TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
BÀI TẬP
ĐIỀU KIỆN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CÔNG TÁC XÃ HỘI
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRỢ
GIÚP NẠN NHÂN BẠO LỰC GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ ......HUYỆN .....TỈNH
Giáo viên hướng dẫn:
Học viên:
Lớp:
CTXH……………….
Hệ đào tạo:
Vừa học vừa làm
Tỉnh ………………..
…….., tháng…. năm 2016
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian hơn bốn năm học lớp Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa công tác xã
hội. Em là học viên ...........đã được sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo Nguyễn Hiệp
Thương và các thầy các cô giáo trong Khoa công tác xã hội đã truyền tải những kiến
thức cho em và các bạn học viên trong lớp. Sau khi học xong học viên chúng em mang
những kiến thức đã học áp dụng vào thực tế tại địa phương, mang lại lợi ích cho gia đình
và quê hương, vì vậy lên em chọn làm bài tập điều kiện tốt nghiệp “cá nhân trợ giúp
nạn nhân bạo lực gia đình tại xã Vĩnh Hòa huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương’’ là
quê hương em đang tham gia công tác. Em xin chân thành cám ơn các thầy các cô giáo.
Để có thể hoàn thiện được chương trình học và làm bài tập điều kiện tốt nghiệp là cả một
khỏe mạnh cần giữ cho gia đình ấm no, hạnh phúc, hòa thuận, mọi người yêu thương
nhau. Tránh mâu thuẫn, bất hòa, xung đột giữa các thành viên trong gia đình dẫn tới đổ
vỡ hạnh phúc, kéo theo nhiều vấn đề tiêu cực vi phạm tới các chuẩn mực đạo đức xã hội
của con người Việt Nam, nền văn hóa, vấn đề an sinh xã hội, pháp luật và là nguy cơ suy
giảm nền kinh tế của đất nước.
Nhưng trên thực tế, không phải gia đình nào cũng là tổ ấm, là nơi thỏa mãn những
nhu cầu tình cảm và vật chất của các thành viên, bảo vệ họ trước những căng thẳng của
cuộc sống. Rất nhiều người không may đã phải sống trong sự bế tắc, khổ sở bởi chính
những người thân trong gia đình mình gây ra. Họ rất cần sự trợ giúp của xã hội để giải
thoát cho họ, họ khao khát được sống một cuộc sống có ý nghĩa và họ có quyền được
sống hạnh phúc. Hiện nay, nạn bạo lực gia đình đã và đang là một vấn nạn, ngày càng
nóng bỏng với những hình thức tinh vi hơn và hậu quả nghiêm trọng hơn như một báo
động của toàn cầu. Ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của con người và toàn xã hội.
Mỗi gia đình có một hoàn cảnh khác nhau và nguyên nhân dẫn đến việc bạo hành
cũng không giống nhau. Bạo lực gia đình là vấn đề mà cả xã hội đang rất quan tâm, nó
Bài tập điều kiện tốt nghiệp
3
Trương Thị Hằng Lớp Đại học CTXH - K6B
ảnh hưởng tới đời sống của rất nhiều người mà đặc biệt là phụ nữ và trẻ em.Vì vậy, mỗi
cá nhân và cả cộng đồng hãy góp sức hạn chế, đẩy lùi nạn bạo lực gia đình đối với phụ
nữ nói riêng, bạo lực gia đình nói chung, góp phần xây dựng xã hội ngày càng tươi đẹp,
văn minh.
Trước tình hình ấy, Công tác xã hội có đóng vai trò quan trọng trong việc trợ giúp
cho những đối tượng bị bạo hành gia đình cũng như việc hạn chế nó. Trong đó, ứng dụng
phương pháp công tác xã hội cá nhân là thích hợp nhất nhằm góp phần hàn gắn những vết
thương, trợ giúp cho nạn nhân để họ có thể tự vượt lên hoàn cảnh, thay đổi cuộc sống của
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác phòng chống bạo lực gia
đình với phụ nữ và trợ giúp nạn nhân bị bạo lực
3. Đối tượng và phạm vi thực hiện đề tài
- Đối tượng: tìm hiểu về tình trạng bạo lực gia đình và vận dụng phương pháp
CTXH cá nhân nhằm hỗ trợ giải quyết vấn đề của nạn nhân bị bạo lực gia đình trên địa
bà xã Vĩnh Hoà, huyện Ninh Giang
- Phạm vi thực hiện;
+ Về thời gian: từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2015
+ Về không gian: xã Vĩnh Hoà, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Bài tập điều kiện tốt nghiệp
5
Trương Thị Hằng Lớp Đại học CTXH - K6B
I. TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN
1. Khái niệm công tác xã hội cá nhân
CTXH cá nhân là phương pháp can thiệp hỗ trợ đầu tiên của CTXH. Phương pháp
CTXH cá nhân xuất hiện sớm nhất trong lịch sử hình thành và phát triển CTXH cả trên
phương diện lý thuyết và hoạt động thực tế, điển hình là ở các nước Mỹ, Anh, Canada...
