Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở thành phố Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang) tiếp cận từ góc độ lịch sử - Pdf 42

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS.
Nguyễn Thị Thu Thủy - người hướng dẫn khoa học đã tận tâm, nhiệt tình
hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch
Sử, phòng Sau Đại học, Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã
tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ, góp ý để tác giả hoàn thành luận
văn này.
Xin bày tỏ lòng tri ân đối với gia đình, bạn bè và người thân đã luôn
sát cánh bên tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.

Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Tác giả

1


BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

VIẾT ĐẦY ĐỦ

STT

VIẾT TẮT

1

Chủ biên

Cb

MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 6
1. Lí do chọn đề tài .................................................................................. 6
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................... 8
3. Đối tượng và phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu .................................... 13
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ....................................... 14
5. Đóng góp của luận văn ...................................................................... 15
6. Bố cục của luận văn ........................................................................... 16
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG VÀ TÍN
NGƢỠNG THỜ MẪU CỦA NGƢỜI VIỆT Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ18
1.1. Khái quát về thành phố Tuyên Quang ............................................ 18
1.1.1. Vị trí địa lý ............................................................................. 18
1.1.2. Điều kiện tự nhiên ................................................................. 19
1.1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội....................................................... 22
1.1.4. Truyền thống văn hóa ............................................................ 24
1.2. Khái quát về tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ ................. 25
1.2.1. Khái niệm............................................................................... 25
3


1.2.2. Nguồn gốc của tín ngưỡng Mẫu ............................................ 27
1.2.3. Đặc trưng cơ bản của tín ngưỡng thờ Mẫu........................... 29
* Tiểu kết chương 1 ............................................................................... 36
Chương 2: HỆ THỐNG ĐỀN THỜ MẪU Ở THÀNH PHỐ TUYÊN
QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG ............................................................ 38
2.1. Khái quát về hệ thống đền thờ Mẫu ở thành phố Tuyên Quang..... 38
2.1.1. Số lượng, phân bố .................................................................. 38
2.1.2. Niên đại.................................................................................. 42
2.1.3. Đối tượng thờ ........................................................................ 42
2.1.4. Cảnh quan địa lý ................................................................... 46
2.1.5. Kiến trúc ................................................................................ 47

Trong hệ thống tín ngưỡng dân gian Việt Nam, tín ngưỡng thờ Mẫu là
một loại hình tín ngưỡng dân gian khá phổ biến trong xã hội. Tín ngưỡng
thờ Mẫu đã xuất hiện từ lâu và được bảo tồn qua đền thờ, lễ hội, niềm tin và
đời sống tâm linh để tồn tại lâu dài trong đời sống tinh thần của người dân
Việt. Đối tượng thờ phụng gồm những nhân vật nữ có công đức được dân
gian sùng bái là Thánh Mẫu - người mẹ của trăm họ như: Mẫu Thoải, Mẫu
Âu Cơ, Bà Chúa Thượng Ngàn, Bà Liễu Hạnh, Bà chúa Kho….Tín ngưỡng
thờ Mẫu gần gũi với thiên nhiên, đất trời, gắn với thân phận người phụ nữ
Việt Nam. “Mẫu” là hình tượng, một biểu trưng và là sự kết tinh sống động
của đời sống văn hóa tinh thần dân tộc ta.
Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt nói chung và tín ngưỡng thờ Mẫu
ở Tuyên Quang nói riêng đã trở thành một bộ phận, một yếu tố không thể
thiếu để cấu thành nên bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc.
Tín ngưỡng thờ Mẫu ở xứ Tuyên là tín ngưỡng của cộng đồng các dân
tộc với ý thức hướng tới cội nguồn và khát vọng hoà bình hạnh phúc được
hình thành từ môi trường địa lý, lịch sử tự nhiên và tập quán dân gian. Đó là
hình thái ý thức cổ xưa đồng hành với quan niệm vạn vật hữu linh và đa
thần giáo trong đời sống dân tộc.
Nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu ở Tuyên Quang có ý nghĩa khoa học
và thực tiễn sâu sắc.
Về ý nghĩa khoa học, đến nay tín ngưỡng thờ Mẫu trên cả nước nói
6


chung, ở Tuyên Quang nói riêng vẫn còn chứa đựng những điều bí ẩn, cần
được luận giải về mặt khoa học một cách đầy đủ, sâu sắc. Tháng 12/2016
“Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã được
UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Tuyên Quang được coi là một trong những trung tâm thờ Mẫu. Việc nghiên
cứu tín ngưỡng thờ Mẫu ở Tuyên Quang sẽ góp phần tái hiện lại diện mạo

