NGHI lễ hầu ĐỒNG TRONG tín NGƯỠNG THỜ mẫu của NGƯỜI VIỆT và NHỮNG vấn đề đặt RA HIỆN NAY - Pdf 47

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

---------------------------------------

CHU THUỲ LINH

NGHI LỄ HẦU ĐỒNG TRONG TÍN NGƢỠNG
THỜ MẪU CỦA NGƢỜI VIỆT Ở ĐỒNG BẰNG
BẮC BỘ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY

Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành: Tôn giáo
Mã số: 60 22 90

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Đăng Sinh

HÀ NỘI - 2014


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

LỜI CẢM ƠN!
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy giáo, cô giáo
trong khoa Triết học - Trường Đại Học Khoa học Xã Hội và Nhân Văn,
ĐHQGHN, đã đào tạo, giúp đỡ em trong suốt thời gian học vừa qua và đã

lieu mien
mien phi
phi

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mấy thập kỷ gần đây, trong xã hội Việt Nam, do chính sách đổi mới và
mở cửa, cùng với những tác động của đời sống kinh tế - xã hội, đã tạo nên sự
hồi sinh của nhiều hình thức tín ngưỡng và sự gia tăng phức tạp của các loại
hình sinh hoạt tín ngưỡng, làm cho bức tranh về tôn giáo tín ngưỡng ở nước ta
trở nên đa dạng với nhiều sắc thái và các chiều tác động khác nhau, trong đó
có tín ngưỡng thờ Mẫu.
Tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian của người
Việt, phản ánh rõ nét đặc trưng văn hoá của cư dân nông nghiệp trồng lúa
nước. Với việc tôn thờ người phụ nữ, người mẹ, coi người mẹ là đấng sáng
tạo, bảo trợ cho sự tồn tại, phát triển của vạn vật, tín ngưỡng thờ Mẫu đã thể
hiện được đạo lý “uống nước nhớ nguồn” và truyền thống tôn trọng người
phụ nữ của người Việt Nam. Song đây cũng là một hiện tượng tín ngưỡng gây
nhiều tranh luận là mê tín hay không mê tín, là văn hoá hay phi văn hoá, là giá
trị hay phản giá trị,…cần được xem xét và nghiên cứu một cách khoa học.
Hầu đồng là một trong những nghi lễ quan trọng của tín ngưỡng thờ
Mẫu. Trong nhiều năm gần đây cùng với sự bùng phát mạnh mẽ của loại hình
tín ngưỡng dân gian này, nghi lễ Hầu đồng cũng đã thu hút được sự quan tâm
của nhiều nhà nghiên cứu. Nhiều tài liệu xuất bản đã đề cập đến hoạt động
này như một nghi lễ thực hành tôn giáo, một dạng thức của Saman, một sinh
hoạt văn hoá tâm linh,… Tuy nhiên nghi lễ Hầu đồng ở Việt Nam vẫn còn
gây nhiều tranh luận trong giới nghiên cứu về nguồn gốc và bản chất của nó.
Bên cạnh những giá trị tích cực, những nét đẹp văn hoá mà Hầu đồng đem lại
thì nghi lễ này cũng vấp phải sự phản đối của không ít người do nhiều nơi vẫn
còn khá phổ biến những hiện tượng lạm dụng nghi lễ này để phục vụ cho mục

trình bày các hiện tượng thờ Mẫu tiêu biểu ở Việt Nam. Ngoài ra còn nhiều

2


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

các công trình khác cũng nghiên cứu về tín ngưỡng Mẫu như: “Các nữ thần
Việt Nam” của Đỗ Thị Hảo và Mai Thị Ngọc Chúc (Nxb Phụ nữ, Hà Nội,
1984); “Văn hoá Thánh Mẫu” của Đặng Văn Lung (Nxb Văn hoá – Thông
tin, Hà Nội, 2004); “Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam” của Nguyễn
Minh San (Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1994); “Góp phần tìm hiểu tín
ngưỡng dân gian ở Việt Nam ” do Nguyễn Đức Lữ chủ biên (Học viện chính
trị Quốc Gia Hồ Chí Minh, 2000)…
Bên cạnh đó còn nhiều bài viết công bố trên các tạp chí: Nghiên cứu lý
luận, Triết học, Tôn giáo, Văn hoá dân gian, Văn học…cũng đã đề cập tới các
góc độ khác nhau về tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả kể trên đã tiếp
cận tín ngưỡng thờ Mẫu từ các góc độ khác nhau: văn hoá, lịch sử, tôn giáo,
nghệ thuật,.. Trong các nghiên cứu về Đạo Mẫu thì Hầu đồng cũng được đề
cập đến như là một trọng tâm của nghiên cứu, nhiều bài viết của các tác giả đã
phân tích và tiếp cân nghi lễ này ở nhiều góc độ khác nhau và cũng đã có
nhiều kết luận đáng chú ý: Lên đồng phần nào cũng đã đáp ứng được sự giải
toả căng thẳng của cuộc sống công nghiệp đang hằng ngày, hằng giờ đè nặng

