VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN BỐN
VĂN HÓA TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU CỦA NGƢỜI VIỆT
Ở KHÁNH HÕA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN BỐN
VĂN HÓA TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU CỦA NGƢỜI VIỆT
Ở KHÁNH HÕA
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số:
62 31 06 40
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS. TS NGÔ ĐỨC THỊNH
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Al: Âm lịch
T/c: Tạp chí
BTG: Ban Tuyên giáo
TP. Thành phố
Cb: Chủ biên
TP. HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
CNH: Công nghiệp hóa
TS: Tiến sỹ
CTQG: Chính trị quốc gia
TT&TT: Thông tin và truyền thông
ĐHQG: Đại học quốc gia
T.tr: Thị trấn
GS: Giáo sƣ
T.x: Thị xã
VNĐ: Việt Nam đồng
Mục lục
Mở đầu ................................................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của luận án .......................................................................................... 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án ......................................................... 2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án .......................................................... 3
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận án ........................................................................ 3
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án .................................................................... 6
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án ...................................................... 6
7. Cấu trúc của luận án .................................................................................................. 7
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận ........................................ 8
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ......................................................................... 8
1.1.1. Tình hình nghiên cứu thờ Mẫu ở Việt Nam nói chung ................................... 8
1.1.2. Nghiên cứu tiếp biến văn hóa qua tín ngƣỡng thờ Mẫu ................................ 15
1.2.3. Tình hình nghiên cứu tín ngƣỡng thờ Mẫu ở Khánh Hòa ............................ 20
1.2. Cơ sở lý luận ........................................................................................................ 25
1.2.1. Lý thuyết vùng văn hóa ................................................................................. 25
1.2.2. Tiếp biến văn hóa .......................................................................................... 26
1.2.3. Văn hóa tín ngƣỡng ....................................................................................... 28
1.3.4. Văn hóa tín ngƣỡng thờ Mẫu ........................................................................ 30
Tiểu kết chương 1 ........................................................................................................ 32
Chƣơng 2: Vùng đất, con ngƣời, lịch sử và văn hóa Khánh Hòa ................................ 33
2.1. Không gian địa lý ................................................................................................. 33
2.2. Cộng cƣ tộc ngƣời và sinh kế ............................................................................... 35
2.3. Lƣợc sử vùng đất .................................................................................................. 38
2.4. Tiếp biến văn hóa Việt - Chăm trong lịch sử ....................................................... 42
2.5. Tín ngƣỡng ........................................................................................................... 45
2.6. Tôn giáo ................................................................................................................ 52
Phụ lục 2: Danh sách phỏng vấn thông tín viên ................................................... 156
Phụ lục 3: Danh mục khảo sát điện thần ............................................................... 157
3.1. Điện thần tƣ gia .............................................................................................. 157
3.2. Điện thần nhà nƣớc quản lý ........................................................................... 158
Phụ lục 4: Truyền thuyết ........................................................................................ 159
4.1. Truyền thuyết Pô Inƣ Nƣgar của ngƣời Chăm ............................................... 159
4.2. Truyền thuyết Thiên Y A Na Thánh Mẫu của ngƣời Việt ............................. 163
Phụ lục 5: Kinh Thiên Y A Na ............................................................................... 165
Phụ lục 6: Văn tế Thiên Y A Na Thánh Mẫu........................................................ 185
6.1. Văn tế Thiên Y A Na Thánh Mẫu tại lễ hội am Chúa ................................... 185
6.2. Văn tế Thiên Y A Na Thánh Mẫu tại lễ hội tháp Bà .................................... 186
Phụ lục 7: Văn chầu Tiên Thiên Thánh giáo ........................................................ 189
Phụ lục 8: Sơ đồ điện thần ...................................................................................... 243
8.1. Tháp Bà .......................................................................................................... 243
8.2. Am Chúa ........................................................................................................ 244
8.3. Điện Định Phƣớc ............................................................................................ 245
Phụ lục 9: Ảnh minh họa ........................................................................................ 245
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận án
Thực hành tín ngƣỡng thờ Mẫu Tam phủ nói riêng, tín ngƣỡng thờ Mẫu của
ngƣời Việt nói chung vừa đƣợc UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể
cho thấy vai trò và giá trị của nó không chỉ đối với Việt Nam mà cả nhân loại. Tín
ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt đã nảy sinh, tích hợp và bảo tồn các giá trị văn hóa
truyền thống của dân tộc. Theo thời gian, tín ngƣỡng này đã theo chân ngƣời Việt
lan tỏa khắp mọi vùng miền trong cả nƣớc và gần đây đƣợc mang ra cả nƣớc ngoài.
