, sẵn sàng chiến đấu, lao động,
hy sinh, cống hiến cuộc đời, con em và gia đình của mình cho nền độc lập tự do
của Tổ quốc. Phụ nữ không những là tấm gương anh hùng trong chiến đấu, mà
còn là tấm gương cần cù, gian khó để vượt lên cảnh đói nghèo và lạc hậu, góp
phần xây dựng đất nước ngày càng tươi đẹp, lớn mạnh hơn. Đảng, Bác Hồ
phong tặng phụ nữ Việt Nam tám chữ vàng “Anh hùng, bất khuất, trung hậu,
đảm đang” trong thời kỳ kháng chiến, và “Trung hậu, đảm đang, tài năng, anh
hùng” trong thời kỳ đổi mới của đất nước. Điều đó không chỉ là sự khích lệ,
động viên mà còn chính là sự thừa nhận và đánh giá vai trò to lớn của phụ nữ
Việt Nam.
Với truyền thống đó, phụ nữ Việt Nam “giỏi việc nước, đảm việc nhà”
tiếp tục vượt qua mọi thành kiến và thử thách, vươn lên và đóng góp tích cực
vào các hoạt động xã hội, duy trì ảnh hưởng rộng rãi vai trò của mình trên nhiều
lĩnh vực như: tham gia quản lý nhà nước; tham gia xóa đói giảm nghèo; xây
dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; tham gia phòng chống tệ
nạn xã hội; thúc đẩy hoạt động đối ngoại … Có thể nói, vai trò của phụ nữ Việt
Nam được thể hiện ngày càng sâu sắc và có những đóng góp quan trọng trong
thành tựu của cách mạng Việt Nam.
Trong bài phát biểu tại buổi toạ đàm “Vai trò của Phụ Nữ Việt Nam
Trong Thế Kỷ XXI” do Quỹ Phát triển Phụ Nữ Liên Hợp Quốc UNIFEM và Hội
phụ nữ Việt Nam tổ chức dưới sự hỗ trợ của các tổ chức Liên Hợp Quốc tại Việt
1
Nam, Chủ tịch Hội phụ Nữ Việt Nam Hà Thị Khiết đã tôn vinh người phụ nữ
Trong quá trình phát triển đó, có sự đóng góp không nhỏ của đông đảo
phụ nữ trong toàn địa phương. Tuy nhiên, do một số trở ngại mà vai trò của họ
chưa được đánh giá một cách khách quan, và họ chưa có điều kiện để phát huy
hết khả năng, vai trò của mình. Việc phát huy một cách có hiệu quả vai trò của
phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới hiện nay không chỉ là cách giúp các gia
đình thoát nghèo, cải thiện cuộc sống, phát triển kinh tế, vươn lên làm giàu mà
còn góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, đồng thời là con đường để giải
phóng phụ nữ. Với ý nghĩa đó, vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới
là vấn đề hết sức cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Vì những lý trên, do tôi
chọn đề tài“Phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn ở huyện
Thường Tín, Hà Nội hiện nay” làmluận văn thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề về phát huy vai trò của phụ nữ trong sự phát triển các lĩnh vực
kinh tế - xã hội, trong những năm gần đây có rất nhiều công trình nghiên cứu
dưới những góc độ khác nhau:
Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu về vai trò của người phụ nữ, có
một số công trình tiêu biểu: “Phụ nữ nông thôn với việc phát triển ngành nghề
phi nông nghiệp”, tác giả TS. Lê Thị Nhân Tuyết (1998), Nhà xuất bản Khoa
học xã hội; “Việc làm - đời sống của phụ nữ trong chuyển đổi kinh tế ở Việt
Nam”, tác giả Lê Thi (1999), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, những nghiên cứu
này khẳng định vai trò của phụ nữ nông thôn đối với quá trình chuyển dịch cơ
cấu lao động, nghề nghiệp và phát triển ngành nghề phi nông nghiệp ở nông
thôn. “Vị thế và vai trò xã hội của người phụ nữ trong gia đình nông thôn đồng
bằng Bắc Bộ hiện nay (Qua nghiên cứu tại tỉnh Nam Định), tác giả Nguyễn Thị
Kim Thoa (2000), Luận án Tiến sĩ Triết học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân
văn Hà Nội. Luận án đã góp tiếng nói về vị thế và vai trò xã hội của người phụ
nữ trên các phương diện đối với gia đình và sự phát triển chung của xã hội, đưa
ra các biện pháp nhằm nâng cao vai trò và vị thế của người phụ nữ nông thôn ở
phương tiện truyền thông. Nhưng phụ nữ có ưu thế và trách nhiệm hơn nam giới
4
khi tham gia các hoạt động xã hội, môi trường và xây dựng thôn, xã. Trên cơ sở
các kết quả nghiên cứu nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy
năng lực của phụ nữ nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ hoàn thành tốt
vai trò của mình trong sản xuất, trong đời sống và xã hội.
Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu về vấn đề nông thôn mới, vai trò
của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới: “Giải pháp đẩy mạnh xây dựng
nông thôn mới trên địa bàn huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An”, của Phan
Đình Hà, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế (2011),đưa ra những nội dung, nguyên tắc
thực hiện, những giải pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh chương trình xây dựng nông
thôn mới ở huyện Thanh Chương, Hà Tĩnh.“Sự tham gia của thanh niên trong
thựchiện chương trình nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bắc Giang”, Luận văn
Thạc sĩ Nguyễn Hoàng Trung (2012); “Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng
trong sự tham gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa
Bình”, tác giả Bùi Minh Tân, luận văn thạc sĩ khoa học Nông nghiệp (2013);
“Nghiên cứu vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện
Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, tác giả Hoàng Thị Oanh (2013)… các luận văn này
trình bày về sức mạnh chung của cộng đồng, đồng thời nêu lên tầm quan trọng
của việc phát huy nội lực của từng địa phương trong xây dựng nông thôn mới.
Một số bài báo, phỏng vấn như: “Vấn đề phát huy vai trò phụ nữ trong xây dựng
nông thôn mới” của tác giả Hồng Lựu, đăng trong chuyên mục Nông thôn mới
của tỉnh Quảng bình, (19/05/2015), bài viết đã đánh giá và nhận thức rõ vai trò
phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới, cùng với việc đẩy mạnh các hoạt động
tuyên truyền, Hội Phụ nữ các cấp đã tập trung khai thác các nguồn lực hỗ trợ,
hướng dẫn phụ nữ phấn đấu vươn lên làm chủ trong phát triển kinh tế, xây dựng
gia đình hạnh phúc bền vững và tham gia tích cực các hoạt động xã hội phù hợp
Trên cơ sở phân tích tình hình, thực trạng, và các yếu tố ảnh hưởng đến
vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới, tác giả đề xuất những giải
pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới ở
huyện Thường Tín, Hà Nội hiện nay.
6
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Phụ nữ huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới ở huyện
Thường Tín, Hà Nội hiện nay.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu thực hiện được các giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò, vị trí của
người phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Thường Tín, thành phố Hà
Nội hiện nay sẽ góp phần làm phát triển kinh tế - xã hội của toàn thành phố Hà Nội
nói chung và nâng cao vai trò của người phụ nữ huyện Thường Tín nói riêng.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu hệ thống những vấn đề lý luận về phát huy vai trò của phụ
nữ trong xây dựng nông thôn mới.
- Đánh giá thực trạng của việc phát huy vai trò phụ nữ trong xây dựng
nông thôn mới ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội hiện nay.
- Từ thực trạng đó tìm ra những thuận lợi và khó khăn của phụ nữ trong
quá trình xây dựng nông thôn mới, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai
trò của phụ nữ ở huyện Thường Tín, Hà Nội hiện nay.
