BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP I
------------------
NGUYỄN TIẾN THẮNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
SINH SẢN ỐC NHẢY (Strombus canarium Linneaus,
1758)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Nuôi Trồng Thuỷ Sản
Mã số
: 60.62.70
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Xuân Thu
HÀ NỘI - 2008
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là một công trình nghiên cứu do chính tôi đã
tham gia thực hiện nghiêm túc trong chương trình thực tập tốt nghiệp thạc sỹ.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và
chưa từng được sử dụng vào bất cứ mục đích nào.
Tác giả
iii
CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
Ký hiệu
2
χ
ANOVA
Ctv
LSD
L
LT
T0
SL: chiều dài vỏ
LT: độ dày vỏ
Tb: trung bình
SE: sai số chuẩn
S‰: độ mặn (‰).
T0(C0): Nhiệt độ
FAO: Tổ chức lương thực thế giới
iv
χ2: chi bình phương
TB: Trung bình
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.11:. Hình thái ngoài ốc nhảy S. canarium..................................................................8
Hình 1.22:. Sơ đồ phân bố ốc nhảy Strombus canarium trên thế giới...................................9
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.42:. Tỉ lệ thành thục sinh dục của ốc nhảy theo nhóm kích thước chiều dài vỏ......48
MỤC LỤC
HÀ NỘI - 2008...................................................................................................................i
vi
(Nguyễn Chính, 1996; Dương Văn Hiệp, 2005). Chính vì những điều này nên
việc đưa ốc nhảy trở thành một đối tượng nuôi trồng thuỷ sản là cần thiết.
Mặc dù vậy, cho đến nay các công trình nghiên cứu trên loài ốc này vẫn
còn rất hạn chế. Các nghiên cứu hoặc là đã giải quyết một khâu nhỏ trong vấn
đề sinh sản ốc hoặc là nghiên cứu được thực hiện khá toàn diện xong mức độ
nghiên cứu chưa sâu và chưa có một công nghệ sản xuất giống cũng như công
nghệ nuôi thương phẩm hoàn thiện. Do chưa sản xuất đại trà được giống nên
rất khó khăn trong việc phát triển nghề nuôi ốc nhảy.
Để góp phần tìm kiếm giải pháp cho việc bảo vệ và phát triển
nguồn lợi ốc nhảy, những vấn đề tồn tại trên thì việc nghiên cứu đặc điểm
sinh học sinh sản ốc nhảy là cần thiết, chính vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài
“Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản ốc nhảy Strombus canarium
Linneaus, 1758”. Kết quả nghiên cứu sẽ làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp
theo.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của ốc nhảy Strombus
canarium nhằm tăng thêm sự hiểu biết về ốc nhảy và làm cơ sở khoa học cho
nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm ốc nhảy.
3. Nội dung nghiên cúứu
1. Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của ốc nhảy
1.3.1. Phân biệt ốc đực và ốc cáiĐặc điểm hình thái cấu tạo cơ quan sinh
dục của ốc đực và ốc cái.
1.2. Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục
1.3. Mùa vụ sinh sản, sức sinh sản, kích thước thành thục lần đầu và tỉ lệ
đực cái.
2
Chương ITỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Hệ thống phân loại và cấu tạo
Theo Abbott (1960), hệ thống phân loại của ốc nhảy như sau:
Ngành động vật thân mềm: Mollusca
Lớp chân bụng: Gastropoda
Lớp phụ mang trước: Prosobranchia
Bộ trung phúc túc: Mesogastropoda
Họ ốc nhảy: Strombidae
Giống ốc nhảy: Strombus
Loài ốc nhảy: S. canarium Linneus, 1758.
Theo FAO, Ốc nhảy Strombus canarium có tên tiếng aAnh là Dog
conch (Abbott, 1960), tên tiếng Việt là Ốc nhảy da vàng [3] (Nguyễn Chính,
1996).
