3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Những biểu hiện đa dạng trong tín ngƣỡng thờ
Mẫu của ngƣời Việt ở Khánh Hòa, từ điện thần đến truyền thuyết, nghi lễ, lễ hội,
tên gọi, từ ngƣời thực hành nghi lễ đến bối cảnh chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội.
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu tín ngƣỡng thờ Mẫu
của ngƣời Việt trong không gian văn hóa Khánh Hòa. Tuy nhiên để phục vụ cho
những diễn giải của mình, chúng tôi cũng quan tâm tới thực hành tín ngƣỡng thờ
Mẫu của ngƣời Việt ở một số khu vực khác nhƣ Bắc bộ và Bắc Trung bộ.
3.3.Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu tín ngƣỡng thờ Mẫu của
ngƣời Việt ở Khánh Hòa từ năm 1990 đến nay. Bởi vì sau khi Nhà nƣớc thực hiện
chính sách Đổi mới năm 1986, xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến mạnh mẽ trên
hai phƣơng diện kinh tế và văn hóa. Trong đó, sự phục hồi, trùng tu, tôn tạo di tích
và phục dựng tín ngƣỡng, lễ hội truyền thống của dân tộc đƣợc phát triển khắp mọi
miền của đất nƣớc. Bên cạnh đó, chính sách tự do tín ngƣỡng, tôn giáo và chính
sách hòa hợp dân tộc cũng đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm. Đây là những tiền đề
cho tín ngƣỡng thờ Mẫu Việt Nam nói chung và tín ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt
ở Khánh Hòa đƣợc phục hƣng, phát triển và biến đổi.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
Đề tài luận án đƣợc tiếp cận từ góc độ liên ngành, ứng dụng kết quả và
phƣơng pháp nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn khác nhƣ
dân tộc học, nhân học, tôn giáo học, sử học, văn hóa dân gian… Chẳng hạn, tiếp
cận lịch sử nghiên cứu sự hình thành, phát triển, hỗn dung và biến đổi trong tín
hàng tháng, Tết Nguyên đán, dịp lễ hội Thiên Y Thánh Mẫu tại tháp Bà, am Chúa,
Thiên Y điện, Định Phƣớc điện, chùa Suối Đổ, miếu Thiên Y, miếu Ngũ hành thần
nữ... Đặc biệt là nghiên cứu sinh nhiều lần đƣợc quan sát tham dự thực hành nghi lễ
hầu bóng Tứ phủ Bắc và Tứ phủ Huế còn gọi là Tiên Thiên Thánh giáo của ngƣời
Việt ở Khánh Hòa nhƣ lễ khai Xuân, tiệc Mẫu Liễu Hạnh, tiệc Quan Đệ Ngũ, tiệc
Quan Đệ Tam Thoải phủ, tiệc ông Hoàng Bơ, tiệc cô Bơ Thoải, tiệc Đức Thánh
Trần, tiệc Mẫu Cửu Trùng, tiệc Mẫu Sòng Sơn, tiệc Chầu Lục, tiệc Chầu Bé Bắc
Lệ, tiệc ông Hoàng Mƣời và lễ hội am Chúa, lễ hội tháp Bà, lễ hội chùa Suối Đổ…
(1)
Xem phụ lục 3: Danh mục khảo sát điện thần, tr.156
4
Không những thế, tác giả luận án còn đƣợc quan sát nghi lễ hầu bóng tại đền
Khe Rồng (Nhƣ Thanh, Thanh Hóa), đền ông Hoàng Mƣời (Hƣng Nguyên, Nghệ
An), đền Sinh (Chí Linh, Hải Dƣơng), phủ Dầy (Vụ Bản, Nam Định) và nghi thức
đội bát nhang tại đình đền Đông Thiên (Hoàng Mai, Hà Nội).
Quan sát tham dự là phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong điền dã để thực hiện
đề tài của luận án. Trong thời gian thực hiện đề tài, nghiên cứu sinh đã quan sát
tham dự 42 nghi lễ hầu bóng trong tín ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt ở Khánh
Hòa. Theo đó, ngƣời nghiên cứu thâm nhập vào nhóm, cộng đồng là đối tƣợng
nghiên cứu và nhƣ là một thành viên của nhóm hay cộng đồng. Bằng quan sát tham
dự, tác giả luận án có đƣợc cái nhìn của ngƣời trong cuộc về những chủ thể đang
thực hành văn hóa tín ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt ở Khánh Hòa.