các Thánh Mẫu, các Chư thần. Thông qua việc trình bày thần tích của 117
vị nữ thần ở Việt Nam (trong đó có rất nhiều các vị được thờ trong tín
ngưỡng thờ Mẫu) cùng danh mục 362 vị nữ thần được lưu truyền trong dân
gian và thần tích trên các vùng miền khác nhau, công trình đã cung cấp một
nguồn tư liệu rất phong phú và bổ ích để các nhà nghiên cứu có thể hiểu rõ
hơn về hệ thống nữ thần ở Việt Nam.
Công trình Di sản văn hóa dân tộc trong tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt
Nam, tác giả Chu Quang Trứ (Nxb Thuận Hóa, Huế năm 1996) có bài viết
về Tín ngưỡng thờ Mẫu nhưng còn chưa thực sự rõ ràng, tác giả giới thiệu
dàn đều bốn loại hình tín ngưỡng chủ yếu tại Việt Nam.
Vũ Ngọc Khánh, với công trình Tín ngưỡng dân gian Việt Nam (tái
bản có sửa chữa, bổ sung) (2001), tác giả có viết về các tín ngưỡng dân gian
Việt Nam hiện nay, trong đó có cả tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng Tam
phủ - Tứ phủ, nhưng không nghiên cứu sâu từng loại hình tín ngưỡng mà
chỉ nêu khái quát từng loại hình tín ngưỡng dân gian mà thôi.
Công trình Đạo Mẫu ở Việt Nam (2 tập) do Ngô Đức Thịnh chủ biên
8


(Nxb Văn hóa dân gian, 2002). Đây được coi là một tác phẩm nghiên cứu
một cách cơ bản và tương đối hoàn chỉnh về tín ngưỡng Mẫu. Tác giả đã
tiếp cận hiện tượng tín ngưỡng này chủ yếu dưới góc độ văn hóa và phần
nào cũng chỉ ra được phương diện tín ngưỡng tôn giáo.
Văn hóa Thánh Mẫu của Đặng Văn Lung (Nxb Văn hóa – Thông tin,
Hà Nội năm 2004) cũng đã đưa ra một “Văn hóa Thánh Mẫu” của người
Việt trên cơ sở phân tích sự hình thành và phát triển của các biểu tượng
Thánh Mẫu. Tuy nhiên, như tác giả đã tự nhận thấy, tác phẩm này mới chỉ
dừng lại ở việc phần nào tìm ra sự phát sinh, hình thành, truyền bá và sự
sửa đổi cốt truyện, lễ hội theo lôgic - lịch sử - chính trị - văn hóa - xã hội
của đất nước.

Hội thảo khoa học quốc tế Văn hóa thờ Mẫu (nữ thần) ở Việt Nam và
Châu Á – Bản sắc và giá trị được tổ chức trong hai ngày 29 và 30 tháng 9
năm 2016 tại Nam Định. Các học giả tham dự hội thảo đã cho rằng thờ Mẫu
là một tín ngưỡng; tục thờ Mẫu là thế giới quan, nhân sinh quan của cư dân
nông nghiệp châu Á; đồng thời là triết lý về tinh thần yêu nước, về sức
mạnh, đạo lý của các dân tộc. Trên phương diện văn hoá, tục thờ Mẫu là
bức tranh đa dạng, sinh động về nghệ thuật diễn xướng dân gian, phản ánh
nhiều giá trị văn hóa đã được sáng tạo, tích tụ và trao truyền từ đời này sang
đời khác, làm nên sức sống vĩnh cửu của các Nữ thần và của Mẫu.
Một số người đã lựa chọn tín ngưỡng thờ Mẫu làm đối tượng nghiên
cứu chính trong các luận văn, luận án của mình: Vũ Thị Thu An với đề tài
10


luận văn Thạc sỹ Triết học Tìm hiểu nghi lễ thờ cúng của tín ngưỡng thờ
Mẫu ở Kiến An – Hải Phòng (Đại học KHXHNV Hà Nội, năm 2013),
Nguyễn Hải Anh với đề tài luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Chủ nghĩa xã
hội khoa học: Ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ mẫu đến đời sống văn hóa
tinh thần người dân ở Hải Phòng hiện nay (Đại học KHXHNV Hà Nội,
năm 2015), Phan Thị Kim với đề tài luận văn Thạc sỹ Triết học Tìm hiểu
mối quan hệ giữa phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu ở khu vực Đồng bằng
bắc bộ (Đại học KHXHNV Hà Nội, năm 2011), Nguyễn Ngọc Mai với đề
tài Luận án Tiến sĩ Văn hóa học Hiện tượng lên đồng trong bối cảnh đổi
mới (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam năm 2010),….
Nhiều bài viết được công bố trên các tạp chí cũng đã đề cập đến tín
ngưỡng thờ Mẫu.
Trên Tạp chí Văn học có các bài như: Đinh Gia Khánh, Tục thờ Mẫu
và những truyền thống văn hóa dân gian Việt Nam, Tạp chí Văn học, số
5/1992; Văn Ty, Bước đầu tìm hiểu âm nhạc chầu văn trong tín ngưỡng
Mẫu Liễu, Tạp chí Văn học, số 5/1992;