Cùng với thời gian, CTXH cá nhân ngày càng trở nên quan trọng, trở thành nền tảng và
là một trong những phương pháp cơ bản của CTXH.
CTXH cá nhân là một phương pháp tác động đến cá nhân có vấn đề xã hội, giúp
cá nhân tự nhận thức về vấn đề, thúc đẩy, phát huy tiềm năng, kết hợp với sự hỗ trợ bên
ngoài, tích cực tham gia vào quá trình tương tác giải quyết vấn đề gặp phải, cải thiện
hoàn cảnh, vươn lên trong cuộc sống.
2. Đặc điểm và bối cảnh ứng dụng công tác xã hội cá nhân
+ CTXH cá nhân không dừng lại là một hoạt động, một tác động nhất thời mà phải
Như vậy, đối tượng tác nghiệp của CTXH cá nhân là những cá nhân hoặc gia đình
có vấn đề xã hội, có nan đề cuộc sống.
Đây là những người có hoàn cảnh khó khăn, gặp rủi ro, bất hạnh trong cuộc sống,
bị yếu thế trước xã hội; những người nghèo đói, thất nghiệp; người bị khuyết tật; người
già, người cô đơn; trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa, sống lang thang, bị ngược đãi, bị
lạm dụng tình dục, lạm dụng sức khoẻ, bóc lột sức lao động; phụ nữ bị bạo hành, bất bình
đẳng trong gia đình và xã hội; người bị nhiễm hoặc mang bệnh hiểm nghèo; những người
có hành vi lệch chuẩn, người nghiện ma tuý, hoạt động mại dâm, tội phạm xã hộI.
4. Nguyên tắc cơ bản của công tác xã hội cá nhân.
Những nguyên tắc chung cơ bản của CTXH được quán triệt thực hiện trong CTXH cá
nhân và trở thành các nguyên tắc cụ thể: Chấp nhận thân chủ; Cá biệt hóa thân chủ; Thân
chủ trọng tâm; Tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ; Giữ bí mật thông tin của thân chủ và
liên quan đến thân chủ; Thân chủ tham gia quá trình giải quyết vấn đề.
Trong đó có hai nguyên tắc đặc thù, quan trọng là nguyên tắc cá biệt hóa và nguyên
tắc giữ bí mật thông tin của thân chủ.
5. Tiến trình CTXH cá nhân
Bài tập điều kiện tốt nghiệp
7
Trương Thị Hằng Lớp Đại học CTXH - K6B
Tiến trình CTXH cá nhân là quá trình thể hiện sự tương tác giữa người làm CTXH
và thân chủ trong việc trợ giúp, giải quyết vấn đề của thân chủ từ khi bắt đầu tiếp nhận ca
cho đến khi kết thúc. Quá trình này bao gồm 7 bước: Tiếp cận thân chủ; Nhận diện vấn
đề; Thu thập và xử lý thông tin; Xác định vấn đề ưu tiên và trọng tâm vấn đề cần giải
quyết; Xây dựng kế hoạch giải quyết vấn đề; Thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề;
Lượng giá và kết thúc.
6. hệ thống kỹ năng cơ bản của công tác xã hội cá nhân
học, nhà hoạt động thực tiễn trên thế giới chấp nhận rộng rãi, tuy nhiên định nghĩa này
chỉ nhằm tới đối tượng nạn nhân bị bạo lực gia đình là phụ nữ. Theo đó, bạo lực gia đình
là: bất kỳ hành động bạo lực trên cơ sở giới nào dẫn đến hoặc có thể dẫn đến những tổn
thất về thân thể, tâm lý hay tình dục hay những đau khổ của phụ nữ; bao gồm cả sự đe
doạ có những hành động như vậy, việc cưỡng bức hay tước đoạt sự tự do, dù ở nơi công
cộng hay trong cuộc sống riêng tư.
