Tư tưởng chính trị xã hội của lê quý đôn trong tác phẩm quần thư khảo biện - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
----------------

PHẠM THÚY HẰNG

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA LÊ QUÝ ĐÔN
TRONG TÁC PHẨM "QUẦN THƯ KHẢO BIỆN"

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự
hướng dẫn của PGS. TS Nguyễn Thị Thọ.
Nội dung và các trích dẫn nêu trong luận ăn có nguồn gốc rõ ràng và
trung thực.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về đề tài
nghiên cứu của mình.
Hà Nội,

tháng

năm 2017

Tác giả luận văn

Phạm Thúy Hằng


1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu .................................................................................. 3
3. Mục đích nghiên cứu ............................................................................... 8
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ......................................................... 9
5. Giả thuyết khoa học ................................................................................. 9
6. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................... 9
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu .................................................................. 9
8. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 10
9. Kết cấu luận văn .................................................................................... 10
10. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn .................... 10
CHƯƠNG 1. LÊ QUÝ ĐÔN VÀ TÁC PHẨM QUẦN THƯ KHẢO BIỆN . 11
1.1. Lê Quý Đôn cuộc đời và sự nghiệp ....................................................... 11
1.1.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội, chính trị thời Lê - Trịnh ........................ 11
1.1.2. Cuộc đời Lê Quý Đôn ..................................................................... 21
1.1.3. Sự nghiệp của Lê Quý Đôn ............................................................. 24
1.1.4. Tiền đề tư tưởng hình thành tư tưởng chính trị - xã hội của
Lê Quý Đôn............................................................................................... 29
1.2. Tác phẩm “Quần thư khảo biện” ......................................................... 38
1.2.1. Sự ra đời của tác phẩm ................................................................... 38
1.2.2. Nội dung cơ bản của tác phẩm ....................................................... 40
Tiểu kết chương 1 .......................................................................................... 44
Chương 2. NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ
HỘI CỦA LÊ QUÝ ĐÔN TRONG “QUẦN THƯ KHẢO BIỆN” .......... 45
2.1. Tư tưởng về đường lối trị nước............................................................. 45
2.1.1. Tư tưởng trị nước với sự kết giữa “Đức trị” và “Pháp trị” .......... 45
2.1.2 Quyền hành tập trung một mối, trọng dụng hiền tài ....................... 61


2.2 Tư tưởng thân dân và trách nhiệm của nhà vua đối với dân ............. 70
2.2.1. Coi trọng sức mạnh từ dân, lấy dân làm gốc ................................. 71

nghiệp anh hùng và quang vinh của ông cha, nòi giống, những gì nhắc lại
những kỳ công của bậc tiền bối trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do, vì đời
sống ấm no, hạnh phúc của các thế hệ đã qua” [56; tr 7].
Việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam là việc làm cần thiết, không
chỉ khơi dậy niềm tự hào dân tộc, mà còn góp phần giao lưu văn hóa với các
nước trong khu vực và thế giới, để khẳng định bản sắc, tính chủ quyền, độc lập
của dân tộc.
Chế độ phong kiến Việt Nam ở thế kỷ XVIII lâm vào khủng hoảng, cho
dù nhà nước phong kiến Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng
Trong thi hành nhiều chính sách cải cách nhưng đều không thành, không xây