Theo Hylleberg (2000), Hylleberg (2000) cho biết Ốốc nhảy Strombus
canarium có các synonyms sau [35]:
Strombus isabella Lamarck, 1822;
Laevistrombus canarium Linneaus, 1758 và
Strombus canarium var isabella Tryon, 1885
5
. Ở Việt Nam, tên Strombus isabella Lamarch, 1822 thường được các
tác giả Nguyễn Chính (1996), Nguyễn Xuân Dục và ctv (1997), Bùi Quang
Nghị (1999) sử dụng để mô tả loài ốc này.
Theo Oliver (1975), giống Strombus có số lượng loài khá lớn với
khoảng 54 loài đã được mô tả [28](Betutu, 2005). Hylleberg (2000) đã thống
kê trong giống Strombus xuất hiện ở Việt Nam có đến 28 loài bao gồm các
loài sau:
1786
7. S. dilatatus dilatatus Swainson, 1821
21. S. thesiter Swainson, 1823
8. S. dilatatas Reeve, 1850
22.
S.
tartarella
Roding, 1789
9. S. spidromus Linneaus, 1758
23. S. variabilis Swainson,
1820
10. S. erythrinus Dillwyn, 1858
24. S. vittatus Linneaus,
1758
11. S. gibberulus Linneaus, 1758
25. S. vittatus japonnicus
Reeve, 1841
12. S. labiatus Roding, 1798
Hình 1.11:. Hình thái ngoài ốc nhảy S. canarium
Ốc có vỏ chắc chắn, tỉ lệ chiều rộng trên chiều cao bằng 3/5. Bộ phận
soắn ốc thấp, có dạng hình tháp, số tầng soắn ốc là 9. Tầng trên cùng trơn tru,
tiếp đến 3-4 tầng là các vòng sinh trưởng và sxoắn ốc cắt nhau dạng mặt vải
thô. Mặt ngoài của vỏ trơn láng, có màu vàng do lớp da mỏng hình thành, mặt
trong của vỏ màu trắng sữa. Miệng vỏ hẹp, dài, màu trắng. Mép ngoài và mép
trong miệng vỏ dày, có xu hướng bẻ ngược ra ngoài. Nắp vỏ hình lá liễu, mép
có răng cưa. Ở cá thể lớn, vỏ có chiều cao 57-58mm, rộng 37 -38mm
(Nguyễn Chính, 1996)..
8
1.2. Sinh thái và phân bố
Hầu hết các loài thuộc họ ốc nhảy Strombidae phân bố ở các vùng nhiệt
đới và cận nhiệt đới, sống ở vùng nước nông ven bờ nơi có đáy bùn, cát, đá
hoặc trên thảm cỏ biển [24].
Vùng phân bố
ốc nhảy
Hình 1.22:. Sơ đồ phân bố ốc nhảy Strombus canarium trên thế giới
Theo Abbott (1960), ốc nhảy S.canarium phân bố ở vùng biển ấm Tây
Thái Bình Dương như Trung Quốc, Nhật Bản, một số vùng Đông Nam Á như
Thái Lan, Indonesia, Phillipine, Malaysia, Việt Nam và vùng Biển Australia
[3],[23],[40](Nguyễn Chính, 1996; Tế Trọng Nghiêm, 1996; Nateewathana,
1994).
Ở Việt Nam, ốc nhảy phân bố từ Bắc đến Nam (Nguyễn Chính, 1996).
bãi ương nuôi giống ốc nhảy.
Theo Tế Trọng Nghiêm (1996) và Nguyễn Chính (1996), ốc nhảy S.
canarium và ốc nhảy đỏ lợi S. luhuanus phân bố ở vùng triều đến độ sâu 30m
[3],[11](Nguyễn Chính, 1996; Hoàng Thị Châu Long, 2005). Loài ốc S. gigas
phân bố ở vùng biển Caribean ở độ sâu có thể đạt tới 75m nhưng thường phân
bố ở độ sâu dưới 30 m [38]( Stoner, A. & V.J. Sandt, 1992).