Điều thú vị là, đi đến bất cứ vùng miền nào, tín ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời
Việt luôn có xu thế hòa nhập, hỗn dung với các tín ngƣỡng bản địa để phù hợp với
điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử, xã hội và thỏa mãn nhu cầu của chính họ ở
thiết. Tuy nhiên, chủ đề nghiên cứu có nội hàm và ngoại diên rất rộng, trong khuôn
khổ một luận án, chúng tôi chỉ tập trung diễn giải sự hỗn dung văn hóa Việt - Chăm
qua tín ngƣỡng này mà thôi. Đồng thời chúng tôi luận bàn những giá trị văn hóa tín
ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt ở Khánh Hòa đặt trong bối cảnh phát triển kinh tế,
văn hóa - xã hội ở địa phƣơng hiện nay.
Với những lý do khoa học và thực tiễn nhƣ vậy, chúng tôi cho rằng việc thực
hiện luận án này thực sự là cấp thiết và có tính khả thi cao trong bối cảnh nghiên
cứu của ngành văn hóa học hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu: Thông qua việc làm rõ thực trạng và đặc trƣng
văn hóa tín ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt ở Khánh Hòa, luận án tập trung diễn
giải sự tiếp biến văn hóa Việt - Chăm và bàn luận những giá trị của tín ngƣỡng này
trong bối cảnh kinh tế, văn hóa - xã hội của địa phƣơng hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Khái quát tình hình nghiên cứu về tín ngƣỡng thờ
Mẫu của ngƣời Việt nói chung và tín ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt ở Khánh Hòa
nói riêng; Chỉ ra cơ sở lý luận cần thiết cho việc nghiên cứu của luận án; Phác dựng
bức tranh khái quát về thực hành tín ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt ở Khánh Hòa;
Diễn giải quá trình tiếp biến văn hóa trong tín ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt ở
Khánh Hòa và những vấn đề đặt ra từ đó.
2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Những biểu hiện đa dạng trong tín ngƣỡng thờ
Mẫu của ngƣời Việt ở Khánh Hòa, từ điện thần đến truyền thuyết, nghi lễ, lễ hội,
tên gọi, từ ngƣời thực hành nghi lễ đến bối cảnh chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội.