nội – 2008) của tác giả Phù Ninh. Tác phẩm đã trình bày những di tích lịch
sử, danh lam thắng cảnh tiêu biểu ở Tuyên Quang. Trong cuốn sách, một số
đền thờ Mẫu ở thành phố Tuyên Quang đã được khảo tả về niên đại, kiến
trúc của đền Hạ, đền Thượng, đền Cảnh Xanh.
Lịch sử Đảng bộ thị xã Tuyên Quang (1940 - 2008) (Ban chấp hành
Đảng bộ thị xã Tuyên Quang, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009) đã
12


nêu lên một cách tổng quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, vài nét về văn
hóa của thành phố Tuyên Quang, trong đó có bước đầu đề cập đến đền thờ
và lễ hội thờ Mẫu ở Tuyên Quang.
Văn hoá, văn học và ngôn ngữ địa phương tỉnh Tuyên Quang (Bùi Thị
Mai và Trần Lâm Huyền biên soạn, Trường Cao đẳng Sư phạm Tuyên
Quang xuất bản vào năm 2010). Cuốn sách đã miêu tả đôi nét một số đền
thờ Mẫu, lễ hội thờ Mẫu ở thành phố Tuyên Quang (đền Hạ, đền Cảnh
Xanh, đền Thượng). Các tác giả của cuốn sách đã khái quát chung về văn
hoá Tuyên Quang, trong đó tín ngưỡng thờ Mẫu ở đây được đánh giá là một
tín ngưỡng văn hóa truyền thống của cư dân Tuyên Quang.
Địa chí Tuyên Quang (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2014) là cuốn
sách tổng kết, giới thiệu khái quát những tri thức chủ yếu về thiên nhiên,
con người, lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh
của Tuyên Quang xưa và nay. Trong Địa chí Tuyên Quang, vấn đề văn hóa
nói chung, tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng ở Tuyên Quang được trình bày
trong phần thứ năm: Văn hóa. Trong đó đặc biệt là các chương: Di tích Danh thắng đã trực tiếp trình bày về ba di tích thờ Mẫu ở thành phố Tuyên
Quang đó là đề Hạ, đền Thượng, đền Cảnh Xanh, đền Ỷ La; ở chương Lễ
hội dân gian đã miêu tả khái quát về tiến trình lễ hội thờ Mẫu ở ba ngôi đền
của thành phố Tuyên Quang.
Tóm lại, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách
cụ thể, đầy đủ, hệ thống về tín ngưỡng thờ Mẫu ở thành phố Tuyên Quang.



Tuyên Quang như Hồ sơ di tích đền Hạ, hồ sơ di tích đền Thượng, đền Ỷ
La,…
- Nguồn tư liệu điền dã do tác giả thu thập được trong qua trình điền
dã như ảnh, kết quả phỏng vấn tại một số đền thờ Mẫu, tại lễ hội Mẫu ở
Tuyên Quang.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử để xem xét, đánh giá các sự kiện lịch sử, các sự vật, các di vật, các
tài liệu chính sử và dân gian về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Tuyên Quang.
Phương pháp chủ yếu mà tác giả sử dụng trong luận văn là phương
pháp lịch sử và phương pháp logic. Trong đó phương pháp lịch sử được sử
dụng để tái hiện lại diện mạo các đền thờ, lễ hội thờ Mẫu ở Tuyên Quang.
Phương pháp logic được vận dụng phân tích, đánh giá về tín ngưỡng thờ
Mẫu ở Tuyên Quang.
Để xử lý tốt các tư liệu, luận văn sử dụng phương pháp so sánh, phân
loại, đối chiếu,… nhằm tập hợp các tư liệu để từ đó có nhận thức đầy đủ,
đúng đắn về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Tuyên Quang.
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn được thực hiện thành công sẽ có một số đóng góp cơ bản sau
đây:
Một là, luận văn nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện hệ thống
đền thờ Mẫu và lễ hội thờ Mẫu ở Tuyên Quang.
Hai là, luận văn góp phần bổ sung những nhận thức về tín ngưỡng thờ
Mẫu ở Việt Nam.
15