1


dựng được bộ máy vững mạnh. Mặc dù trong bối cảnh như vậy vẫn xuất hiện
nhiều tư tưởng sáng ngời về lòng yêu nước, thương dân, lòng tự hào dân tộc, tinh
thần đoàn kết… với mong muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn của nhiều nhà
tư tưởng kiệt xuất như Lê Hữu Trác, Ngô Thì Nhậm, Hương Hải Thiền Sư ... và
trong các nhà tư tưởng đó không thể không kể đến một “nhà bác học lớn của
Việt Nam trong thời kỳ phong kiến” - đó là Lê Quý Đôn. Ông là một học giả
xuất sắc, một nhà tư tưởng lớn trong lịch sử Việt Nam dưới thời phong kiến,
sinh trưởng trong bối cảnh xã hội loạn lạc, phức tạp, có nhiều thay đổi. Dù xã
hội như vậy, nhưng nền kinh tế thời kỳ này lại đang trên đà khởi sắc, sự phát
triển ngoại thương đã dẫn tới sự phát triển thủ công nghiệp và thương nghiệp,
sự tiếp xúc với chủ nghĩa tư bản phương Tây làm cho thị trường nước ta có sự
thay đổi, sự gia tăng thành thị, sự chuyển biến trong tư tưởng đã làm xuất hiện
những tư tưởng lớn, tiến bộ. Với trí thông minh, vốn tri thức uyên bác, tinh
thần học hỏi không ngừng, có cơ hội đi nhiều nơi, tiếp xúc nhiều người, nhiều
luồng tư tưởng nên Lê Quý Đôn đã chắp bút và để lại cho hậu thế một kho tàng
tri thức phong phú, quý báu cả về Lịch sử, Văn học, Địa lý và Triết học.

phần vào việc gìn giữ, giao lưu văn hóa với các nước trong khu vực và thế
giới. Để góp phần nghiên cứu nhỏ bé của mình vào lĩnh vực lịch sử tư tưởng
Việt Nam, để bồi dưỡng tốt hơn cho công tác chuyên môn, tôi chọn đề tài
“Tư tưởng chính trị - xã hội của Lê Quý Đôn trong tác phẩm Quần thư
khảo biện” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành triết học của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu
Lê Quý Đôn là một trong những tác giả có số lượng lớn tác phẩm còn
lưu lại đến ngày nay và được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là những tư liệu
bổ ích khi tìm hiểu về những giá trị tư tưởng tiến bộ của ông. Trong những
năm qua, đã có các công trình nghiên cứu về Lê Quý Đôn nói chung và về tư
tưởng triết học của ông nói riêng, trong đó có những tư tưởng về chính trị - xã
hội, liên quan đến đề tài luận văn.
Có những nghiên cứu tập trung về cuộc đời sự nghiệp của Lê Quý Đôn, có
tài liệu nghiên cứu về tư tưởng văn học, lịch sử, triết học, đạo đức, có tài liệu

3


nghiên cứu về nội dung các tác phẩm của ông... Về tác phẩm Quần thư khảo
biện cũng đã có các học giả nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích ở những khía cạnh
và nội dung khác nhau như nghiên cứu về tác giả, một số nội dung chính của tác
phẩm, tư tưởng dân tộc Việt Nam thế kỷ XVIII. Song trong đề tài nghiên cứu
của mình, tôi muốn chú trọng đến những công trình liên quan đến thân thế, sự
nghiệp và những nội dung tư tưởng chính trị - xã hội quan trọng của Lê Quý
Đôn trong Quần thư khảo biện.
Có thể kể đến một số nhóm công trình tiêu biểu như sau:
Nhóm thứ nhất, những nghiên cứu về lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội
ở Việt Nam.
Chính trị - xã hội là một trong những đề tài nghiên cứu được nhiều tác
giả quan tâm dành nhiều công sức để tìm hiểu. Trong đó có “Lịch sử tư tưởng