Trong Luật phòng, chống bạo lực gia đình của Việt Nam đã xác định: Bạo lực gia
đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về
thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình (Khoản 2, Điều 1,
Chương 1).
Như vậy, bạo lực gia đình là hiện tượng một hay nhiều thành viên trong gia đình
cố ý thực hiện hành vi gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần và
kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình ở những mức độ khác nhau. Về bản chất
bạo lực gia đình là một hình thức vi phạm pháp luật và đạo đức.
- Nạn nhân của bạo lực gia đình chủ yếu là những người phụ nữ, trẻ em và ngày
càng có thêm nạn nhân của bạo lực gia đình là người già, nam giới và bố mẹ. Điều này
đang chứng tỏ rằng, “bức tranh” bạo lực gia đình rất đa dạng, phức tạp.
- Nạn nhân bị bạo lực gia đình trầm trọng: là những nạn nhân thường xuyên hoặc
chỉ một lần bị đánh đập, ngược đãi, nhục mạ dẫn đến những hậu quả, sự tổn thương
nghiêm trọng về thể chất, tinh thần, gây trở ngại cho cuộc sống, sự phát triển của cá nhân
và thực hiện các chức năng xã hội. Người ngoài thường không khó khăn trong việc nhận
biết nạn nhân bị bạo lực gia đình trầm trọng. Qua quan sát bên ngoài hoặc qua giao tiếp,
tìm hiểu có thể dễ dàng nhận thấy những vết tích hay thương tích để lại là hậu quả của
bạo lực thể chất đối với nạn nhân cùng với những dấu hiệu khủng hoảng tâm lý, hoảng
loạn và biểu hiện thái độ, hành vi mất tự tin, che đậy suy nghĩ, cảm xúc thật... của người
bị bạo lực gia đình.
Bài tập điều kiện tốt nghiệp
9
10
Trương Thị Hằng Lớp Đại học CTXH - K6B
Qua nhiều công trình khảo sát, nghiên cứu ở những thời điểm khác nhau, trên
những địa bàn khác nhau, chọn mẫu và được thực hiện bởi các cơ quan, tổ chức, nhà
nghiên cứu khác nhau đã chỉ ra nguyên nhân của bạo lực gia đình rất đa dạng, song có thể
khái quát ở những nguyên nhân cơ bản: tư tưởng gia trưởng, bất bình đẳng giới; phong
tục tập quán lạc hậu, nhận thức văn hóa yếu kém, không đầy đủ; lạm dụng hoặc bị chi
phối, mất khả năng tự kiểm soát, kiềm chế bởi các chất kích thích; sự cam chịu, bế tắc
hoặc phó mặc của nạn nhân bị bạo lực gia đình; nghèo đói, không đảm bảo đời sống vật
chất hoặc quá dư thừa về kinh tế; thiếu tinh thần trách nhiệm của cộng đồng, của môi
trường xã hội và thiếu cơ chế xử lý triệt để, nghiêm minh đủ sức thuyết phục, răn đe, giải
quyết vấn đề.
- Hậu quả của bạo lực gia đình
+ Hậu quả tác động ảnh hưởng đến tâm sinh lý, đời sống tinh thần, tình cảm của
nạn nhân bị bạo lực gia đình. Nạn nhân bị bạo lực gia đình, đặc biệt và chủ yếu là phụ nữ
và trẻ em sẽ có những tổn thương, khủng hoảng nghiêm trọng đến đời sống tinh thần, tình
cảm, tâm sinh lý. Bạo lực thường xuyên, dù dưới bất kỳ hình thức nào cũng đều tác động
gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tinh thần của nạn nhân bị bạo lực.
+ Bạo lực gia đình gây hậu quả, ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất của nạn nhân bị
bạo lực. Hầu như các cuộc bạo lực gia đình, đặc biệt là bạo lực về thể chất, ít nhiều đều
gây ra những thương tổn về thể chất đối với nạn nhân bị bạo lực. Mức độ thương tổn về
thể chất từ nhẹ đến nặng, có nhiều trường hợp để lại thương tật vĩnh viễn, suốt đời, thậm
chí dẫn đến tử vong.