Quan sát tham dự kết hợp với chụp hình, phỏng vấn giúp tác giả hiểu đƣợc ý
nghĩa của những thực hành văn hóa trong tín ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt ở
Khánh Hòa. Đồng thời tác giả thiết lập đƣợc mối quan hệ thân thiết với các ông
giúp chúng tôi tham khảo, chọn lọc, kế thừa và vận dụng trong chứng minh những
luận điểm khoa học mới của luận án.
Tác giả luận án đã thu thập, tổng hợp và hệ thống tài liệu, báo cáo các thông
tin liên quan đến tín ngƣỡng thờ Mẫu Việt Nam nói chung và tín ngƣỡng thờ Mẫu ở
Khánh Hòa nói riêng. Đó là những công trình, tạp chí, giáo trình… liên quan đến
phạm vi nghiên cứu của luận án. Việc nghiên cứu, phân tích tài liệu thứ cấp giúp tác
giả luận án có cái nhìn tổng quan, khái quát về vấn đề đang nghiên cứu.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án khái quát đƣợc diện mạo tín ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt ở
Khánh Hòa, từ đó nhìn ra quá trình tiếp biến văn hóa trong tín ngƣỡng thờ Mẫu của
ngƣời Việt ở Khánh Hòa. Luận án góp phần bổ sung nguồn tƣ liệu cập nhật và chân
thực về tín ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt ở Khánh Hòa.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
6.1.Về mặt lý luận: Luận án góp phần làm sáng tỏ hơn về hƣớng tiếp cận văn
hóa học trong nghiên cứu tín ngƣỡng thờ Mẫu Việt Nam; Chỉ ra các chiều cạnh văn
hóa của thực hành tín ngƣỡng thờ Mẫu ở Khánh Hòa; Khẳng định giao lƣu, tiếp
biến văn hóa nhƣ một đặc trƣng quan trọng trong tín ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời
6
Việt ở Khánh Hòa; Qua đó, bàn luận về mối quan hệ tộc ngƣời, tính đa dạng của
thực hành tín ngƣỡng thờ Mẫu trong xã hội Việt Nam đƣơng đại.
6.2.Về mặt thực tiễn: Luận án đóng góp thêm nguồn tƣ liệu tham khảo cho
công tác nghiên cứu, giảng dạy về tín ngƣỡng và văn hóa ở nƣớc ta. Mặt khác, luận
án cung cấp thêm cơ sở khoa học cho những nhà quản lý trong hoạch định chiến
lƣợc phát triển kinh tế và xã hội trên cơ sở nguồn lực quan trọng của văn hóa.
7. Cấu trúc của luận án
Ngoài mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục
bài báo và phụ lục, luận án đƣợc cấu trúc 4 chƣơng:
Kinh Bắc của Nguyễn Thị Hiền - Karen Fjelstad (2008) [38], Lên đồng ở Việt Nam,
một sinh hoạt văn hóa tâm linh mang tính trị liệu của Nguyễn Kim Hiền (2004)
[37], Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và châu Á
do Ngô Đức Thịnh chủ biên (2004) [119], Thần nữ danh tiếng trong văn hóa Việt
Nam của Nguyễn Minh San (2009) [103], Đạo Mẫu và vấn đề trao quyền lực và
cách thức sử dụng quyền lực của người phụ nữ Việt Nam của Vũ Thị Tú Anh
8
(2013) [1], Đạo Mẫu và bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay của Đỗ Thị Lan
Phƣơng (2013) [93], Tín ngưỡng thờ Mẫu và lễ hội phủ Giày của Nguyễn Duy
Hùng (2013) [42], Văn hóa thờ Nữ thần - Mẫu ở Việt Nam và Châu Á bản sắc và
giá trị do Ngô Đức Thịnh chủ biên (2013) [127], Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu ở Việt
Nam của Phan Thị Hoa Lý (2014) [70], Những giá trị văn hóa truyền thống của dân
tộc trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam của Nguyễn Văn Ba - Hà Thị Thùy
Dƣơng (2015) [3], Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam bộ, bản sắc và giá trị do Ngô Đức
Thịnh, Võ Văn Sen, Nguyễn Văn Lên đồng chủ biên (2014) [128]… Đây là những
công trình và những bài viết tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau về tín ngƣỡng thờ
Mẫu ở Việt Nam nhƣ truyền thuyết, điện thần, nghi lễ, lễ hội, diễn xƣớng dân gian...