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Vai trò của phụ nữ ở một số lĩnh vực kinh tế, văn hóa, gia đình… cần
được phát huy trong xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay ở huyện
dựng mục tiêu, kế hoạch, biện pháp về phát huy vai trò của phụ nữ trong xây
dựng nông thôn mới; có thể làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy: Triết học
(nghiên cứu và giảng dạy chuyên đề triết học phần chủ nghĩa duy vật lịch sử),
Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn...
Đề tài cũng có ý nghĩa kiến nghị với Đảng và nhà nước có những chính
sách cụ thể nhằm nâng cao vai trò người phụ nữ trong lĩnh vực xây dựng nông
thôn mới nói riêng, và các hoạt động chính trị - xã hội nói chung trong giai đoạn
hiện nay.
8
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ
CỦA PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.1.1.1. Giới và phụ nữ
Khái niệm về “Giới” được xuất hiện đầu tiên ở các nước nói tiếng Anh,
vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX. Trong tiếng Anh “Giới” là “Gender”
và “Giới tính” là “Sex”. Ở Việt Nam, khái niệm này mới xuất hiện vào khoảng
thập kỷ 80. “Giới” là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học.
“Giới” đề cập đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia: nguồn lực và lợi
ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể. “Giới” là yếu tố luôn biến
đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã hội của nữ giới và nam giới, phụ
thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể.
Giới: Chỉ sự khác biệt về xã hội và quan hệ (về quyền lực) giữa trẻ em,
trai và trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới, được hình thành và khác nhau ngay
trong một nền văn hóa, giữa các nền văn hóa và thay đổi theo thời gian. Sự khác
phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình. Thiên chức của phụ nữ là làm
vợ, làm mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và cũng từ đấy
mối quan tâm của họ cũng có phần khác nam giới. Nam giới được coi là phái
mạnh, là trụ cột gia đình. Họ cứng rắn hơn về tình cảm, mạnh bạo và năng động
hơn trong công việc. Đặc trưng này cho phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản
xuất, vào công việc xã hội, ít bị ràng buộc bởi con cái và gia đình. Chính điều
này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã
hội. Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau để
tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độ khác
nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các
thông tin xã hội.
Vai trò của giới được thể hiện ở vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất và vai
trò cộng đồng. Vai trò sản xuất được thể hiện trong lao động sản xuất dưới mọi
10
hình thức để tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho gia đình và xã hội. Vai trò tái
sản xuất ra con người nhằm duy trì nòi giống, tái tạo sức lao động. Vai trò này
không chỉ đơn thuần là tái sản xuất sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì,
phát triển lực lượng lao động cho hiện tại và tương lai như: nuôi dạy con cái,
nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, làm công việc nội trợ… vai trò này
hầu như là của người phụ nữ. Vai trò cộng đồng thể hiện ở những hoạt động
tham gia thực hiện ở mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực
cộng đồng, thực hiện các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng
Phụ nữ là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay
toàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểm
giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ
hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường.Phụ nữ là một phần
nửa xã hội, gồm những người mà về mặt sinh học thuộc giống cái, phân biệt với
với tổng thể xã hội. Tuy nhiên, khái niệm vị thế chỉ nói đến xuất phát điểm của
hành vi chứ chưa nói đến mặt hoạt động của nó. Khái niệm vai trò mới nói đến
mặt động thái của hành vi. Nói cách khác vai trò là hành vi của người nắm giữ vị
thế mà hành vi đó hướng vào việc đáp ứng những kì vọng của người khác về
quyền và trách nhiệm gắn với vị thế. Một cá nhân có thể có đồng thời nhiều vai
trò do cá nhân đó có nhiều vị thế khác nhau trong các tổ chức khác nhau. Tuy
nhiên, trong một thời gian cụ thể, những vai trò đó không cùng biểu hiện với
mức độ tích cực ngang nhau. Một vị thế xã hội cụ thể thông thường có một số
các vai trò, người ta gọi là tập hợp các vai trò. Có các vị trí khác nhau thì mức độ
phức tạp của các vai trò gắn liền với chúng cũng khác nhau. Một cá nhân ở một
vị trí cụ thể luôn có nhiều quan hệ liên quan, trong đó có vai trò chính và vai trò
phụ. Những vai trò của một cá nhân ở một vị trí cụ thể không mâu thuẫn nhau
mà chúng có quan hệ tương tác nhau, giúp các cá nhân đó thể hiện được vai trò
tổng quát của mình.