10
Tính chất vật lý và hoá học, loại nền đáy và nơi sống có thể ảnh hưởng
lớn đến sự đa dạng của quần thể ốc phân bố (Marwoto et al, 1993). Đồng thời
nguồn thức ăn đáy cũng có liên quan đến mật độ ốc hay sự phân bố tự nhiên
của ốc [33](Erlambang & Siregal, 1995).
Độ mặn cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phân bố của các
loài nhuyễn thể [7](Hà Quang Hiến, 1964). Ốc nhảy thích nghi ở độ mặn khá
cao và ổn định 26-32 ‰, tương ứng với vùng phân bố là vùng triều đến dưới
triều. Độ mặn thích hợp nhất cho ấp trứng ốc nhảy là khoảng 30‰, ở độ mặn
này tỉ lệ nở có thể đạt 96,6% [28](Betutu et al, 1998).
1.3. Tập tính sống
Trong vòng đời phát triển của hầu hết các loài ốc biển thuộc bộ trung
phúc túc Mesogastropoda được đặc trưng bởi 2 dạng sống cơ bản đó là giai
đoạn sống trôi nổi hay còn gọi là giai đoạn ấu trùng veliger và giai đoạn sống
đáy[30](Edward.E, 1994).
Giai đoạn sống trôi nổi hay giai đoạncòn gọi là ấu trùng Veliger đặc
trưng cho giai đoạn từ khi ấu trùng mới nở đến khi ấu trùng biến thái chuyển
sang sống đáy. Sở dĩ ấẤu trùng Vverliger bơi tự do trong nước biển là nhờ
vào vành bơi (velum) với những chiếc thuỳ (lopes) phát triển. Tác dụng của
vành bơi không chỉ đóng vai trò như những mái chèo đập nước làm cho ấu
trùng ốc có thể trôi nổi và chuyển động nhanh trong nước mà nó còn được coi
nhanh thì càng giảm được nguy hiểm đối với động vật dữ sống trong bBiển và
phát tán nhanh ra nhiều hướng. Điều đó cũng làm tăng tỉ lệ sống sót của ấu
trùng đến giai đoạn sống đáy [34]. (Harding, J. M, 2006).
Ấu trùng khi chuyển từ giai đoạn sống trôi nổi đến giai đoạn sống đáy
phải trải qua sự biến thái. Sự biến thái làm cho chúng biến đổi hình dáng, mất
hẳn cấu trúc bơi, chân kéo dài và hoạt động tích cực để thích ứng với đời sống
mới, ở một môi trường sống mới trong suốt cuộc đời còn lại của chúng –- đặc
12
trưng đầu tiên của giai đoạn trưởng thành được hình thành [30],[34](Edward.
E, 1994; Harding, J. M, 2006).
Ốc nhảy Strombus canarium trưởng thành thường sống tụ tập theo
nhóm ở nền đáy là cát, bùn hoặc cát-bùn và thảm cỏ biển [24],[33],[3]
(Abbott, 1960; Erlambang & Siregar, 1995; Nguyễn Chính, 1996). Vì chúng
là loài ăn chủ yếu thực vật (herbivorous) nên hệ sinh thái cỏ biển đóng vai trò
quan trọng trong việc duy trì nguồn lợi ốc S.canarium [51](Zaidi et al., 2005).
Sự vận động của ốc nhảy cũng hơi khác so với các loài trong lớp
Gastropoda. Trong khi phần lớn các loài thuộc lớp Gastropoda thích nghi với
việc bò trên bề mặt của nền đáy thì các loài ốc nhảy Strombus dùng chiếc vẩy
lớn giống như móng vuốt thọc vào trong cát và sau đó đẩy cơ thể của chúng
tiến về phía trước bằng việc duỗi chân (solo) [30](Edward.E, 1994). Hoạt
động này có thể làm cho chúng có tên là ốc nhảy. Chiếc vẩy giống như chiếc
móng vuốt còn có thể trở thành vũ khí tự vệ của các loài trong giống
Strombus [24](Abbott, 1960).