nhiên, công trình chủ yếu tập trung nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam,
chứ mục đích nghiên cứu không đi sâu tìm hiểu về một tác giả nào cụ thể, đây
chính là tài liệu bổ ích cho các bạn đọc làm cơ sở để tìm hiểu về sự hình thành
lịch sử tư tưởng Việt Nam.
Nhóm thứ hai, những nghiên cứu về triết học của Lê Quý Đôn.
Trong “Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu” của
Cao Xuân Huy, do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1995, là một trong
những công trình đã bàn khá sâu sắc về những quan điểm triết học tự nhiên
của Lê Quý Đôn, thông qua bài viết Lê Quý Đôn và học thuyết lý, khí. Bài viết
ngoài việc trình bày về tư tưởng của Lê Quý Đôn về bản thể của thế giới, vũ
trụ, còn chỉ ra nguồn gốc hình thành tư tưởng của Lê Quý Đôn. Từ đó, có
những đánh giá về những tiến bộ và hạn chế của ông so với các nhà Nho cùng
thời. Trong công trình nghiên cứu, mặc dù các tác giả chưa đề cập đến các
vấn đề triết học như vấn đề con người, chính trị - xã hội… Nhưng tác giả đã
chĩ rõ nguồn gốc hình thành tư tưởng Lê Quý Đôn, chỉ ra những hạn chế, tiến
bộ của Lê Quý Đôn so với các nhà Nho cùng thời.

5


Công trình dù đã trình bày khá cụ thể quan điểm về bản thể thế giới của Lê
Quý Đôn, nhưng các bài viết chủ yếu vẫn mang tính giới thiệu, mang tính khái
quát, chưa đánh giá, phân tích kỹ chưa giúp cho người đọc thấy được khuynh
hướng Tam giáo đồng nguyên trong tư tưởng của ông. Các vấn đề về con người,
chính trị - xã hội... các tác giả cũng chưa đề cập đến, chưa phân tích tới.
Công trình Lê Quý Đôn - Nhà bác học Việt Nam thế kỷ XVIII, Sở Văn
hóa và Thông tin Thái Bình, (Kỷ yếu Hội nghị chuyên đề về những cống hiến
của Lê Quý Đôn). Trong đó, các tác giả đã bàn về các phạm trù bản thể luận
của Lê Quý Đôn qua việc tìm hiểu phạm trù lý và khí trong Vân đài loại ngữ.
Qua đó các tác giả đặt ra vấn đề và chứng minh các yếu tố trong vũ luận của

Lê Quý Đôn đáng tham khảo. Bài viết chủ yếu tập trung đề cập đến cuộc đời, sự
nghiệp, khái quát hóa quan điểm triết học của Lê Quý Đôn qua việc giải quyết
mối quan hệ giữa lý và khí và hoạt động chính trị của ông. Nhưng theo quan
niệm của GS. Văn Tân thì tư tưởng triết học Lê Quý Đôn không thể vượt ra khỏi
quan niệm triết học Tống Nho. Điều này không hoàn toàn chính xác. Mặc dù Lê
Quý Đôn đã kế thừa và chịu ảnh hưởng của tư tưởng Tống Nho song ông cũng
có những quan điểm riêng của mình. Có thể nói, Lê Quý Đôn đã xuất phát từ
triết học Tống Nho để giải quyết các vấn đề theo quan điểm riêng, nó được thể
hiện khá rõ trong tác phẩm Vân đài loại ngữ. Các nhà Tống Nho đề cao những
giá trị đạo đức truyền thống của Nho giáo như Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín… Còn
tìm hiểu Vân đài loại ngữ, chúng ta nhận thấy Lê Quý Đôn muốn giải thích tính
thống nhất của thế giới không phải là ở những giá trị đạo đức của Nho giáo, mà
là ở khí. Điều này nói nên sự khác biệt giữa Lê Quý Đôn với phái Tống Nho. Tư
tưởng của ông mang tính duy vật về bản chất của thế giới. Về chính trị - xã hội,
các nhà Nho luôn coi trọng nhân trị, đức trị, còn Lê Quý Đôn lại cho rằng phải
kết hợp giữa Nhân trị và Pháp trị. Tác giả đã sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác
nhau như Việt sử thông giám cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí… Khi
tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Lê Quý Đôn, đây là một trong những tư
liệu có giá trị đối với các nhà nghiên cứu sau này.
Ngoài những bài viết trên còn có bài “Vài nét về Lê Quý Đôn - Nhà bác
học lớn của Việt Nam dưới thời phong kiến” của GS. Văn Tân ở Hội thảo

7


“Danh nhân Lê Quý Đôn - Cuộc đời và sự nghiệp”, tháng 8/2016 tại Thái
Bình, trình bày khái quát về sự nghiệp của Lê Quý Đôn qua hàng loạt tác
phẩm của ông, từ đó khẳng định ông là nhà bác học lớn của lịch sử Việt Nam
dưới triều đại phong kiến, là nhà tư tưởng tiến bộ trong đó có những tư tưởng
về triết học, chính trị - xã hội.