Bên cạnh đó, nhiều công trình và bài viết nghiên cứu sâu vào một khía cạnh
của tín ngƣỡng thờ Mẫu Việt Nam nhƣ âm nhạc, trang phục, ẩm thực, đồ mã…
Chẳng hạn, Đồ mã trong điện thờ Mẫu ở Hà Nội của Giang Nguyệt Ánh - Trƣơng
Minh Hằng (2012) [2], Đạo Mẫu nhìn từ bản sắc văn hóa Việt Nam của Đặng Văn
Bài - Nguyễn Thị Thu Trang (2012) [4], Lên đồng và hành trình nhận dạng di sản
của Lê Thị Minh Lý (2013) [69], Nghi lễ lên đồng lịch sử và giá trị của Nguyễn
Ngọc Mai (2013) [71], Các hình thức diễn xướng chầu văn ở Nam Định của Trần
Hải Minh (2014) [73], Bốn nhóm làn điệu trong hát văn hầu của Hồ Thị Hồng
Dung (2015) [25], Lên đồng hành trình của thần linh và thân phận của Ngô Đức
Thịnh (2010) [123]… Ngƣời viết lƣợc qua một số công trình và bài viết của các tác
trình này giải thích, phân tích và chứng minh các giá trị văn hóa đƣợc tích hợp xung
quanh loại hình tín ngƣỡng thờ Mẫu. Mặt khác, học giả diễn giải tín ngƣỡng này
mang tính hệ thống từ các góc cạnh nhƣ điện thần, truyền thuyết, thần tích, thần
phả, nghi lễ và lễ hội. Theo ông, đạo Mẫu Việt Nam với ba cấp độ, lớp thờ Nữ thần,
lớp thờ Mẫu thần, lớp thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ và chuyển hóa giữa chúng. Bên
cạnh đó, chuyên khảo khái quát ba dạng thức thờ Mẫu tiêu biểu cho Bắc bộ, Trung
bộ và Nam bộ, đồng thời khảo tả tổng quan tục thờ Mẫu tiêu biểu theo chiều dài đất
nƣớc và từ miền xuôi lên miền núi.
Không những thế, chuyên khảo này đã có những đóng góp quan trọng trên
hai phƣơng diện lý luận và thực tiễn về đạo Mẫu Việt Nam. Công trình đã cung cấp
cho xã hội, giới nghiên cứu và những nhà quản lý hoạch định chính sách hiểu rõ
hơn về các giá trị văn hóa độc đáo này của dân tộc Việt Nam. Bởi vì, có thời điểm
10
xã hội Việt Nam nhìn nhận tín ngƣỡng thờ Mẫu nhƣ là một hiện tƣợng mê tín dị
đoan và cần loại bỏ. Tuy nhiên, có thể do điều kiện thời gian và vật chất, cho nên
tác giả Ngô Đức Thịnh chƣa khảo sát kỹ tín ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt ở
Khánh Hòa và bỏ lại khoảng trống. Do đó, tác giả Ngô Đức Thịnh viết: “Đặc trƣng
cơ bản của dạng thức này là tín ngƣỡng thờ Mẫu không có Mẫu Tam phủ, Tứ phủ,
mà chỉ có lớp thờ Nữ thần và Mẫu thần. Tục thờ Mẫu ở Trung bộ tuy thiếu bóng
Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, nhƣng lại hết sức phức tạp... chúng ta có thể phân thờ Mẫu
ở đây thành hai lớp chính, đó là lớp thờ Nữ thần và lớp thờ Mẫu thần” [124, tr. 45].
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Bốn cho biết: “Tín ngƣỡng thờ Mẫu đã
hội tụ cả ba lớp: thờ Nữ thần, Mẫu thần, Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, tƣơng đồng với tín
ngƣỡng thờ Mẫu ở Bắc bộ và Nam bộ. Thờ Mẫu ở Khánh Hòa không theo một diễn
trình lịch sử nhƣ Bắc bộ, mà linh hoạt, đa dạng do môi trƣờng tự nhiên, hoàn cảnh
lịch sử xã hội, sự giao lƣu ảnh hƣởng của văn hóa Việt - Chăm” [15, tr. 23].