Nghi lễ Hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng
bằng Bắc Bộ và những vấn đề đặt ra hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu:
Nghi lễ Hầu đồng của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ trong lịch sử và
hiện tại.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về vấn đề tín ngưỡng,
tôn giáo, đồng thời sử dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, logic lịch sử, xem xét tôn giáo xuất phát từ nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo.

4


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

6. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn đóng góp một phần cho việc nghiên cứu nghi lễ Hầu đồng
trong tín ngưỡng Thờ Mẫu của người Việt để có thể hiểu thêm về nghi lễ,
đồng thời nhìn nhận nó một cách khách quan để có thể phát huy những giá trị
và hạn chế những mặt tiêu cực của nghi lễ Hầu đồng trong việc xây dựng nền
văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 2 chương 4 tiết, cùng phần mở đầu, kết luận và danh


6


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

Lễ tức là một trật tự xã hội, kỷ cương trong xã hội mà dân chúng phải
tuần theo. Khổng Tử, người đầu tiên sáng lập ra đạo Nho ở thời Xuân Thu
(551 - 479 TCN) nói: “Muốn dẫn dắt dân chúng nhà cầm quyền phải dùng
đức hạnh; muốn trị dân nhà cầm quyền phải dùng lễ tiết, thì chẳng những dân
biết hổ ngươi, họ lại còn cảm hoá mà trở nên tốt lành” [7, tr.15].
Lễ chế (phép tắc về việc lễ) gắn liền với nghi lễ (nghi thức về việc lễ),
hợp với điều nghĩa để hoà nhập với xung quanh. Lễ cũng gắn liền với Nhạc.
Trong xã hội, Lễ phân biệt trên dưới, ngăn cản những gì quá đáng,
thiên về lí trí, nên cần có Nhạc kèm theo để điều hoà tình cảm tạo nên sự hoà
nhập tương thân. Đối với cả Lễ và Nhạc điều cơ bản là phải xuất phát từ đức
nhân bên trong. Khổng Tử thường nói: “Người ta mà chẳng có lòng nhân, thì
làm sao mà thi hành lễ tiết? Người ta mà chẳng có lòng nhân, làm sao mà
dùng âm nhạc?” [7, tr.33].
Trong tôn giáo lễ được hiểu là các hoạt động chủ chốt trong đời sống
tín ngưỡng của người có đạo, gắn liền với Phật, với Chúa, với các tín đồ như
Tăng Ni với Phật Tử, giáo sỹ với giáo dân.
Lễ trong tôn giáo được coi là thiêng liêng nên được coi là Phật lễ,
Thánh lễ.

là thế giới siêu nhiên với các thần linh, các cuộc hành trình của thần linh từ
cõi hư vô trở về tái sinh trên thân xác của các ông Đồng – bà Đồng trong nghi
lễ Lên đồng.
Hầu đồng là một nghi lễ chính trong tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần và
thờ Mẫu Liễu ở đồng bằng Bắc Bộ. Thực hiện nghi lễ Hầu đồng thờ hai vị
Thánh này của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ cũng chia thành hai: dòng
Thánh Cha, tức thờ Đức Thánh Trần, Vua Cha Bát Hải và dòng Đồng Cốt thờ
Thánh Mẫu. Các đệ tử của dòng thờ Đức Thánh Trần và Vua Cha Bát Hải
được gọi là Thanh đồng, “Thanh” ở đây nguyên là “thanh tiên đồng tử” tức