Tư tưởng chính trị - xã hội của Lê Quý Đôn trong tác phẩm Quần thư
khảo biện.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu phân tích, làm rõ các tư tưởng chính trị - xã hội của Lê Quý Đôn trong
Quần thư khảo biện sẽ giúp chúng ta thấy được nội dung cơ bản trong tư tưởng
chính trị - xã hội của ông và thấy được vai trò lịch sử của Lê Quý Đôn ở thế kỷ
XVIII, qua đó rút ra ý nghĩa tư tưởng chính trị - xã hội của ông đối với Việt Nam
hiện nay.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn cần phải thực hiện các
nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, trình bày khái quát những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội
thời Lê - Trịnh, và những tiền đề văn hóa, tư tưởng cho sự cho sự ra đời tác
phẩm Quần thư khảo biện, cũng như những tư tưởng về chính trị - xã hội của
Lê Quý Đôn qua tác phẩm.
Thứ hai, tìm hiểu, phân tích nội dung, chỉ ra những giá trị cơ bản về tư
tưởng chính trị - xã hội của Lê Quý Đôn trong tác phẩm Quần thư khảo biện.
Từ đó trình bày ý nghĩa của tư tưởng chính trị - xã hội của ông đối với Việt
Nam hiện nay.
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Tư tưởng chính trị - xã hội của Lê Quý Đôn trong tác phẩm Quần thư
khảo biện tương đối rộng, trong luận văn này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu
hai nội dung là: Tư tưởng về đường lối trị nước; Tư tưởng thân dân và trách
nhiệm của nhà vua đối với dân.

9


8. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ

Trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định của bất cứ một dân tộc nào đều
chịu ảnh hưởng bởi những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Việc
lựa chọn tư tưởng, đường lối chính trị phù hợp với bối cảnh lịch sử sẽ tác
động tích cực đến sự phát triển của một quốc gia và ngược lại chính những
điều kiện đó sẽ đánh giá sự phù hợp của các tư tưởng, các đường lối chính trị.
Đây là một trong những nguyên lý mà chủ nghĩa Mác đã khẳng định là tồn tại
xã hội quyết định ý thức xã hội.
Cho nên khi tìm hiểu lịch sử nói chung hay lịch sử tư tưởng Việt Nam nói
riêng, chúng ta cần tìm hiểu vấn đề trong bối cảnh lịch sử nhất định. Lê Quý Đôn
là nhà bác học, nhà tư tưởng thế kỷ XVIII, ông đã để lại cho thế hệ sau một kho
tàng tri thức đồ sộ, những tư tưởng chính trị - xã hội của ông ra đời chịu sự ảnh
hưởng của bối cảnh lịch sử, kinh tế - xã hội, chính trị lúc bấy giờ.
1.1.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội, chính trị thời Lê - Trịnh
Bối cảnh chung của xã hội Việt Nam lúc này là, nước Đại Việt chia cắt
thành Đàng Trong - Đàng Ngoài, các cuộc nội chiến diễn ra triền miên, Đàng
Ngoài thuộc vua Lê chúa Trịnh và Đàng Trong thuộc các chúa Nguyễn. Chính
sự khủng hoảng của bộ máy nhà nước phong kiến lúc đó, sự chia cắt hai miền
đã ảnh hưởng đến bối cảnh kinh tế - xã hội, chính trị, thế kỷ XVIII.
* Bối cảnh kinh tế - xã hội:
Ở Đàng Ngoài, tình trạng tư hữu ruộng đất ngày càng gia tăng, diện tích
ruộng đất công ngày càng bị thu hẹp, trong khi nhiều địa chủ có hàng trăm,
hàng nghìn mẫu ruộng thì nhiều nông dân không có ruộng để cày cấy. Cùng
với đó các cuộc tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến như Mạc