+ Bạo lực gia đình còn gây ra những hậu quả tổn thất về kinh tế, tác động xấu lên
đời sống gia đình và trật tự, văn hóa cộng đồng xã hội. Những cuộc cãi vã, đay nghiến,
miệt thị hay “chiến tranh lạnh” trong gia đình, những cuộc ẩu đả, đánh đập, hành hạ,
ngày một gia tăng, trong đó có tới 97% nạn nhân bạo lực gia đình là phụ nữ. Một cuộc
khảo sát ở Hà Nội, Phú Thọ và Thái Bình vào năm 2007 chỉ ra rằng có đến 40% số phụ
nữ được hỏi đã thừa nhận có bạo lực gia đình xảy ra trong gia đình họ và đương nhiên
nạn nhân chủ yếu là phụ nữ và trẻ em.
Theo thống kê của Viện Xã hội học – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam thì ở nước
ta có đến 66% các vụ li hôn liên quan đến bạo lực gia đình và việc hành hạ, ngược đãi là
một nguyên nhân chính dẫn đến các vụ li hôn. Thống kê của Tòa án nhân dân tối cao,
trong 5 năm (từ 2005 đến 2009) các tòa án địa phương đã tiếp nhận, thụ lý và giải quyết
Bài tập điều kiện tốt nghiệp
12
Trương Thị Hằng Lớp Đại học CTXH - K6B
sơ thẩm 532.047 vụ việc về li hôn và gia đình, trong số này có 186.954 vụ có nguyên
nhân từ bạo lực gia đình, chủ yếu là hành vi đánh đập, ngược đãi, gây tổn hại về thế chất
và tinh thần (riêng năm 2005 có tổng số 65.929 vụ án về hôn nhân và gia đình, trong đó
có 39.730 vụ li hôn bởi lý do chính là bạo lực gia đình).
Mặc dù những con số thống kê về thực trạng bạo lực gia đình ở nước ta là rất lớn,
nhưng như thế cũng chưa phản ánh đầy đủ tình trạng bạo lực gia đình đã và đang diễn ra
trong các gia đình ở khắp nơi trên đất nước ta. Bởi trên thực tế, vì nhiều lý do khác nhau,
với tâm lý và thái độ phổ biến là sự cam chịu, nhẫn nhịn của nạn nhân, cho đây là vấn đề
nội bộ, tế nhị, phần lớn bị che đậy hoặc giấu giếm, không muốn cho người ngoài biết –
“xấu chàng hổ ai”, không muốn “vạch áo cho người xem lưng”... cho nên chỉ đến khi
không còn chịu được nữa, việc bạo lực gia đình bị vỡ lở hay phát hiện, hoặc có sự can
thiệp, động viên của đại diện chính quyền, đoàn thể, những người trong gia đình, họ
hàng, làng xóm... thì nạn nhân mới đi báo cáo, tố cáo đến tổ chức, cơ quan có chức năng
giải quyết vấn đề. Do đó, số liệu thống kê về bạo lực gia đình cũng chỉ như “phần nổi của
tảng băng trôi” mà thôi.
pháp lý quan trọng cho việc đấu tranh, ngăn chặn, xử lý tình trạng bạo lực gia đình.
Trong các văn bản pháp luật này, những nội dung liên quan đến phòng chống bạo lực gia
đình được thể hiện ở các quy định về: Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự
nguyện; Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công
nuôi dưỡng mình; Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng… và các quy định về nghĩa vụ
và quyền của bố dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc của chồng; Điều kiện đối với
người nhận con nuôi; Xử lý vi phạm pháp luật trong quan hệ hôn nhân và gia đình… Thể
hiện tập trung nhất về chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phòng, chống
bạo lực gia đình và là cơ sở pháp lý quan trọng, thống nhất cho việc bảo vệ quyền và lợi
ích của các thành viên trong gia đình, thực hiện phòng ngừa, ngăn chặn, giải quyết vấn đề
bạo lực gia đình là Luật Phòng, chống bạo lực gia đình được Quốc hội nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam thông qua ngày 21/11/2007 và có hiệu lực thi hành từ ngày
01/7/2008…
III. THỰC TRẠNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH VÀ VIỆC HỖ TRỢ NẠN NHÂN BỊ
BẠO LỰC GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN XÃ VĨNH HOÀ, HUYỆN NINH GIANG
1. Khái quát về địa bàn xã Vĩnh Hoà, huyện Ninh Giang
1.1. Vị trí địa lý
Vĩnh Hòa là một trong 28 xã trong huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương.