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu tín ngƣỡng thờ Mẫu
của ngƣời Việt trong không gian văn hóa Khánh Hòa. Tuy nhiên để phục vụ cho
những diễn giải của mình, chúng tôi cũng quan tâm tới thực hành tín ngƣỡng thờ
Trong thời gian thực hiện đề tài này, tác giả luận án đã khảo sát 65 điện thần
nhằm thu thập thông tin về sự hình thành, phát triển và những thực hành văn hóa tín
ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt ở Khánh Hòa(1). Bên cạnh đó, nghiên cứu sinh còn
khảo sát điện thần ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ: thành phố Hà Nội là điện thờ Mẫu
trong chùa Trấn Quốc, Phủ Tây Hồ (Tây Hồ), điện thờ Mẫu trong khuôn viên đình
đền Đông Thiên (Hoàng Mai); tỉnh Bắc Ninh là điện thờ Mẫu trong chùa Phật Tích
(Tiên Du, Bắc Ninh); tỉnh Nam Định là Phủ Dày (Vụ Bản, Nam Định); tỉnh Thanh
Hóa là đền Khe Rồng, đền Phủ Sung (Nhƣ Thanh), điện Phật Địa Mẫu trong khuôn
viên đền Độc Cƣớc (Tx. Sầm Sơn); tỉnh Nghệ An là đền Ông Hoàng Mƣời (Hƣng
Nguyên); tỉnh Hải Dƣơng là đền Sinh, đền Hóa, chùa Côn Sơn và đền Kiếp Bạc
(Chí Linh); tỉnh Thừa Thiên Huế là điện Hòn Chén (Hƣơng Trà). Việc khảo sát này
giúp cho tác giả luận án có cái nhìn đa chiều và có thêm cơ sở khoa học khi so sánh
giữa điện thần Mẫu của ngƣời Việt ở Khánh Hòa với những vùng văn hóa trên.
Ngoài ra, nghiên cứu sinh nhiều lần đƣợc quan sát tham dự thực hành tín
ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt ở Khánh Hòa, đó là những ngày sóc, ngày vọng
hàng tháng, Tết Nguyên đán, dịp lễ hội Thiên Y Thánh Mẫu tại tháp Bà, am Chúa,
Thiên Y điện, Định Phƣớc điện, chùa Suối Đổ, miếu Thiên Y, miếu Ngũ hành thần
nữ... Đặc biệt là nghiên cứu sinh nhiều lần đƣợc quan sát tham dự thực hành nghi lễ
hầu bóng Tứ phủ Bắc và Tứ phủ Huế còn gọi là Tiên Thiên Thánh giáo của ngƣời
Việt ở Khánh Hòa nhƣ lễ khai Xuân, tiệc Mẫu Liễu Hạnh, tiệc Quan Đệ Ngũ, tiệc
Quan Đệ Tam Thoải phủ, tiệc ông Hoàng Bơ, tiệc cô Bơ Thoải, tiệc Đức Thánh
Trần, tiệc Mẫu Cửu Trùng, tiệc Mẫu Sòng Sơn, tiệc Chầu Lục, tiệc Chầu Bé Bắc
Lệ, tiệc ông Hoàng Mƣời và lễ hội am Chúa, lễ hội tháp Bà, lễ hội chùa Suối Đổ…
(1)
Xem phụ lục 3: Danh mục khảo sát điện thần, tr.156
4
5
của những thông tín viên, rồi bằng cảm nhận của mình nhìn ra mối liên quan đến
niềm tin cũng nhƣ thực hành tín ngƣỡng này của chủ thể văn hóa.
Trong quá trình thực hiện đề tài này, nghiên cứu sinh đã thực hiện 35 cuộc
phỏng vấn ông đồng, bà đồng và cộng đồng Việt - Chăm, họ là những chủ thể đang
thực hành văn hóa tín ngƣỡng thờ Mẫu ở Khánh Hòa. Bên cạnh đó, tác giả luận án
cũng phỏng vấn thủ nhang, đồng đền, thanh đồng thờ Mẫu Tứ phủ Bắc, Tứ phủ Huế
nhằm tìm hiểu nét tƣơng đồng và sự khác biệt giữa chúng.
Phƣơng pháp so sánh: Đƣợc nghiên cứu sinh sử dụng làm rõ tính tƣơng đồng
và khác biệt giữa tín ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt ở Khánh Hòa so với các vùng
miền khác.
Phƣơng pháp phân tích và tổng hợp: Ứng dụng trong xử lý, phân tích các tài
liệu, phân tích và khái quát hóa các vấn đề đặt ra cho luận án. Phƣơng pháp này
giúp chúng tôi tham khảo, chọn lọc, kế thừa và vận dụng trong chứng minh những
luận điểm khoa học mới của luận án.