Tác giả Nguyễn Minh San trong Thần nữ danh tiếng trong văn hóa Việt Nam
An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Thêm vào đó, trong quá
trình thực hiện luận án, nghiên cứu sinh đã khảo sát thực địa vùng này, đồng thời
quan sát tham dự nghi lễ hầu đồng đƣợc biết nhiều điện thờ Mẫu Tứ phủ Bắc đã có
từ lâu. Chẳng hạn, đền Khe Rồng và đền Phủ Sung, huyện Nhƣ Thanh và điện Phật
Địa Mẫu trong đền Độc Cƣớc, thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, đền Ông Hoàng
Mƣời, huyện Hƣng Nguyên, tỉnh Nghệ An... Hơn thế nữa, kết quả nghiên cứu của
tác giả Ngô Đức Thịnh nhận định: “Bắc Trung bộ, tục thờ Mẫu cơ bản thuộc dạng
thức Bắc bộ” [124, tr.45].
Đặc biệt, trong quá trình thực hiện đề tài, nghiên cứu sinh khảo sát thực địa
phát hiện nhiều điện thần và nhiều lần đƣợc quan sát tham dự nghi lễ hầu đồng thờ
Mẫu Tứ phủ Bắc của ngƣời Việt ở Khánh Hòa. Đây là những điện thần Mẫu Tứ phủ
Bắc trong gia đình của ngƣời Việt ở Khánh Hòa. Họ là ngƣời Việt di cƣ từ Hà Nội,
Thanh Hóa, Nam Định, Hải Dƣơng, Thái Bình, Hải Phòng, Hƣng Yên, Nghệ An,
Hà Tĩnh, Hà Tây (cũ). Họ mang theo tín ngƣỡng này vào Khánh Hòa từ năm 1954.
Ngoài ra, nghiên cứu sinh khảo cứu những điện Mẫu thờ Tứ phủ Huế còn gọi
là Tiên Thiên Thánh giáo và cũng nhiều lần đƣợc quan sát tham dự nghi thức hầu
bóng của dạng thức này của ngƣời Việt ở Khánh Hòa. Qua phỏng vấn những chủ
thể đang thực hành tín ngƣỡng này đƣợc biết, họ là ngƣời Việt di cƣ từ tỉnh Quảng
12
Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Nam, Phú Yên vào Khánh Hòa
lập nghiệp. Do đó, họ mang tín ngƣỡng này vào Khánh Hòa từ những năm 30 của
thế kỷ XX. Theo quan niệm của họ, thì Tứ phủ gồm Thƣợng Thiên, Trung Thiên,
Thƣợng Ngàn và Thoải phủ. Nhƣ vậy, từ lâu ở Khánh Hòa đã song song tín ngƣỡng
thờ Mẫu Tứ phủ Huế và tín ngƣỡng thờ Mẫu Tứ phủ Bắc.
Công trình Đạo Mẫu và các hình thức shaman trong các tộc người ở Việt
Nam và châu Á do Ngô Đức Thịnh chủ biên (2004) [119], đã làm rõ hơn nguồn gốc
và bản chất của đạo Mẫu, so sánh những hình thức thờ Mẫu của ngƣời Việt với các
sản văn hóa. Từ góc độ tiếp cận văn hóa, tác giả Ngô Đức Thịnh viết: “Sự khác biệt
đôi chút với các nhà tôn giáo học nghiên cứu các tín ngƣỡng nhƣ là những niềm tin
vào cái thiêng mang tính siêu nhiên. Từ góc độ văn hóa, chúng ta có thể nêu các sắc
thái văn hóa cũng nhƣ các giá trị văn hóa đạo Mẫu mà của chúng ta cần bảo tồn và
phát huy trong xã hội hiện nay” [127, tr. 15]. Tuy nhiên, nhiều ngành khoa học xã
hội và nhân văn khác nhƣ nhân học, triết học, sử học cũng có thể bàn luận về các
giá trị văn hóa của tín ngƣỡng thờ Mẫu.