8


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

tiên đồng. Chữ “Thanh” nghĩa là màu xanh, chỉ thanh thiếu nhi trẻ tuổi, nhiều
người còn hiểu Thanh đồng có nghĩa là thanh trừ tà ma quỷ quái.
Từ “Đồng” trong “Hầu đồng” có nghĩa là trẻ con. Con người khi sinh ra
thường bị cuộc sống nhân tạo chi phối, kìm hãm khả năng tiếp cận với sự ẩn
tàng của thiên nhiên, vũ trụ. Và, chỉ trong khi lên đồng, bằng xuất thần, để trở
về với tâm hồn trẻ thơ mang bản chất trong trắng, hồn nhiên con người mới
tạm thời gạt bỏ được những sự ràng buộc nhân tạo đó. Người ta tin rằng, có
như vậy mới đồng cảm được với thần linh, hoà hợp được với thiên nhiên, vũ
trụ và mới biết được sự dạy bảo của đấng thiêng liêng.

nhập cái bóng (hồn) của mình vào ông Đồng hay bà Đồng và ông bà Đồng
này chỉ là người hầu hạ cái bóng của Thần linh ấy [37, tr 50]. Trên thực tế thì
khi ông Đồng hay bà Đồng đã trùm tấm khăn phủ diện đỏ lên người, cung văn
thỉnh mời thần linh và ông bà Đồng giơ tay ra hiệu ngôi vị Thánh nào giáng
về thì lúc đó với bộ trang phục của vị Thánh ấy, các Đồng trong con mắt
những người xung quanh cũng như trong tâm tưởng, ảo tưởng của chính chủ
thể, họ không còn là những người phàm nữa mà đã là thần linh hay chí ít họ
cũng được đồng nhất với thần linh. Chi tiết này cho thấy nếu coi Hầu bóng là
để chỉ các con đồng hầu hạ cái bóng của thần linh là không thoả đáng, nhưng
nếu xét từ góc độ các con nhang đệ tử, cung văn ngồi dự và thực thi các hoạt
động như hát ngợi ca công tích Thánh Thần, dâng tiền, dâng lễ, tung hô, tán
thưởng, dâng rượu, dâng trà cho Thánh khi nhập vào Đồng và bản thân các
Đồng kiêm luôn việc thực hành, biểu diễn vũ đạo để mua vui cho Thần linh
thì hoàn toàn có thể coi là hầu hạ Thánh.
Trong khu vực Phủ Dày (Nam Định) có một địa điểm gọi là Phủ Bóng,
trước đây nó được gọi là “cây đa Đền Bóng” hay “Nguyệt Du Cung”. Tương
truyền ở đây có một cây đa cổ thụ và dưới gốc có điện thờ nhỏ. Về sau cây đa
mất đi, dân trong vùng xây một điện thờ khang trang, sau bị chiến tranh huỷ

10


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi



bản thân, đòi hỏi các Đồng phải có một quá trình tập luyện và luôn cần sự hỗ
trợ của các Đồng thấy. Trong câu khấn của các Hầu dâng khi Thánh về
thường có câu “Hôm nay ngày…chúng con bắc ghế Quan/Chầu ngồi, bắc
ngôi Quan/Chầu ngự…” xét từ khía cạnh này có nghĩa là thân thể con Đồng
lúc ấy chỉ đóng vai trò là cái giá hay là cái ghế để Thần linh mượn thân xác ấy
mà ngự vào đó thôi, còn phần bên trong, phần tinh thần là thuộc về Thánh
thần. Cái ghế đó cũng để cho nhiều vị Thánh ngự chứ không chỉ một vị, vì thế
khác với hiện tượng lên đồng trong Saman giáo, mỗi lần lên đồng, một căn
Đồng có thể lên rất nhiều giá Đồng, có người lên tới 36 giá, thay tới 36 lần
trang phục và thể hiện đầy đủ tính cách của các vị Thánh đó.
Như vậy, Hầu đồng là một nghi lễ chính trong tín ngưỡng thờ Mẫu. Đó
là nghi lễ nhập hồn nhiều lần của các vị thần linh Tam phủ, Tứ phủ vào thân
xác các ông Đồng, bà Đồng, là sự tái hiện hình ảnh các vị Thánh, nhằm phán
truyền, chữa bệnh, ban phúc lộc cho các tín đồ Đạo Mẫu. Trong Hầu đồng,
mỗi lần một vị thần linh nhập hồn (giáng đồng), rồi làm việc quan (tức thời
gian thực hiện các nghi lễ, nhảy múa, ban lộc, phán truyền) và xuất hồn
(thăng đồng) được gọi là một giá đồng. Trong nghi lễ lên đồng, có tất cả 36
giá đồng, nhưng thường trong một buổi hầu đồng không thể lên hết được tất
cả các giá.
1.1.2. Các quan niệm khác nhau về nghi lễ Hầu đồng
Hầu đồng cổ xưa ở Việt Nam như thế nào, hầu như không có tài liệu
nào phản ánh, tài liệu sớm nhất mà chúng ta có được hiện nay là “Thượng
Kinh Ký Sự” của Hải Thượng Lãn Ông, song cũng chỉ được đề cập thoáng
qua với cái tên “tiệc hát”. Đó là chưa kể đến sự nhạy cảm của hiện tượng này
khiến các nghiên cứu công phu về nó càng trở nên ít ỏi, vì vậy mà việc hiểu
tường tận về Hầu đồng lại càng trở nên khó khăn. Tuy nhiên căn cứ vào nhiều