1.4. Đặc điểm dinh dưỡng
Cũng như các loài trong giống Strombus, ốc nhảy S.canarium là loài
dinh dưỡng chủ yếu là thực vật và mùn bã hữu cơ [33],[51](Erlambang &
Siregar, 1995; Zaidi at al, 2005). Thêm vào đó, Edward (1994) phát hiện cho
(Padina sp., Gracilaria sp., Euchema sp.) và cỏ biển Enhalus accoroides,
Thalassia sp. tập trung nhiều ở vùng hạ triều. Các loài tảo và cỏ biểnnày phát
triển ít ở trên một vùng nhỏ ở trung triều và rất nghèo nàn ở cao triều. Điều đó
tương quan với sự phân bố đa dạng hơn nếucủa ốc nhảy đi từ cao triều đến hạ
triều. Thêm vào đó, Kusdiarti et al. (1989) cũng thấy rằngxác định ốc S.
canarium ở quần đảo Riau – Indonesia ăn chủ yếu các loài Enhalus sp.,
Thalassia sp., thực vật phù du vvà động vật phù du [33].
Các nghiên cứu về dinh dưỡng trên gợi ý cho chúng ta về chức năng
của vùng triều và hệ sinh thái cỏ biển trong việc nuôi dưỡng ốc con và làm cơ
14
sở trong việc lựa chọn thức ăn thích hợp để ương nuôi ấu trùng ốc nhảy cũng
như việc chọn địa điểm để trong quá trình nuôi thương phẩm ốc nhảy.
Đặc tính dinh dưỡng của nhiều loài ốc biển thay đổi theo các giai đoạn
phát triển. Giai đoạn phát triển trong trứng, ấu trùng dinh dưỡng chủ yếu bằng
noãn hoàng. Hoạt động của cơ quan tiêu hoá chỉ bắt đầu khi ấu trùng veliger
nở ra. Trong giai đoạn ấu trùng Veliger, ấu trùng có khả năng bắt mồi và có
tính ăn lọc các loài thực vật phù du đơn bào có kích thước nhỏ [19],[34],[41]
(Nguyễn Thị Xuân Thu, 2005). Những Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực sản
xuất giống cho thấy rằng một số loài tảo đơn bào có kích thước nhỏ như
Isochrysis sp., Tetraselmis sp., Nanochloropsis sp., Cheatoceros sp là thức ăn
thích hợp cho ương nuôi ấu trùng verliger ốc Hương Babiylonia areolata
[20],[34](Nguyễn Thị Xuân Thu và ctv, 2003), ốc vặn Rapana venosa
(Juliana M.Harding, 2006), ốc nhảy Strombus canarium [43](Syamsul et al,
2005). Khi ấu trùng chuyển sang đời sống đáy, chúng dần dần trở về tập tính
dinh dưỡng đặc trưng của loài (ốc hương ăn thịt động vật, ốc nhảy ăn thực
vật, …)..
1.5. Đặc điểm sinh trưởng
trong giống Strombus thường thì con đực nhỏ hơn con cái nhưng . Đđối với
ốc nhảy Strombus canarium thì cá thể đực thường lớn hơn so với cá thể cái
[33],[47](Erlambang & Siregar, 1995; Zaidi et al, 2005).
Bên cạcnh các yếu tố nội sinh, tốc độ lớn của động vật thân mềm còn
chịu ảnh hưởng của các yếu tố ngoại sinh trong đó các yếu tố quan trọng nhất
là nhiệt độ, độ muối và thức ăn., Ba yếu tố này thường tạo nên tính mùa vụ
sinh trưởng ddo đó sinh trưởng của động vật thân mềm còn thay đổi theo mùa
[7](Hà Quang Hiến, 1967). Mùa vụ và thời gian sinh sản cũng ảnh hưởng
nhiều lớn đến tốc độ sinh trưởng. Khi tham gia vào mùa vụ sinh sản, động vật
thân mềm nhuyễn thể thường giảm tốc độ sinh trưởng. Ốc thường mang trứng
16
vào thời kỳ có trăng tròn [43](Syamsul et al, 1998). Có lẽ chính vì điều đó
nên ốc thường gầy và dân gian thường không ăn thịt ốc vào thời điểm có
trăng tròn.