11


- Trịnh, Trịnh - Nguyễn… dẫn đến sự lơ là trong sản xuất nông nghiệp. Mặc
dù nhà nước Lê - Trịnh ở Đàng ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong không
phát huy được vai trò của mình như thời Lý, Trần, Lê - Sơ, nhưng với truyền

hữu tư nhân là chính, tức là ruộng đất thuộc quyền sở hữu của địa chủ, quan
lại, chúa Nguyễn còn cho phép các quan lại trao đổi mua bán nô tỳ. Bọn địa
chủ quan lại bóc lột nông dân bằng cách thu tô, quan hệ xã hội theo kiểu địa
chủ - tá điền. Cùng thời gian này thì ở Đàng Ngoài các phong trào khởi nghĩa
của nông dân diễn ra sôi nổi, về cơ bản chế độ nô tỳ không còn.
Lúc này, ruộng đất ở Đàng Trong chia thành các loại cho quan đồn điền,
quan điền trang và ruộng đất công ở làng xã. Quan lại hưởng bổng lộc từ
ruộng đất, qua việc thu tô, thuế từ các điền trang, hay bắt nông nô cày cấy ở
đồn điền, còn ruộng đất công ở làng xã được giao cho nông dân cày cấy và họ
phải nộp tô. Trong công cuộc khai hoang ở Đàng Trong chúa Nguyễn có
nhiều hình thức giao đất để khuyến khích khai hoang, lập ấp, như: Giao ruộng
đất do những người giàu để khai hoang, một số người từ Thanh Hóa đã theo
chúa Nguyễn vào Thuận Quảng, ở Nam bộ thì giao đất cho người có công đầu
khai hoang… Chúa Nguyễn sử dụng cả tù binh, nông dân bị bắt trong chiến
tranh Trịnh - Nguyễn ở Nghệ An để khai hoang ruộng đất, ở phía Nam chúa
Nguyễn khuyến khích người Việt đã sinh sống lâu đời khai hoang, lập làng
mới, khi số người khai hoang từ Thuận Quảng vào phía Nam ngày một đông,
chúa Nguyễn khuyến khích quan lại, địa chủ, người phiêu tán đi khai khẩn
tiếp để làm chủ vùng đất mới. Chính việc mở rộng cả quy mô, hình thức khai
hoang đã giúp chúa Nguyễn xây dựng được hệ thống bộ máy quan lại địa chủ
nhiều cả về quy mô, hình thức, làm cho tầng lớp này ngày một giàu hơn. Kinh
tế nông nghiệp ở Đàng Trong phát triển tạo cơ sở vững chắc cho chúa
Nguyễn, vì tất cả ruộng đất đều thuộc sở hữu của chúa Nguyễn và nó sẽ đảm
bảo sự duy trì cho sinh hoạt của nội phủ chúa Nguyễn. Đồng thời càng làm
trở ngại cho vua Lê - chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.