Tác giả luận án đã thu thập, tổng hợp và hệ thống tài liệu, báo cáo các thông
tin liên quan đến tín ngƣỡng thờ Mẫu Việt Nam nói chung và tín ngƣỡng thờ Mẫu ở
Khánh Hòa nói riêng. Đó là những công trình, tạp chí, giáo trình… liên quan đến
phạm vi nghiên cứu của luận án. Việc nghiên cứu, phân tích tài liệu thứ cấp giúp tác
giả luận án có cái nhìn tổng quan, khái quát về vấn đề đang nghiên cứu.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án khái quát đƣợc diện mạo tín ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt ở
Khánh Hòa, từ đó nhìn ra quá trình tiếp biến văn hóa trong tín ngƣỡng thờ Mẫu của
ngƣời Việt ở Khánh Hòa. Luận án góp phần bổ sung nguồn tƣ liệu cập nhật và chân
thực về tín ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt ở Khánh Hòa.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
6.1.Về mặt lý luận: Luận án góp phần làm sáng tỏ hơn về hƣớng tiếp cận văn
hóa học trong nghiên cứu tín ngƣỡng thờ Mẫu Việt Nam; Chỉ ra các chiều cạnh văn
cứu sinh điểm qua các tác giả với những công trình và bài viết tiêu biểu sau:
Các Nữ thần Việt Nam của Đỗ Thị Hảo, Mai Thị Ngọc Chúc (1984) [35],
Vân cát thần nữ của Vũ Ngọc Khánh, Phạm Văn Ty (1990) [49], Di tích lịch sử văn
hóa Việt Nam do Ngô Đức Thọ chủ biên (1991 [131], Tứ bất tử của Ngô Đức Thịnh
và Vũ Ngọc Khánh (2015) [129], Hát văn do Ngô Đức Thịnh chủ biên (1992)
[114], Đạo Mẫu ở Việt Nam (tập I) do Ngô Đức Thịnh chủ biên (1996) [115], Đạo
Mẫu ở Việt Nam do Ngô Đức Thịnh do chủ biên (2007) [122], Đạo Mẫu Việt Nam
của Ngô Đức Thịnh (2010) [124], Huyền tích thánh Mẫu Liễu Hạnh và di sản văn
hóa - lễ hội của Hồ Đức Thọ (2004) [130], Bản sắc văn hóa Việt Nam của Phan
Ngọc (1998) [77], Văn hóa Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm của Trần Quốc Vƣợng
(2000) [155], Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng do Ngô Đức Thịnh chủ biên
(2012) [126], Một con đường tiếp cận lịch sử của Trần Lâm Biền (2000) [9], Tín
ngưỡng thờ Mẫu ở miền Trung Việt Nam do Nguyễn Hữu Thông chủ biên (2001)
[132], Đạo Thánh ở Việt Nam của Vũ Ngọc Khánh (2001) [50], Lên đồng xuyên
quốc gia: những thay đổi trong thực hành nghi lễ đạo Mẫu ở California và vùng
Kinh Bắc của Nguyễn Thị Hiền - Karen Fjelstad (2008) [38], Lên đồng ở Việt Nam,
một sinh hoạt văn hóa tâm linh mang tính trị liệu của Nguyễn Kim Hiền (2004)
[37], Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và châu Á
do Ngô Đức Thịnh chủ biên (2004) [119], Thần nữ danh tiếng trong văn hóa Việt
Nam của Nguyễn Minh San (2009) [103], Đạo Mẫu và vấn đề trao quyền lực và
cách thức sử dụng quyền lực của người phụ nữ Việt Nam của Vũ Thị Tú Anh
8
(2013) [1], Đạo Mẫu và bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay của Đỗ Thị Lan
Phƣơng (2013) [93], Tín ngưỡng thờ Mẫu và lễ hội phủ Giày của Nguyễn Duy