12


ý kiến cho rằng Thần là có quyền năng vô bờ bến, còn Thánh là sự tích hợp
của hai yếu tố Thần và trí tuệ. Khi xem xét lai lịch các Thánh ở đồng bằng
Bắc Bộ cho thấy có một số đặc điểm sau:
Nguồn gốc: thường là những vị nhân thần sinh thời có tư cách đạo đức
tốt, có những công lao hiển hách với đất nước, dân tộc (Trần Quốc Tuấn); là
những Thiên thần nhưng đều đã giáng trần, đã sống cuộc đời trần tục (cũng

13


lấy vợ/chồng là người trần) hiển linh nhiều lần giúp dân, giúp nước (Liễu
Hạnh).
Mô típ Thánh của người Việt bao giờ cũng là những nhân vật có tài
năng đặc biệt, có phép thuật, có thể chữa bệnh, bắt tà, cứu dân (Trần Quốc
Tuấn), tài trị thuỷ (Tản Viên); phù cho việc buôn bán giỏi giang (Chử Đồng
Tử, Mẫu Liễu).
Khi đã là Thánh, họ có phép thuật và trở nên bất tử. Sự bất tử đó thể
hiện bằng việc thường xuyên hiện hữu giữa đời thường dưới hình thức giáng
linh, giáng trần để có thể thấu suốt, giải quyết mọi việc trần gian.
Thực tế cho thấy trong vô số các Thần linh đất Việt chỉ có một số nhân
vật được chọn làm Thánh và được dân gian cũng như triều đình phong Thánh:
Thánh Tản Viên, Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Thánh Trần, Thánh Chử Đạo Tổ,
Thánh Gióng… đây cũng là điều đặc biệt. Trong số các vị Thánh này chỉ có
hai vị Thánh Trần và Thánh Mẫu Liễu Hạnh là có vị trí sâu đậm hơn trong
tâm tưởng dân gian. Việc ốp đồng, nhập đồng ở đồng bằng Bắc Bộ xưa cũng
như nay chỉ tập trung xung quanh thần điện của hai vị Thánh này.
Việc tổ chức Hầu đồng dường như cũng tập trung nhiều nhất ở những
địa điểm di tích lịch sử thờ hai vị Thánh này. Với tư cách là nơi phát tích hai
dòng Đồng: Thanh Đồng và Đồng Cốt, khu vực đồng bằng Bắc Bộ giống như
cái nôi của Hầu đồng. “Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”, câu ca dân gian

mục đích đó là chữa bệnh và trừ tà.
* Hầu đồng là hiện tượng nhập hồn của nhiều thần linh
Đây là quan niệm phổ biến trong tâm thức dân gian, chính xác hơn đây
là quan niệm của chính những tín đồ thuộc cả hai dòng Thanh đồng và Đồng
cốt. Với niềm tin tôn giáo của mình, họ không đủ nhận thức để giải thích hiện
tượng đặc biệt này và đều cho rằng khi các ông, bà Đồng lên đồng, là lúc thần
linh nhập vào, vì vậy những hoạt động của các Đồng lúc đó là hoạt động của
Thần linh. Từ quan niệm này nên khi tham gia một buổi Hầu đồng (trong lúc
diễn ra nghi lễ) thì dù là trong vai trò Đồng lính (đồng mới) con nhang dự
hầu, hay thậm chí là vợ, chồng của con Đồng thì bất cứ người nào cũng có
thái độ ứng xử với con Đồng như ứng xử với Thần linh.
Quan niệm này cũng chi phối cả các nhà nghiên cứu. Năm 1959
Maurice Durand xuất bản tài liệu bằng tiếng Pháp về lên đồng ở Việt Nam,
tuy chưa đưa ra được nhận định một cách rõ ràng nhưng qua những gì ông
viết chúng ta thấy ông nghiêng về giới thuyết lên đồng có mối liên hệ với
Saman giáo: Nghi lễ này dường như gắn chặt với nghi lễ đối với Thánh Mẫu