Công trình Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam bộ, bản sắc và giá trị do Ngô Đức
Thịnh, Võ Văn Sen và Nguyễn Văn Lên đồng chủ biên (2014) là sự tiếp nối của các
nghiên cứu trên về Đạo Mẫu ở Việt Nam. Công trình là tập hợp của nhiều tác giả từ
những góc độ chuyên môn khác nhau nhƣ tôn giáo học, triết học, nhân học, dân tộc
học, văn hóa học, văn học... đã làm sáng tỏ các khía cạnh tín ngƣỡng thờ Mẫu ở
Nam bộ và góp phần bổ sung tƣ liệu mới cho nghiên cứu đạo Mẫu Việt Nam. Tác
giả Ngô Đức Thịnh, Võ Văn Sen và Nguyễn Văn Lên đã cấu trúc chuyên khảo gồm
các phần: Tín ngƣỡng thờ Mẫu ở Nam bộ - những vấn đề lý luận và thực tiễn; Diễn
xƣớng và Nghi thức trong tín ngƣỡng thờ Mẫu ở Nam bộ; Tín ngƣỡng Bà Chúa Xứ
ở Nam bộ; Tín ngƣỡng thờ Bà Thiên Hậu ở Nam bộ; Tín ngƣỡng thờ Nữ thần khác.
Những chủ đề trên bàn luận tính tƣơng đồng, khác biệt giữa tín ngƣỡng thờ Mẫu ở
Nam bộ so với Bắc bộ và Trung bộ. Tín ngƣỡng thờ Mẫu ở Nam bộ là sự tiếp biến
văn hóa Việt - Chăm, Việt - Khơme và Việt - Hoa.
Tóm lại, những công trình chuyên khảo và bài viết tiêu biểu của các tác giả
trên đều khẳng định rằng, tín ngƣỡng thờ Mẫu ở Việt Nam có nguồn gốc bản địa,
lâu đời, hình thành, phát triển qua nhiều thời kỳ khác nhau, biến đổi, phổ biến khắp
14
từ đồng bằng đến đô thị và miền núi. Mặt khác, những công trình này vừa khái quát,
vừa nghiên cứu trƣờng hợp về tín ngƣỡng thờ Mẫu Việt Nam qua nhiều vùng miền
nhƣ Bắc bộ, Trung bộ, Tây Nguyên và Nam bộ. Đồng thời, các học giả đã nhận
với người phụ nữ truyền thống qua hình tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh trong Vân cát
thần nữ lục - Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm của Lƣu Nguyễn Thảo Nguyên
(2014) [76], Tín ngưỡng Tứ phủ: Lên đồng và trị liệu của Nguyễn Thị Hiền (2016)
[161]... Dƣới đây chúng tôi điểm qua những công trình, bài viết một số tác giả sau:
Tác giả Đinh Gia Khánh trong Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh
văn hoá Đông Nam Á (1993) viết: “Đạo giáo khi du nhập vào nƣớc ta vẫn thờ
những vị thần tiên vốn có trong Đạo giáo ở Trung Quốc. Đạo giáo phù thủy bị thu
hút vào các hệ thống tín ngƣỡng dân gian nhƣ đạo Tam phủ và đạo Tứ phủ, tín
ngƣỡng về nữ thần, trong dân gian gọi mẫu (mẹ)...” [46, tr. 285 - 286]. Bên cạnh đó,
tác giả còn nhận định: “Trên con đƣờng di cƣ vào Nam, ngƣời Việt đã đem theo tục
thờ Nữ thần, tục thờ Mẫu. Đạo Tam phủ, đạo Tứ phủ không những phổ biến ở miền
Trung mà cả ở miền Nam, chẳng cứ ở Huế mà cả ở Sài Gòn. Trong khi vẫn thờ các
vị Nữ thần cố hữu của mình, tức là các “Mẫu”, ngƣời Việt tiếp nhận thêm vào điện
thờ các Nữ thần của ngƣời Chăm, ngƣời Khơme…” [46, tr. 335 - 336].
Trong các công trình Đạo Mẫu và các hình thức shaman trong các tộc người
ở Việt Nam và châu Á do Ngô Đức Thịnh chủ biên (2004), Văn hóa thờ Nữ thần Mẫu ở Việt Nam và Châu Á bản sắc và giá trị (2013) đã đúc rút tín ngƣỡng này có
nguồn gốc bản địa đích thực, mặc dù trong quá trình phát triển, nó đã thu nhận
không ít những ảnh hƣởng của Đạo giáo, Phật giáo và Nho giáo. Đạo Mẫu có khả
năng tích hợp tôn giáo tín ngƣỡng cao, làm cho hệ thống điện thần mang tính đa tộc
ngƣời, đa văn hóa của các tộc ngƣời cùng sinh sống trên đất nƣớc Việt Nam.