Tóm lại, vai trò là những gì mà một cá nhân phải làm để giữ vị thế của
mình có giá trị, là những hành vi mà xã hội mong chờ, kỳ vọng một cá nhân thực
hiện phù hợp với vị thế xã hội của họ. Như vậy, các cá nhân và nhóm người
thông qua vị thế và vai trò gắn kết với nhau và gắn kết với toàn bộ xã hội.
12
* Vai trò của phụ nữ
Quan điểm về vai trò của phụ nữ trong “Phụ nữ trong phát triển” (Women
in Development - gọi tắt là WID); “Phụ nữ và phát triển” (Women and
Development - gọi tắt là WAD); “Giới và phát triển” (Gender and Development
- gọi tắt là GAD)
Thứ nhất, quan điểm “Phụ nữ trong phát triển” (WID): Cách tiếp cận Phụ
nữ trong phát triển (WID) xuất hiện vào đầu những năm 70 của thế kỉ XX, quan
điểm “phụ nữ trong phát triển” chú trọng vào phụ nữ, vào các vấnđề nảy sinh đối
ngoài xã hội đềuđóng vai trò trung tâm trong việc duy trì xã hội, nhưng sự hòa
nhập này chỉ góp phần duy trì cơ cấu của sự bất bình đẳng hiện nay trên bình
diện quốc tế. Cũng giống như WID, WAD đã quá chú trọng vào lĩnh vực sản
xuất, chú trọng vào chiến lược tham dự và việc triển khai các hoạt động tạo thu
nhập mà không xem xét đến việc thực hiện các chiến lược này sẽ tạo thêm áp lực
và gánh nặng cho phụ nữ. Các quan điểm của WAD bị phê phán là đã không coi
lao động gia đình như một giá trị kinh tế và WAD đã áp dụng các thành kiến và
các giả định của phương Tây vào các nước đang phát triển.
Thứ ba, quan điểm “Giới và phát triển” (GAD): xuất hiện vào những năm
90 của thế kỷ XX. Tiếp cận “Giới và phát triển” ra đời sau nên có được nhiều
kinh nghiệm từ những thất bại của nhiều chương trình phát triển. Tiếp cận “Giới
và phát triển” quan tâm đến sự phát triển bền vững, tập trung vào cân bằng giới
và các chương trình phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu cả nam và nữ. Tức là GAD
tạo sự chuyển biến trong suy nghĩ, cũng như nhìn nhận về vai trò, trách nhiệm,
các quyền tiếp cận, kểm soát nguồn lực kinh tế của phụ nữ và nam giới, điều
chỉnh các yếu tố cơ cấu tác động ảnh hưởng nhằm cải thiện tình trạng, vai trò của
phụ nữ và cân bằng các quan hệ giới.
Theo phương pháp tiếp cận này, phụ nữ được nhìn nhận, đánh giá như là
những nhân tố tích cực chứ không phải là những người thừa hưởng thành quả
của sự phát triển. Mục tiêu phát triển theo phương pháp này là sự tự lực, sức
mạnh của bản thân phụ nữ, tức là phụ nữ có cơ hội phát huy hết năng lực của
mình và có điều kiện phát triển một cách toàn diện và hoàn toàn bình đẳng với
14
nam giới. Đây là một phương pháp tiếp cận được ưa chuộng và được đánh giá là
phương pháp có hiệu quả trong việc giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới trong
thời gian hiện nay.