Bài tập điều kiện tốt nghiệp
14
Trương Thị Hằng Lớp Đại học CTXH - K6B
- Phía bắc giáp xã Ninh Thành.
- Phía tây giáp trục đường 17A và xã Tân Hương
- Phía đông giáp xã Minh Đức huyện Tứ Kỳ.
- Phí Nam giáp xã Đồng Tâm và thị Trấn Ninh Giang.
sản lượng đạt 2.956,07 tấn; giảm 12,93 tấn so với năm 2013.
Thu nhập bình quân dầu người 26,8 triệu đồng/năm.
Lương thực bình quân đầu người đạt 646 kg/ người/ năm, giảm 14 kg/ người so với
năm 2013. Thực phẩm đạt 307 tấn, bình quân thực phẩm đạt 57,6 kg/người/năm (giảm
8,1 kg so với năm 2013). Chỉ đạo HTX cung ứng bán phục vụ nhân dân được 6.450 kg
thóc giống các loại; cung ứng được 52 tấn phân các loại và 1.600 kg khoai tây giống Hà
Lan theo chính sách trợ giá 50%, dự thính dự báo sâu bệnh được 23 đợt, tổ chức được 9
lớp chuyển giao KHKT về phòng trừ sâu bệnh và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân
bón hiệu quả kinh tế an toàn cho 1.146 lượt người tham dự.
* Về chăn nuôi
Ngay từ đầu năm, UBND xã chỉ đạo cho Ban thú y xã tăng cường phòng chống dịch
bệnh cho đàn gia súc, gia cầm, tổ chức phun thuốc khử trùng cho các hộ chăn nuôi, tiêm
vacxin phòng chống dịch bệnh, thông báo rộng rãi trên hệ thống loa truyền thanh của xã
để các hộ chăn nuôi nắm được cách thức phòng chống dịch bệnh, cụ thể: Đã phát thuốc
khử trùng tiêu độc và hướng dẫn cho nhân dân tự phun 6 lượt = 70 lít thuốc. Tổ chức
tiêm phòng cho đàn Trâu, bò đạt 100 %; đàn lợn đạt 100 %; tiêm phòng cho đàn chó đạt
94 %;
khuyến khích, động viên các hộ chăn nuôi khôi phục lại đàn gia súc, gia cầm nên
đến nay qua thống kê đàn lợn thịt có 2.842 con; đàn trâu, bò, bê, nghé có 26 con; Đàn gia
cầm có trên 12.600 con; đàn chó có 510 con.
* Công tác vay vốn phát triển sản xuất
UBND xã, ban xoá đói giảm nghèo tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nhân dân được
vay các nguồn vốn phát triển sản xuất và sinh viên học tập các nguồn vốn vay đúng đối
tượng, trả gốc lãi đúng thời hạn. Trong đó nguồn vốn vay phát triển sản xuất có 258 hộ
vay với số tiền là 11.000.000.000đ
Nguồn vốn vay Ngân hàng CSXH có 520 hộ vay, với số tiền= 9.446.000.000 đồng
Tổng số các nguồn vốn có 778 hộ vay số tiền 20.446.000.000 đồng.
Bài tập điều kiện tốt nghiệp
16
Trong năm 2014, UBND xã chỉ đạo kiện toàn các tổ dịch vụ thuỷ nông, tiến hành
quy hoạch lại toàn bộ hệ thống giao thông, thủy lợi nội đồng chỉnh trang đồng ruộng và
Bài tập điều kiện tốt nghiệp
17
Trương Thị Hằng Lớp Đại học CTXH - K6B
tiến hành dồn ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn ( đã hoàn thành trong năm 2014) cùng với việc
hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới vào năm 2019.