Hùng (2013) [42], Văn hóa thờ Nữ thần - Mẫu ở Việt Nam và Châu Á bản sắc và
giá trị do Ngô Đức Thịnh chủ biên (2013) [127], Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu ở Việt
Nam của Phan Thị Hoa Lý (2014) [70], Những giá trị văn hóa truyền thống của dân
xƣớng dân gian tâm linh độc đáo của dân tộc. Ông và cộng sự đã khảo sát, quan sát
tham dự nhiều buổi hầu bóng đại diện cho ba miền Bắc, Trung và Nam. Đó là
những lần quan sát tham dự nghi lễ hầu bóng tại những điện thần Mẫu Tứ phủ ở Hà
Nội, Huế và Sài Gòn. Tác giả công trình này sƣu tầm đƣợc 35 bài hát văn tiêu biểu
trong tín ngƣỡng thờ Mẫu Tứ phủ của ngƣời Việt. Tác giả Ngô Đức Thịnh và cộng
sự viết: “Hát văn là một thể loại âm nhạc tín ngƣỡng. Hát văn là một thể loại âm
nhạc đƣợc quy định chặt chẽ. Sân khấu hát văn nhiều nhân vật múa khác nhau và
những tính chất khác nhau. Hát văn quy tụ nhiều yếu tố của các thể loại. Hát văn có
sự kết hợp chặt chẽ với múa. Cấu trúc hát văn gồm hai hình thức: nhắc lại, cân
phƣơng. Hát văn không ngừng phát triển về làn điệu, đàn nhạc và phƣơng thức trình
diễn” [114, tr. 76 - 78].
Đặc biệt, chuyên khảo Đạo Mẫu ở Việt Nam (1996//2007/2009) do Ngô Đức
Thịnh chủ biên đƣợc bổ sung và viết lại mang tên Đạo Mẫu Việt Nam (2010) [124].
Tác giả Ngô Đức Thịnh và cộng sự đã tiếp cận, nhận thức tín ngƣỡng thờ Mẫu Việt
Nam là một hiện tƣợng văn hóa dân gian tổng thể, mang tính nguyên hợp. Công
trình này giải thích, phân tích và chứng minh các giá trị văn hóa đƣợc tích hợp xung
quanh loại hình tín ngƣỡng thờ Mẫu. Mặt khác, học giả diễn giải tín ngƣỡng này
mang tính hệ thống từ các góc cạnh nhƣ điện thần, truyền thuyết, thần tích, thần
phả, nghi lễ và lễ hội. Theo ông, đạo Mẫu Việt Nam với ba cấp độ, lớp thờ Nữ thần,
lớp thờ Mẫu thần, lớp thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ và chuyển hóa giữa chúng. Bên
cạnh đó, chuyên khảo khái quát ba dạng thức thờ Mẫu tiêu biểu cho Bắc bộ, Trung
bộ và Nam bộ, đồng thời khảo tả tổng quan tục thờ Mẫu tiêu biểu theo chiều dài đất
nƣớc và từ miền xuôi lên miền núi.
Không những thế, chuyên khảo này đã có những đóng góp quan trọng trên
hai phƣơng diện lý luận và thực tiễn về đạo Mẫu Việt Nam. Công trình đã cung cấp
cho xã hội, giới nghiên cứu và những nhà quản lý hoạch định chính sách hiểu rõ
hơn về các giá trị văn hóa độc đáo này của dân tộc Việt Nam. Bởi vì, có thời điểm
10
11
Hữu Thông và cộng sự cho là tín ngƣỡng thờ Mẫu Tứ phủ Huế khác biệt với Bắc bộ
về quan niệm Tứ phủ gồm: “Thiên phủ, Thoải phủ, Nhạc phủ và Phủ Trung Thiên.
Trung Thiên là một khoảng không bao phủ quanh cuộc sống của con ngƣời… Nếu
miền Bắc, màu đỏ tƣợng trƣng cho Mẫu Thƣợng Thiên thì ở Huế lại là màu vàng,
còn màu đỏ lại giành cho Mẫu Trung Thiên” [132, tr.109-112].