15


từ xa xưa và các buổi hầu đồng gắn với đạo Saman hẳn là rất phong phú. Về
sau khi nghiên cứu về Đạo Mẫu trở nên phổ biến hơn thì quan niệm này cũng
được thể hiện đậm nét ở nhiều học giả đi sau khi phát biểu về nghi lễ Hầu
đồng: “Hầu đồng hay Hầu bóng là hiện tượng nhập hồn nhiều lần của nhiều vị
thần linh. Trong đó, mỗi lần một vị thần linh nhập hồn (ốp đồng, giáng đồng),
rồi làm việc quan (tức thời gian thực hiện các nghi lễ nhảy múa, ban lộc, phán
truyền) và xuất hồn (thăng đồng) được gọi là một giá đồng” [37, tr. 49]. Chịu
tác động từ những quan niệm dân gian và những công trình nghiên cứu trong
nước mà các học giả nước ngoài khi nghiên cứu về hiện tượng này cho dù
dưới góc độ nào cũng đều cho rằng Hầu đồng thuộc thể loại tín ngưỡng nhập

phát từ tiềm thức” đó là “hiện tượng bất bình thường của con người bình
thường trong trạng thái ý thức không kiểm soát được hành vi (hành vi, ngôn
ngữ do tiềm thức điều khiển). Cơ chế đó chỉ có ở một số người đặc biệt mà
người ta gọi là căn Đồng” [16, tr. 871].
Trở lại thuật ngữ về từ “lên” trong lên đồng mà Nguyễn Duy Hinh cho
rằng: thuật ngữ “lên” nếu được hiểu như quá trình phát dẫn, đi lên, bộc lộ ra
bên ngoài của cảm xúc, giống như khi ta nói “lên cơn sốt”, “lên cơn điên”,
“lên cơn ghen” thì lên đồng là hiện tượng phân tâm học thuộc lĩnh vực mà
S.M.Freud nghiên cứu và như vậy thì “không có trong/ngoài, không có
Đồng/Thần, tất cả diễn ra trong tiềm thức của chủ thể (Đồng) và thể hiện ra
bên ngoài. Đó là hiện tượng tiềm ẩn trong tiềm thức lúc nào đó đột nhiên lên,
tức xuất hiện” [16, tr.874]. Nếu hiểu như vậy thì lên đồng xưa kia ở đồng
bằng Bắc Bộ không phải là sự đột nhập của các yếu tố bên ngoài vào (Thần
nhập) mà là một trạng thái tâm sinh lý đặc biệt xuất phát từ bên trong ra, và
chỉ có thông qua bộ môn phân tâm học của Freud mới giúp chúng ta hiểu
được những cái gì thuộc về tâm lý học tầng sâu (tâm lý học tiềm thức, ý thức).
Từ lập luận này có thể hiểu khi chủ thể (Đồng) bắt đầu “lên đồng” là lúc đột
khởi trạng thái tâm lý đặc biệt xuất phát từ tiềm thức, đây là trạng thái mà
Nguyễn Duy Hinh cho rằng đó là: “Hiện tượng bất bình thường trong trạng
thái ý thức không kiểm soát được hành vi”. Cơ chế sẽ dễ dàng hơn ở một số
người đặc biệt (người có biểu hiện tâm, sinh lý khác bình thường; người nhạy
cảm mà dân gian gọi một cách đơn giản là người có căn Đồng, hoặc người
không rõ ràng giới tính). Như vậy lên đồng ở những cá thể này, có thể là sự
xuất hiện, đột khởi trạng thái ý thức không bình thường ở những cá nhân có
những cơ chế tâm sinh lý đặc biệt. Điều đáng lưu ý ở đây là khi lên đồng ,
nhiều Đồng ở vào trạng thái đặc biệt của tâm lý và ý thức mà năng lượng từ
vô thức được bột phát trỗi dậy và phát huy được một số tính năng/công năng,

18


hoá Việt Nam đương thời. Qua những số tạp chí còn lưu giữ đến ngày nay thì
lác đác đây đó tục Hầu đồng cũng được đề cập đến, song không phải là những
chuyên luận nghiên cứu như ngày nay mà chỉ là những mục điểm các lễ thức
hay các đoạn viết mang tính chất phê bình về hủ tục nước Nam. Hầu đồng
cùng phong thuỷ, bốc phệ nằm trong số phận ấy, nó được đề cập đến như là
những điển hình về dị tục, hay trò mê tín.