* Công tác quốc phòng, quân sự địa phương
+ Công tác tuyển quân:
Trong năm Tổ chức đăng ký cho 46 nam công dân trong độ tuổi 17 sẵn sàng nhập
ngũ, phát lệnh khám sơ tuyển = 62 nam công dân bảo đảm đúng Luật; điều khám huyện
32 nam công dân; Hoàn thành chỉ tiêu giao quân = 12 thanh niên đạt 100% kế hoạch.
+ Công tác xây dựng lực lượng và huấn luyện DQTV:
Nhận và triển khai Chỉ thị của UBND huyện Ninh Giang, kế hoạch của Ban chỉ huy
quân sự huyện về công tác Quốc phòng, UBND xã đã ra 02 Chỉ thị để thực hiện Nghị
quyết chuyên đề của Đảng uỷ về công tác Quốc phòng an ninh trên địa bàn đạt kết quả cao.
Chỉ đạo Ban chỉ huy quân sự xã Tham mưu cho UBND xã xây dựng kế hoạch huấn
luyện Dân quân tự vệ năm 2014, chuẩn bị tốt giáo án, mô hình học cụ, tổ chức huấn luyện
Dân quân tự vệ cho 80 lượt người, đảm bảo thời gian và an toàn trong huấn luyện.
Xây dựng kế hoạch và quân số trang bị cho một đại đội phòng chống lụt bão gồm
100 - 120 đồng chí sẵn sàng làm nhiệm vụ khi có tình huống, bão lũ, úng lụt, cháy rừng
xảy ra .
+ Chính sách hậu phương quân đội:
Hoàn thiện hồ sơ cho 42 đối tượng hưởng chính sách theo Quyết định 62/QĐ- TTg
của Thủ tướng Chính phủ. Năm 2014 Ban chỉ huy quân sự xã được UBND huyện tặng
giấy khen.
xây dựng làng văn hoá và gia đình văn hoá, tính đến tháng 12 năm 2014 có 1460/1748 hộ
đạt gia đình văn hoá (=83,52%)
Công tác chính sách xã hội
Chi trả kịp thời, đúng chế độ đối với các đối tượng chính sách và người có công
năm 2013 bằng 2.642.541.000 đ. Nhân dịp tết cổ truyền và ngày thương binh liệt sỹ 27/7,
chuyển quà của Chủ tịch nước, của Tỉnh, của Huyện và xã đến tận tay các đối tượng =
242.628.000 đồng.
Kịp thời làm thủ tục cấp thẻ BHYT cho các đối tượng,
Thực hiện các chính sách đối với hộ nghèo theo tiêu chí mới. Rà soát, bình xét hộ
nghèo năm 2014 là 146 hộ = 7,16 % (giảm 31 hộ so với năm 2013).
Tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hồ sơ cho công dân đi lao động trong và ngoài
nước và tại các doanh nghiệp. UBND xã trích 4.350.000 đ tặng các cháu Mầm non nhân
dịp tết thiếu nhi 01/6 và 1.500.000 đ nhân dịp tết trung thu.
Bài tập điều kiện tốt nghiệp
19
Trương Thị Hằng Lớp Đại học CTXH - K6B
Kết hợp tổ chức thắp nến tri ân các Anh hùng liệt sỹ ngày 27/7 theo quy định của
Nhà nước.
- Công tác Tư pháp- Hộ tịch
* Công tác tư pháp
+ Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật:
Ngay từ đầu năm 2014 cán bộ Tư pháp Hộ tịch đã làm tốt công tác tham mưu và
giúp UBND xã xây dựng kế hoạch số 01 tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và
đăng ký quản lý hộ tịch, phối hợp với MTTQ xã, các ban, ngành, đoàn thể, các thôn chi
hội luật gia, các cơ quan hữu quan đóng trên địa bàn xã, các tổ hoà giải ở cơ sở; Cán bộ,
nhân viên đài truyền thanh xã và hai nhà trường, tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
- Uống thuốc Vi chất đợt 1 = 302 cháu, đợt 2 =297 cháu
- Tiêm phòng dịch Sởi và Ebola cho tất cả các cháu từ 6 đến 14 tuổi.
- Tiêm AT phụ nữ có thai = 92 người = 100%
Thực hiện tốt công tác phòng chống suy dinh dưỡng và phòng chống bệnh xã hội,
công tác khám sức khoẻ cho học sinh 3 nhà trường được bảo đảm.