Tuy nhiên, theo chúng tôi, có lẽ nhận định của tác giả Nguyễn Hữu Thông và
cộng sự chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu điện thần, tham dự nghi lễ hầu bóng
tín ngƣỡng thờ Mẫu Tứ phủ của ngƣời Việt ở Huế mà thôi. Đây không thể là mẫu
số chung cho tín ngƣỡng thờ Mẫu ở miền Trung nhƣ tên công trình đã xuất bản.
Mặt khác, miền Trung đƣợc nhiều nhà khoa học chia thành hai vùng gồm Bắc
Trung bộ và Nam Trung bộ. Theo đó, vùng Bắc Trung bộ là tỉnh Thanh Hóa, Nghệ
An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Thêm vào đó, trong quá
trình thực hiện luận án, nghiên cứu sinh đã khảo sát thực địa vùng này, đồng thời
quan sát tham dự nghi lễ hầu đồng đƣợc biết nhiều điện thờ Mẫu Tứ phủ Bắc đã có
từ lâu. Chẳng hạn, đền Khe Rồng và đền Phủ Sung, huyện Nhƣ Thanh và điện Phật
Địa Mẫu trong đền Độc Cƣớc, thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, đền Ông Hoàng
Mƣời, huyện Hƣng Nguyên, tỉnh Nghệ An... Hơn thế nữa, kết quả nghiên cứu của
tác giả Ngô Đức Thịnh nhận định: “Bắc Trung bộ, tục thờ Mẫu cơ bản thuộc dạng
thức Bắc bộ” [124, tr.45].
Đặc biệt, trong quá trình thực hiện đề tài, nghiên cứu sinh khảo sát thực địa
phát hiện nhiều điện thần và nhiều lần đƣợc quan sát tham dự nghi lễ hầu đồng thờ
Mẫu Tứ phủ Bắc của ngƣời Việt ở Khánh Hòa. Đây là những điện thần Mẫu Tứ phủ
Bắc trong gia đình của ngƣời Việt ở Khánh Hòa. Họ là ngƣời Việt di cƣ từ Hà Nội,
Thanh Hóa, Nam Định, Hải Dƣơng, Thái Bình, Hải Phòng, Hƣng Yên, Nghệ An,
Hà Tĩnh, Hà Tây (cũ). Họ mang theo tín ngƣỡng này vào Khánh Hòa từ năm 1954.
Ngoài ra, nghiên cứu sinh khảo cứu những điện Mẫu thờ Tứ phủ Huế còn gọi
một niềm tin tín ngƣỡng có nguồn gốc bản địa đích thực, nó bắt nguồn từ tục thờ
Nữ thần và Mẫu thần của cƣ dân nông nghiệp, cầu mong sự phồn thực, sinh sôi nảy
nở. Đạo Mẫu đã tích hợp nhiều hiện tƣợng văn hóa đặc sắc. Đạo Mẫu luôn “trẻ hóa”
và bùng phát trong điều kiện xã hội Việt Nam đƣơng đại” [127, tr. 552 - 553]. Đồng
thời, học giả nhận định giá trị của đạo Mẫu Việt Nam là: “Mẹ tự nhiên, một thế giới
13
quan cổ xƣa của ngƣời Việt. Xác lập một nhân sinh quan tín ngƣỡng của ngƣời Việt
hƣớng về đời sống trần thế, là cầu mong sức khỏe, tiền tài, phúc lộc. Đạo Mẫu là
một thứ chủ nghĩa yêu nƣớc Việt Nam đã đƣợc tâm linh hóa, tín ngƣỡng hóa. Đạo
Mẫu trở thành biểu tƣợng đa văn hóa tộc ngƣời [127, tr. 554 - 556].