Thêm vào đó, sự có mặt của vật ăn thịt (predators) cũng làm ảnh hưởng
đến tăng trưởng của ốc non. Degodo et al (2002) cho biết rằng ốc con S. gigas
lớn chậm hơn và có vỏ nặng hơn trong môi trường sống có mặt vật dữ (ví dụ
Mực) so với khi vắng mặt chúng. Các yếu tố vô sinh như độ sâu và loại nền
đáy cũng được coi là những nhân tố có ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của
ốc [38](McCarthy, 2007).
McCarthy (2007) cũng cho rằng tăng trưởng của ốc S. gigas trước giai
đoạn thành thục thường được xác định bởi sự tăng lên về chiều dài vỏ. Ở giai
đoạn này sự tăng về chiều dài vỏ cũng bị ảnh hưởng rất nhiều bởi hoạt động
soắn xoắn của vỏ.
Ốc nhảy S. canarium khi mới nở có chiều dàicao khoảng 275µm, khi
biến thái thành ấu trùng bò lê chiều cao tăng lên thành 685µm (15 ngày), đạt
tốc độ tăng trưởng tuyệt đối và tỉ lệ tăng trưởng bình quân ngày là 27, 3µm và
thục của các loài trong giống [24],[26](Abbott, 1960; Appeldoorn, 1988).
Theo nghiên cứu của Zaidi et al (2008b), kích thước thành thục lần đầu (chiều
cao và độ dày môi vỏ mà có trên 50% cá thể thành thục) của ốc S. canarium
đực tại Johor Straits, Malaysia thấp hơn ốc cái. Kích thước thành thục lần
đầu của ốc đực là 54,14 ± 0,86mm đối với ốc đực và ốc cái 58,51 ± 1,02mm;
đối với ốc cái và độ dày môi là 0,69 ± 0,0003 mm đối với ốc đực và 0,08 ±
0,014mm đối với ốc cái.
Chiều cao của vỏ ốc nói lên sự sinh trưởng của ốc có thể xảy ra nhanh
trong thời gian đầu tuỳ thuộc vào các điều kiện thức ăn, hay môi trường sống
hay có thể ngừng khi cá thể đạt đến một kích cỡ nhất định. Mặt khác, độ dày
của vỏ ốc, trong đó có độ dày môi của vỏ thì tăng lên theo tuổi và yếu tố này
18
có thể dùng để xác định tuổi của ốc [26](Appeldoorn, 1988). Chính vì điều
đó, dùng chỉ tiêu độ dày môi vỏ để xác định kích thước thành thục và tuổi
thành thục của ốc dường như có ý nghĩa hơn. Chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu
nào liên quan đến tuổi thành thục thành thục của ốc nhảy S. canarium, tuy
nhiên Appeldoorm (1990) cho biết tuổi nhỏ nhất mà ốc S.gigas thành thục
giới tính là 3,2-3,3 năm [39](Louis, A.G et al,1997).
1.6.2. Mùa vụ sinh sản
Mùa vụ sinh sản của động vật thân mềm khác nhau tuỳ theo loài và
điều kiện sống. Một số loài có tuyến sinh dục thành thục sinh dục quanh năm
và những loài khác có tuyến sinh dục chỉ thành thục sinh dục trong mùa nhất
định do đó chúng có thể đẻ được quanh năm hoặc chỉ đẻ vào một mùa nhất
định [7](Hà Quang Hiến, 1964). Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị
Xuân Thu (2003), ốc Hương Babiylona areolata có khả năng thành thục
quanh năm nhưng tỉ lệ thành thục cao nhất đạt được trong tháng 3-10 (đạt 60
-90%), các tháng còn lại vẫn bắt gặp các cá thể thành thục nhưng với tỉ lệ