Quan điểm GAD cung cấp cơ sở lý luận cho việc xem xét vai trò của phụ
trên con đường chinh phục tự nhiên từ mấy thiên niên kỷ trước, quá trình hàng
nghìn năm đấu tranh chống xâm lược để giữ gìn môi trường sản xuất và sinh
hoạt của con người nơi đây. Nhà nghiên cứu Trần Từ cho rằng:“Làng là tế bào
sống của xã hội Việt cổ, là sản phẩm tự nhiên tiết ra từ quá trình định cư và cộng
cư của người Việt” [41, tr.11-12].Cùng với nhận xét đó, khẳng định vị trí của
làng trong việc hình thành nền văn hóa Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Từ
Chi viết: “Làng là tế bào sống của xã hội Việt Nam. Xã hội Việt Nam là sản
phẩm tự nhiên tiết ra từ quá trình định cư và cộng cư của người Việt trồng trọt.
Hiểu được làng Việt là có trong tay cơ sở tối thiểu và cần thiết để tiến lên tìm
hiểu xã hội Việt nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung, trong sức năng động
lịch sử của nó, trong ứng xử cộng đồng và tâm lý tập thể của nó, trong các biểu
hiện văn hóa, cả trong những phản ứng của nó trước những hình thái mà lịch sử
đương đại đặt vào nó” [14, tr.177].
Cùng với sự thay đổi của các triều đại trị vì trong lịch sử mà tên gọi của
“làng” có khác nhau: “làng” cũng gọi là “thôn” hoặc “làng xã”, cũng có khi
“làng” cũng chính là “xã”. Theo PGS.TSKH Phan Xuân Sơn: Trong lịch sử,
đơn vị “xã”, có nơi là “làng xã” một đơn vị quần cư - hành chính có từ lâu đời
trong kết cấu nông thôn Việt Nam. Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của
“làng”, những đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của “làng” là những yếu tố đặc
biệt quan trọng quyết định đến sự nghiệp dân chủ hóa cấp cơ sở nói riêng và sự
phát triển nông thôn, nông nghiệp nói chung.
Từ những ý kiến nêu trên, chúng ta có thể hiểu: “Làng xã” là một cộng
đồng địa vực, có ranh giới lãnh thổ tự nhiên và hành chính xác định; “làng” là
một đơn vị tự cấp về kinh tế; “làng xã” vừa có ruộng, có nghề,có đình làng tạo
nên một không gian khép kín thống nhất, có nhiều dòng họ tồn tại lâu đời, “làng
xã” là một cộng đồng tương đối độc lập về phong tục tập quán văn hóa; “làng
16
gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ đô thị theo quy
hoạch; xã hội nông thôn ổn định; giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng
cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nôngthôn dưới sự
lãnh đạo của Đảng được tăng cường” [9, tr.32].
Như vậy, nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn, không phải thị tứ,
thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống. Nông thôn mới là
tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo
tiêu chí mới, có thể khái quát theo năm nội dung cơ bản sau: 1. Làng xã văn
minh sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; 2. Sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng
kinh tế hàng hóa; 3. Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn ngày
càng được nâng cao; 4. Bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; 5. Xã
hội nông thôn an ninh tốt, quảnlý dân chủ.
Sự khác biệt giữa nông thôn và nông thôn mới được thể hiện ở chỗ đó là:
nông thôn là khái niệm chứa đựng cả mô hình nông thôn cũ và mô hình nông
thôn mới, còn mô hình nông thôn mới chứa đựng những điều kiện đáp ứng các
yêu cầu phát triển, có sự đổi mới về tổ chức, vận hành các cảnh quan về môi
trường, đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội, so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể vận dụng, phổ
biến trên cả nước. Nói khái quát về các tiêu chí của nông thôn mới ở nước ta
hiện nay
1.1.2. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò
của phụ nữ
1.1.2.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của phụ nữ
* Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen
Trong thời kì nguyên thủy, không có cái gì là quyền tư hữu, khi sở hữu
của loài người là của chung thì không có sự phân biệt giới tính, hay bất bình
đẳng giữa nam và nữ. Trong xã hội đó, không có giai cấp, không có bóc lột lao
động, không có tài sản riêng. Đồng thời, phụ nữ không bị nô dịch, bị ràng buộc