Mặt khác, nhiều tác giả trong công trình này đã bàn luận về văn hóa tín
ngƣỡng thờ Nữ thần - Mẫu của các dân tộc từ góc độ văn hóa, giá trị văn hóa và di
sản văn hóa. Từ góc độ tiếp cận văn hóa, tác giả Ngô Đức Thịnh viết: “Sự khác biệt
đôi chút với các nhà tôn giáo học nghiên cứu các tín ngƣỡng nhƣ là những niềm tin
vào cái thiêng mang tính siêu nhiên. Từ góc độ văn hóa, chúng ta có thể nêu các sắc
thái văn hóa cũng nhƣ các giá trị văn hóa đạo Mẫu mà của chúng ta cần bảo tồn và
phát huy trong xã hội hiện nay” [127, tr. 15]. Tuy nhiên, nhiều ngành khoa học xã
hội và nhân văn khác nhƣ nhân học, triết học, sử học cũng có thể bàn luận về các
giá trị văn hóa của tín ngƣỡng thờ Mẫu.
Công trình Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam bộ, bản sắc và giá trị do Ngô Đức
Thịnh, Võ Văn Sen và Nguyễn Văn Lên đồng chủ biên (2014) là sự tiếp nối của các
nghiên cứu trên về Đạo Mẫu ở Việt Nam. Công trình là tập hợp của nhiều tác giả từ
những góc độ chuyên môn khác nhau nhƣ tôn giáo học, triết học, nhân học, dân tộc
học, văn hóa học, văn học... đã làm sáng tỏ các khía cạnh tín ngƣỡng thờ Mẫu ở
Nam bộ và góp phần bổ sung tƣ liệu mới cho nghiên cứu đạo Mẫu Việt Nam. Tác
giả Ngô Đức Thịnh, Võ Văn Sen và Nguyễn Văn Lên đã cấu trúc chuyên khảo gồm
các phần: Tín ngƣỡng thờ Mẫu ở Nam bộ - những vấn đề lý luận và thực tiễn; Diễn
chủ biên (2001) [156], Trong cõi của Trần Quốc Vƣợng (2014) [157], Tháp Bà
Thiên Y A Na, hành trình của một Nữ thần của Ngô Văn Doanh (2009) [24], Đặc
khảo về tín ngưỡng thờ gia Thần của Huỳnh Ngọc Trảng - Nguyễn Đại Phúc (2013)
[139], Đạo Mẫu Huế - Quá trình hình thành và phát triển của Nguyễn Thị Yến
(2013) [159], Sự hỗn dung văn hóa Việt - Chăm qua hiện tượng thờ Nữ thần Po Ina
Nagar ở miền Trung Việt Nam của Sakaya (2013) [102], Thần, người và đất Việt
của Tạ Chí Đại Trƣờng (2014) [144], Tản mạn về truyền thống hỗn dung tín
ngưỡng của người Việt của Bùi Trọng Hiền (2012) [39], Tiếp cận một số vấn đề văn
hóa Champa của Sakaya (2013) [113], Giao lưu tín ngưỡng Việt - Chăm trong lịch
sử của Trần Dũng (2014) [26], Sự dung hợp đa văn hóa, giá trị và ảnh hưởng của
tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam bộ của Bạch Thanh Sang (2014) [104], Phật giáo đối
15
với người phụ nữ truyền thống qua hình tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh trong Vân cát
thần nữ lục - Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm của Lƣu Nguyễn Thảo Nguyên
(2014) [76], Tín ngưỡng Tứ phủ: Lên đồng và trị liệu của Nguyễn Thị Hiền (2016)
[161]... Dƣới đây chúng tôi điểm qua những công trình, bài viết một số tác giả sau:
Tác giả Đinh Gia Khánh trong Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh
văn hoá Đông Nam Á (1993) viết: “Đạo giáo khi du nhập vào nƣớc ta vẫn thờ
những vị thần tiên vốn có trong Đạo giáo ở Trung Quốc. Đạo giáo phù thủy bị thu
hút vào các hệ thống tín ngƣỡng dân gian nhƣ đạo Tam phủ và đạo Tứ phủ, tín
ngƣỡng về nữ thần, trong dân gian gọi mẫu (mẹ)...” [46, tr. 285 - 286]. Bên cạnh đó,
tác giả còn nhận định: “Trên con đƣờng di cƣ vào Nam, ngƣời Việt đã đem theo tục
thờ Nữ thần, tục thờ Mẫu. Đạo Tam phủ, đạo Tứ phủ không những phổ biến ở miền
Trung mà cả ở miền Nam, chẳng cứ ở Huế mà cả ở Sài Gòn. Trong khi vẫn thờ các
vị Nữ thần cố hữu của mình, tức là các “Mẫu”, ngƣời Việt tiếp nhận thêm vào điện
thờ các Nữ thần của ngƣời Chăm, ngƣời Khơme…” [46, tr. 335 - 336].