Ba là, luận văn cung cấp thêm nguồn tài liệu tham khảo cán bộ quản lý

Tiến, xã Vĩnh Lợi (huyện Sơn Dương). Phía tây giáp xã Trung Môn, xã
Hoàng Khai, xã Kim Phú và xã Phú Lâm (huyện Yên Sơn).
Thành phố Tuyên Quang có 07 phường (Tân Quang, Minh Xuân, Phan
Thiết, Ỷ La, Tân Hà, Hưng Thành, Nông Tiến) và 06 xã (Trảng Đà, An
Tường, Lưỡng Vượng, An Khang, Thái Long, Đội Cấn).
Thành phố Tuyên Quang là đầu mối giao thông thủy, bộ quan trọng.
Đường thủy có sông Lô, tàu lớn xuôi tới Việt Trì, Hà Nội và các tỉnh đồng
bằng song Hồng. Mùa mưa, tàu nhỏ có thể ngược sông Lô lên đến Hàm
Yên, ngược sông Gâm lên đến Chiêm Hóa. Đường bộ có Quốc lộ 2 nối
18


Tuyên Quang với Hà Nội qua Phú Thọ, Vĩnh Phúc về phía nam, với Hà
Giang về phía bắc. Quốc lộ 37 nối Tuyên Quang với Yên Bái và các tỉnh
Tây Bắc với Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng và các tỉnh Đông Bắc. Mặc
dù thành phố Tuyên Quang nằm sâu trong nội địa, cách xa cảng, cửa khẩu
và các trung tâm kinh tế lớn của cả nước, không có đường hàng không
nhưng do có hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy hoàn chỉnh, dày
đặc nên việc thông thương, giao dịch, trao đổi hàng hóa của thành phố với
bên ngoài khá thuận lợi.
1.1.2. Điều kiện tự nhiên
Tổng diện tích tự nhiên của thành phố Tuyên Quang là 11.921 ha bằng
2,03% tổng diện tích cả tỉnh (tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Tuyên Quang
là 587.038,5), trong đó đất nông nghiệp 33,64%; đất lâm nghiệp 32,26%;
thổ cư và đất chuyên dụng 29,96%; diện tích núi đá, sông ngòi và mặt nước
10,50% [82; tr. 1328].
Đặc điểm địa hình
Thành phố Tuyên Quang có độ cao trung bình so với mực nước biển từ
23,48 đến 39,48m. Bao bọc quanh thành phố là các dãy núi: núi Dùm (ở
phía đông bắc), núi Là (phía Tây), núi Nghiêm (phía đông nam).

đồi núi nên lòng sông dốc, nước chảy xiết và có khả năng tập chung nước
nhanh vào mùa lũ. Do chịu ảnh hưởng của địa hình nên dòng chảy có
hướng Bắc – Nam (Sông Gâm), hoặc Tây – Bắc (Sông Lô). Thủy chế chia
20


làm hai mùa rõ rệt, phù hợp với hai mùa khí hậu. Các con sông lớn chảy
qua Tuyên Quang là sông Lô, sông Gâm và sông Phó Đáy.
Sông Lô hợp với sông Gâm ở thượng lưu cách thành phố 15 km, chảy
dọc qua thành phố từ bắc đến nam. Thành phố có 4 ngòi lớn là Ngòi Cơi,
Ngòi Là, Ngòi Chả, Ngòi Thục. Cùng với sông ngòi, Tuyên Quang còn có
nhiều hồ nước tự nhiên tồn tại từ lâu như hồ Tân Quang, hồ Cô Ven, hồ
Trung Việt, hồ Kỳ Lãm,…
Các con sông lớn này có vai trò quan trọng và ảnh hưởng lớn đến đời
sống sản xuất, kinh tế, xã hội, và nét sinh hoạt văn hóa của cư dân Tuyên
Quang.
Tài nguyên rừng
Theo số liệu thống kê đất đai năm 2011 (tính đến 01 tháng 01 năm
2012), thành phố Tuyên quang có 3.852,63 ha đất lâm nghiệp. Trong đó, đất
rừng sản xuất chiếm 80,58%; rừng phòng hộ chiếm 19,42% [64; tr. 1]. Đây
là nguồn tài nguyên quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, điều tiết
nguồn nước và không khí của thành phố. Đặc biệt, trong giai đoạn trước
đây, rừng có vai trò quan trọng, ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế, văn
hóa của cư dân Tuyên Quang.
Tài nguyên nước
Nước mặt của thành phố vào loại trung bình của lãnh thổ phía Bắc
Việt Nam, tiềm năng nước mặt dồi dào, gấp 10 lần yêu cầu nước sản xuất
nông nghiệp và sinh hoạt và nguồn nước mặt là nguồn nước chính cung cấp
cho thành phố. Thành phố còn có lượng nước ngầm dồi dào, có ở khắp lãnh
thổ và chất lượng tốt đủ tiêu chuẩn dùng trong sinh hoạt. Mực nước ngầm