19


Điều đó cho thấy ngay từ nửa đầu thế kỷ XX, khi mà luồng văn minh
Âu Tây, cụ thể là văn hoá Pháp đã tràn vào Việt Nam, đã tác động rất nhiều
đến cách nghĩ và lối tư duy của xã hội đương thời. Đây là lần thứ hai trong
lịch sử văn hoá dân tộc phải đương đầu với cuộc hội nhập văn hoá lớn, nhiều
trí thức yêu nước thời gian này đã khảo cứu về phong tục nước Nam như dấy
lên tinh thần dân tộc trước làn sóng văn hoá Âu Tây ồ ạt xâm nhập. Hầu đồng
cũng được kể đến song thái độ nhìn nhận lại hoàn toàn coi đó là một hủ tục, tà
giáo cần phải dẹp bỏ. Quan niệm này về sau vẫn còn phổ biến trong giới báo
chí nói chung. Có thể hiều nguồn cơn của “sự ngược đãi” này, một phần do
tính bí hiểm của Hầu đồng, mặt khác là do ở hệ thống tín ngưỡng này là tín
ngưỡng dân gian không có giáo lý, giáo hội nên khó nắm bắt và khó kiểm
soát, chưa kể trong lễ thức Hầu đồng thì tính thực dụng lại nổi lên như một
thế ứng xử với thần linh. Tuy nhiên trải quan bao thăng trầm và sóng gió, hình
thức nghi lễ này vẫn tồn tại một cách khá dẻo dai, tất yếu phải có những lý do
tồn tại tự thân của nó, phần khác cũng hết sức quan trọng đó là Hầu đồng lại
tồn tại trên nền tảng của tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần, Thánh Mẫu ở Việt
Nam.
1.2. Cơ sở hình thành và tồn tại của nghi lễ Hầu đồng trong tín
ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt ở đồng bằng Bắc Bộ
1.2.1. Hầu đồng là nghi lễ truyền thống, có từ lâu đời

Ba bề bốn bên
Đồng lên cho chóng
Dù là cửa đóng
Dù là then cài
Cách sông cách ao,
Đồng vào cho được…
Thế là con đồng lắc lư đầu rồi tung khăn vùng dậy, cầm chổi quét tứ
tung, lại nhảy cả xuống ruộng, xuống vũng sâu để quét làm cho bản thân
không giữ được mình khiến người ướt át và chỉ khi hết cơn thăng đồng mới
nằm vật ra hoặc tỉnh lại.
Người nhập đồng lấy chổi quét một cách vô cảm, hình như mọi việc
làm do “Thần chổi” sai khiến. Hiện tượng này không phải bởi tự người ngồi
đồng nghĩ ra để tự hành hạ mình trước số đông bạn bè có nam có nữ. Sự ngây
ngất này là nhập đồng một cách đơn giản khiến hệ thần kinh mất chức năng
chủ đạo.

21


Phụ đồng ếch cũng do bạn bè tổ chức, người ngồi đồng được phủ khăn
lên đầu rồi nghe bạn hát chầu:
Ếch ộp mày ở trong hang
Đêm khuya thanh vắng nhảy toang ra đồng.
Gặp chú thần đồng…
Nghe bài hát cùng khói hương khiến con đồng lắc lư, quay đảo rồi tiếp
tục hất khăn ra, hai tay chống nạnh, hai chân khuỳnh nhảy như ếch nhảy, đến
khi thăng nằm vật ra…
Lại còn đánh đồng thiếp, hình thức này là đỉnh cao của phụ đồng dân
gian cũng có từ lâu đời. Đây là trường hợp người hầu phải chết thiếp đi do tác
động khách quan (chết giả) để xuất hồn đi tìm gặp tổ tiên ở các vùng trời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status