13


Bên cạnh sự phát triển sản xuất nông nghiệp, trong khoảng thời gian từ

nhờ vào sức mạnh của chúa Trịnh. Còn đối với chúa Trịnh muốn khẳng định
sức mạnh, cho sự tồn tại hợp lý của mình lại phải mượn cái bóng của vua Lê.
Từ thế kỷ XVI đến XVIII, đã có đến bốn thế lực tham gia tranh giành quyền
lực là Lê, Trịnh, Mạc, Nguyễn, nhưng theo quan điểm lúc đó thì vua Lê là tồn
tại chính danh, vua Lê được Thiên triều ở Trung Quốc ban sắc phong. Chúa
Trịnh là người tinh thông thời cuộc lúc đó, đã khôn khéo nghe theo sự khuyên
bảo của trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “giữ chùa thì ăn oản”, nếu tham vọng
mà cướp ngôi vua Lê thì họ Trịnh sẽ bị coi là giặc phản nghịch, tất nhiên sẽ bị
dư luận phản đối, mặt khác sẽ gặp sự phản đối từ Trung Quốc. Cho nên chúa
Trịnh đã khéo léo hòa hợp với vua Lê, không lật ngôi như Mạc Đăng Dung đã
làm năm 1527, mà chúa Trịnh âm thầm lấn át vua Lê, biến vua Lê thành “cái
bóng” chỉ có danh, mà không có quyền. Quyền lực trong tay chúa Trịnh
nhưng bản thân chúa Trịnh không tránh khỏi sự rình rập của các đối thủ khác
như Thiên triều ở phương Bắc, hay sau năm 1592 ở Cao Bằng vẫn còn tàn dư
của họ Mạc... Cả vua Lê và chúa Trịnh đều thấy được sự cần thiết dựa vào
nhau để cùng tồn tại nên hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Lê đã bắt tay nhau,
đây chính là lý do cơ bản mà chúa Trịnh dù đủ khả năng lật đổ vua Lê mà lại
không làm.
Nhà Mạc được thành lập khi Mạc Đăng Dung ép Lê Cung Hoàng
nhường ngôi vào năm 1527, ba năm sau Mạc Đăng Dung nhường ngôi cho
con là Mạc Đăng Doanh. Năm 1530 Lê Ý ở Thanh Hóa nổi dậy nhằm lật đổ
họ Mạc, đến năm 1535 vua Ai Lao đã giúp đỡ Nguyễn Kim Tôn con của Lê
Chiêu Tông lên làm vua đó là Lê Trang Tông, đóng đô ở Thanh Hóa và được
sự ủng hộ của phò tá theo hầu, đã tạo nên một triều đình mới đối lập với triều

15


đình họ Mạc ở phía Bắc, đến đây xã hội Đại Việt tồn tại một lúc hai triều đình
Nam Triều và Bắc Triều. Khi đó nhà Lê cùng với Trịnh Kiểm ủng hộ Nguyễn

thuộc về tay chúa Trịnh, bộ máy cồng kềnh, phức tạp, theo kiểu con cháu. Bắt
đầu từ chúa Trịnh Giang, các chúa Trịnh ngày càng lún sâu vào cuộc sống ăn
chơi, hưởng lạc, quan liêu, lũng đoạn làm khổ người dân lao động… Điều này
cho thấy sự suy yếu, lung lay của hệ thống chính quyền quan lại thời Lê Trịnh. Những năm nửa sau thế kỷ XVIII, nội bộ phủ Chúa lục đục, tranh giành
ngôi báu, các chúa Trịnh mải ăn chơi, hưởng thụ, phá vỡ cơ chế hai chính
quyền song song vua Lê - chúa Trịnh. Lê Quý Đôn đã có nhận xét trong Văn
kiến Tiểu lục: “Đội ngũ quan liêu thời Lê - Trịnh có số lượng không nhiều so
với số lượng quan lại ở thời Hồng Đức; nhưng trong đó số người có tước vị
bổng lộc mà không hoạt động gì lại tăng lên rất nhiều, khiến bộ máy quan chức
thời kỳ này cồng kềnh và mang nặng tính quan liêu” [57; tr 266].
Trong khi đó, nhà Nguyễn ở Đàng Trong sau thất bại khi đánh chế độ Lê
- Trịnh ở Đàng ngoài năm 1620, đã đẩy mâu thuẫn giữa họ không thể giải hòa
được, dẫn đến cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn bùng nổ năm 1627, đến năm
1672 hai bên chấp nhận lấy địa điểm là Sông Gianh là ranh giới vì hai bên bất
phân thắng bại. Khi Nguyễn Phúc Nguyên nối nghiệp cha là Nguyễn Hoàng
đã thành lập riêng một chính quyền ở Đàng Trong, tại Đô thành Phú Xuân
như một triều đại riêng gồm đủ sáu bộ: Lại, Lễ, Hộ, Binh, Hình, Công, phát
triển hưng thịnh về mọi mặt nhờ tài cai quản theo phép tắc công bằng, quân sĩ
có kỷ luật, sự khoan hòa nên được người dân quý mến, đức độ. Trong khi tập
đoàn phong kiến Đàng Ngoài bị suy yếu, tự nhận thấy tập đoàn phong kiến
Đàng Trong là đối thủ mạnh, nên cần hòa hợp giữa vua Lê và chúa Trịnh,
không thể quyền lực chia đôi. Trước thực tế như vậy những người dân sống
dưới triều đại đó cần phải linh hoạt, khôn khéo nhất là đối với đội ngũ quan
lại để cùng chung sống dưới hai thể chế. Đến đây lịch sử Việt Nam hình thành