công nghiệp (29,93%) [86; tr. 15].
Thu nhập của đại bộ phận nhân dân thành phố ngày càng được nâng
lên song bên cạnh đó nảy sinh các vấn đề bất cập. Quỹ đất nông nghiệp có
xu hướng ngày càng thu hẹp, nhu cầu chuyển dịch lao động từ nông nghiệp
sang làm công nghiệp, dịch vụ tăng. Quá trình đô thị hoá đã và đang làm
cho thu nhập chênh lệch tăng. Các vấn đề về xã hội như: số lượng người
nước ngoài đến lưu trú làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp và số
lượng người vi phạm pháp luật Việt Nam có chiều hướng gia tăng; tình hình
tai, tệ nạn xã hội vẫn còn diễn ra trên địa bàn thành phố. Đặc biệt vấn đề giữ
gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống đang xuất hiện nhiều vấn đề
cấp thiết: vấn đề phục hồi, phát triển các tín ngưỡng truyền thống, vấn đề
xuất hiện những yếu tố mới trong đời sống văn hóa,…
Phong trào xây dựng nông thôn mới của thành phố đạt hiệu quả cao.
Đến năm 2015, 6/6 xã hoàn thành đề án quy hoạch xây dựng nông thôn
mới, đã phê duyệt quy hoạch 6/6 xã. Xã Tràng Đà đạt 19/19 tiêu chí, An
Khang 19/19 tiêu chí, An Tường 15/19 tiêu chí, Lưỡng Vượng 17/19 tiêu
chí, Thái Long 17/19 tiêu chí, Đội Cấn 15/19 tiêu chí [86; tr. 17].
Theo Niên giám thống kê năm 2015, dân số thành phố Tuyên Quang
có 94.855 người (trong tổng số 760.289 người của toàn tỉnh Tuyên Quang).
Trong đó mật độ dân số của thành phố là 773 người/km2.
Trên địa bàn thành phố Tuyên Quang hiện có 18 dân tộc anh em sinh
sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm 48,21%, các dân tộc ít người chiếm
51,79% (Tày chiếm 25,45%, Dao chiếm 11,38%, Sán Chay chiếm 8%,
Mông chiếm 2,2%, Nùng chiếm 1,9%, Sán Dìu chiếm 1,6%...) [86; tr. 2].
Mỗi dân tộc đều có phong tục tập quán và văn hóa riêng, tạo nên sự đa dạng
23


về bản sắc văn hoá.
1.1.4. Truyền thống văn hóa

Quan làng (dân tộc Tày), Páo dung (dân tộc Dao), Sình ca (dân tộc Cao
Lan), Soọng cô (dân tộc Sán Dìu)… Về lễ hội có lễ hội Lồng Tồng của dân
tộc Tày, lễ cầu mùa của dân tộc Dao…
Văn hoá truyền thống Tuyên Quang vừa mang dấu ấn của văn hoá
vùng Việt Bắc, vừa mang bản sắc riêng tự thân của con người, mảnh đất
Tuyên Quang. Những đặc sắc văn hoá truyền thống của Tuyên Quang chính
là mảnh đất màu mỡ làm nảy sinh và nuôi dưỡng tín ngưỡng thờ Mẫu tồn
tại và phát triển.
1.2. Khái quát về tín ngƣỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ
1.2.1. Khái niệm
Qua khảo cứu các công trình nghiên cứu từ trước đến nay, có thể thấy
có những cách hiểu, cách đặt vấn đề khác nhau về tín ngưỡng thờ Mẫu như
sau:
Thứ nhất, tín ngưỡng thờ Mẫu đã và đang trở thành một loại hình tôn
giáo sơ khai của người Việt. Tác giả Hoàng Lương: “Đạo Mẫu trong quá
trình nảy sinh, vận động và biến đổi đã và đang chuyển hóa từ tín ngưỡng
nguyên thủy để trở thành một tôn giáo sơ khai” [48; tr.88]. Đặng Văn Lung
còn khẳng định: tín ngưỡng thờ Mẫu: “đã là một tôn giáo chứ không còn là
một tín ngưỡng, theo kiểu thờ cúng tổ tiên trong gia đình hay thờ cúng anh
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status