Tác giả Trần Quốc Vƣợng trong Theo dòng lịch sử (1996) viết: “Thời gian
đắp đổi, đặc biệt sự xuất hiện một số ông đồng bà cốt từ xứ Nam - Bắc Bộ vô Huế,
thì phần điện Hòn Chén đã đƣợc “cấy”, “tích hợp” đức Vân Hƣơng Thánh Mẫu
cùng Tam tòa - Tứ phủ của Đạo thờ Mẫu dân gian Việt - Hoa, trở thành một trong
những trung tâm nổi tiếng của Tiên Thiên Thánh giáo miền Trung” [153, tr. 546].
Trong giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam do Trần Quốc Vƣợng chủ biên
viết: “Tiêu biểu cho quá trình tiếp biến văn hóa ở Trung bộ của ngƣời Việt là tiếp
thu tín ngƣỡng thờ bà mẹ xứ sở (Po Yan Ina Nagar) của ngƣời Chăm. Với tín
16
thể đang thực hành văn hóa ở đây. Nhƣng, đây là một nguồn tƣ liệu thứ cấp quan
17
trọng cho chúng tôi kế thừa trong quá trình diễn giải sâu về sự hỗn dung văn hóa
qua tín ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt ở Khánh Hòa.
Tác giả Trần Lâm và Nguyễn Đạt Thức trong bài Vai trò của Mẫu Liễu, thần
linh liên quan, ban thờ và nghi thức thờ cúng (2013) viết:” Khi rời khỏi vùng đất
quê hƣơng, theo chân ngƣời Việt đi khai phá, thâm nhập vào miền trong mà nhƣ tại
điện Hòn Chén ở Huế, thì nơi đây, một thần mẹ Thiên Y A Na, gốc ngƣời Chăm,
đƣợc tạc tƣợng nữ nhân, đậm chất Việt, đƣợc để trong cùng nhƣ thay cho Tam tòa
Thánh Mẫu. Hàng thứ hai là bài vị của Thánh Mẫu Liễu Hạnh cùng hai thị giả là
Quỳnh Hoa và Quế Hoa” [58, tr.76].
Tác giả Huỳnh Ngọc Trảng và Nguyễn Đại Phúc trong công trình Đặc khảo
về tín ngưỡng thờ gia thần (2013), đã tổng quan về thờ tự, văn hóa tâm linh trong
ngôi nhà ngƣời Việt là sự hỗn dung với tín ngƣỡng tôn giáo của Trung Hoa, Ấn Độ
và Chămpa. Theo đồng tác giả thì tục thờ thần độ mạng của ngƣời Việt tiếp nhận
các thần linh của ngƣời Chăm và ngƣời Hoa nhƣ Bà Chúa Ngọc, Quan Thánh, Cửu
Thiên Huyền Nữ, Diêu Trì Kim Mẫu. Đồng tác giả Huỳnh Ngọc Trảng và Nguyễn
Đại Phúc viết: “Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Tiên là hai tên gọi chỉ thần Mẹ Xứ sở Pô
Inƣ Nagar của ngƣời Chăm. Vị Nữ thần Chăm Pô Inƣ Nagar hội nhập vào hệ thống
thần linh Việt Nam chính thức từ năm 1069 đời nhà Lý” [139, tr.67].
Tác giả Đinh Thị Trang trong bài Nữ thần Thiên Y A Na và sự tiếp giao văn
hóa tại các miếu thờ trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn (2013) viết: “Theo thời gian,
sự biến đổi từ Mẹ xứ sở Pô I nƣ Nƣ gar của ngƣời Chăm thành bà Diễn Ngọc Phi
Chúa Ngọc (hay Bà Chúa Ngọc) của ngƣời Việt để dễ dàng trong việc tiếp nhận và
thờ cúng cũng nhƣ cầu mong, nguyện ƣớc” [138, tr.61].
Tác giả Sakaya trong Tiếp cận một số vấn đề văn hóa Champa (2013) viết:
“Quá trình tiếp thu, khai phá vùng đất phƣơng Nam, sống cộng cƣ bên ngƣời Chăm,