17


một thể chế chính trị đặc thù là: một vua (Vua Lê) hai chúa (Chúa Trịnh và
Chúa Nguyễn) với hai thể chế chính quyền cùng tồn tại (chính quyền vua Lê chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong).

Như đã nói ở trên, tình trạng tư hữu ruộng đất của địa chủ đã dẫn đến
đẩy mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân và địa chủ ngày càng rõ, bộ máy quyền
lực ở làng xã trở thành công cụ cho giai cấp địa chủ cường hào để bóc lột
nông dân lao động. Rõ nhất là đến thời Trịnh Giang (1729 -1740), tình trạng
rất trầm trọng, để có tiền chi phí cho những cuộc vui chơi sa đọa, vua Trịnh
Giang đã tổ chức việc mua bán quan tước với những mức giá như: chức Tri
phủ từ 1500 quan đến 2500 quan, chức Tri huyện từ 500 quan đến 1200 quan,
quan Lục phẩm trở xuống cứ 500 quan sẽ được thăng một bậc, biến quan
trường trở thành nơi trao đổi mua bán, tham nhũng càng làm cho đời sống
người dân khổ cực.
Ở Đàng Ngoài, người dân không còn tin vào sự điều hành của thể chế
chính trị họ Trịnh, tất yếu dẫn đến hậu quả là những cuộc khởi nghĩa của nông
dân, như Ngô Thế Lân đã nói: “Tục ngữ có câu: Một bữa không có ăn thì dù
cha con cũng hết nghĩa. Đến như cha còn không bảo được con, thì vua sao giữ
được dân”.
Bắt đầu từ cuối thế kỷ XVII sang đầu thế kỷ XVIII đã xuất hiện một vài
cuộc khởi nghĩa nổi dậy lẻ tẻ với quy mô nhỏ của nhân dân ở cả miền ngược
và miền xuôi chống lại triều đình như khởi nghĩa ở vùng biển Yên Hưng Quảng Ninh nổi dậy bạo động năm 1714; người Thái ở Đèo Mỹ Lầm ở châu
Chiêu Tấn (Lai Châu) năm 1721, dân tộc thiểu số ở Cao Bằng năm 1724. Nổi
bật nhất là cuộc khởi nghĩa do nhà sư Nguyễn Dương Hưng cầm đầu ở Tam
Đảo (1736 - 1737), từ Tam Đảo nghĩa quân đã đánh về Thăng Long và nhiều
nơi khác, đánh vào tầng lớp nhà giàu, để chia cho nhà nghèo. Vua Lê - chúa
Trịnh phải điều Nguyễn Bá Lân, Nguyễn Lịch, Nguyễn Trọng Côn chia
đường để dẹp cuộc khởi nghĩa. Tiếp theo là cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật

19


(1738 - 1770), của Hoàng Công Chất (1739 - 1769), của Nguyễn Danh
Phương (1740 - 1751), của Nguyễn Hữu Cầu (1741 - 1751), hay các cuộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status