Trong các công trình Đạo Mẫu và các hình thức shaman trong các tộc người
Diêu Trì Thánh Mẫu vốn là một vị thần của Đạo giáo, từ lâu đã thâm nhập vào Phật
giáo (Phật Mẫu) và cả đạo Cao Đài. Gần đây, vị Thánh Mẫu Diêu Trì này đã xuất
hiện trong tín ngƣỡng thờ Mẫu và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ” [120, tr. 27, 28].
Công trình Tháp Bà Thiên Y A Na hành trình của một Nữ thần của tác giả
Ngô Văn Doanh (2009), đã nghiên cứu sâu về quá trình hình thành khu đền tháp và
diễn trình về Nữ thần Thiên Y A Na. Công trình này đƣợc phân chia thành các
phần: Thăng trầm của một ngôi đền; Dấu ấn thời gian qua những ngôi tháp cổ;
Hành trình của một nữ thần; Thiên Y A Na; Những dòng bia ký. Với hơn 30 năm
nghiên cứu về tháp Bà, tác giả đã tìm hiểu sâu những tƣ liệu để minh chứng sự hình
thành và phát triển của di tích tháp Bà. Từ góc độ tiếp cận của mình, tác giả diễn
giải quá trình tiếp biến văn hóa Chăm - Ấn Độ thông qua di tích, tín ngƣỡng và tôn
giáo. Công trình này chứng minh về nguồn gốc Nữ thần Pô Inƣ Nƣgar của ngƣời
Chăm trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Chuyên khảo đã bƣớc đầu luận bàn về
tiếp biến văn hóa Việt - Chăm qua truyền thuyết, lễ hội và các diễn xƣớng dân gian.
Tuy nhiên, tác giả của công trình chƣa quan tâm nhiều đến tiếng nói của những chủ
thể đang thực hành văn hóa ở đây. Nhƣng, đây là một nguồn tƣ liệu thứ cấp quan
17
trọng cho chúng tôi kế thừa trong quá trình diễn giải sâu về sự hỗn dung văn hóa
qua tín ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt ở Khánh Hòa.
Tác giả Trần Lâm và Nguyễn Đạt Thức trong bài Vai trò của Mẫu Liễu, thần
linh liên quan, ban thờ và nghi thức thờ cúng (2013) viết:” Khi rời khỏi vùng đất
quê hƣơng, theo chân ngƣời Việt đi khai phá, thâm nhập vào miền trong mà nhƣ tại
điện Hòn Chén ở Huế, thì nơi đây, một thần mẹ Thiên Y A Na, gốc ngƣời Chăm,
đƣợc tạc tƣợng nữ nhân, đậm chất Việt, đƣợc để trong cùng nhƣ thay cho Tam tòa
Thánh Mẫu. Hàng thứ hai là bài vị của Thánh Mẫu Liễu Hạnh cùng hai thị giả là
Quỳnh Hoa và Quế Hoa” [58, tr.76].
Tác giả Huỳnh Ngọc Trảng và Nguyễn Đại Phúc trong công trình Đặc khảo