Công tác dân số KHHGĐ
Thực hiện công tác tuyên truyền thực hiện chính sách dân số KHHGĐ. Năm 2014
có 04 trường hợp sinh con thứ 3 (giảm 02 trường hợp so với cùng kỳ năm 2013); Tỷ lệ
phát triển dân số là 1,1 %.
Công tác giáo dục
Thực hiện có hiệu quả đề án đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo. Ba nhà
trường luôn quan tâm đến chất lượng giảng dạy, đẩy mạnh bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ. Chú trọng giáo dục mũi nhọn, quan tâm bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh yếu,
chất lượng giảng dạy của thầy cô. Học tập, đạo đức của học sinh từng bước được nâng
lên, tỷ lệ học sinh khá, giỏi tăng. Quan tâm xây dựng khuôn viên cảnh quan nhà trường
“Xanh- sạch- đẹp”.
Đầu năm học 2014-2015, Hội khuyến học đã tổ chức phát thưởng cho các thầy cô
có thành tích tiêu biểu trong giảng dạy của ba nhà trường và các em học sinh giỏi tỉnh,
giỏi huyện và thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng.
Trường THCS tiếp nhận 100% học sinh tốt nghiệp tiểu học vào lớp 6, tổ chức cho
học sinh khối 9 thi học sinh giỏi huyện có 32 em dự thi ở 8 môn, kết quả có 19 em đạt
giải; Trong đó ngữ văn 02 em, Toán 01 em, Địa lý 01 em, Vật lý 01, Toán máy tính 01
em, Hoá học 02 em, Sinh học 01 em, Lịch sử 02 em thực hiện bồi dưỡng học sinh giỏi
theo kế hoạch. Trường đạt tập thể lao động thể tiên tiến.
Bài tập điều kiện tốt nghiệp
21
Trương Thị Hằng Lớp Đại học CTXH - K6B
22
Trương Thị Hằng Lớp Đại học CTXH - K6B
dấu ấn tình cảm nên việc thực hiện các chức năng của gia đình vừa là thể hiện trách
nhiệm đối với xã hội và thoả mãn tình cảm mà thành viên trong gia đình dành cho nhau.
Xã Vĩnh Hoà, huyện Ninh Giang đã đạt được mức quy mô gia đình nhỏ, tự do cá
nhân được khẳng định và được thể hiện rất rõ nét trong các quy ước làng văn hoá. Kinh tế
xã phát triển, đời sống vật chất tinh thần, văn hoá, giáo dục và sức khoẻ của các thành
viên trong gia đình được cải thiện. Đồng thời các gia đình đều được tiếp nhận những giá
trị văn hoá mới, tiếp nhận sự bình đẳng giới được thể hiện ở sự thay đổi quan niệm, nhận
thức nhằm hướng tới cái mới.
Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn thấy sự xuất hiện của bạo hành gia đình, vẫn có
những người chồng, vẫn có tình trạng ngoại tình, mâu thuẫn, xung đột trong gia đình và
tình trạng ly hôn vẫn tái diễn trên địa bàn xã. Mỗi năm xã có khoảng 1 – 3 vụ ly hôn, mà
trong số đó hầu hết là do bạo hành gia đình, 90 % người đưa đơn là phụ nữ.
Số vụ việc bạo lực gia đình trên địa bàn xã: trung bình 8 vụ/năm (trường hợp phát
hiện được, con số thực tế có thể nhiều hơn), càng những năm gần đây, số vụ bạo lực ngày
càng gia tăng hơn những năm trước.
Các hình thức bạo lực gia đình và hậu quả của bạo lực gia đình trên địa bàn xã
Vĩnh Hoà, huyện Ninh Giang tập trung chủ yếu là bạo lực giữa vợ chồng và cha mẹ, con
cái, hình thức chủ yếu là bạo lực về thể chất.
Bài tập điều kiện tốt nghiệp
23
Trương Thị Hằng Lớp Đại học CTXH - K6B
đình văn hoá. Nêu cao vai trò gương mẫu, biểu dương, tôn vinh, nhân rộng những điển
hình tiêu biểu phong trào với nội dung và hình thức phù hợp.
4. Những khó khăn, trở ngại và vấn đề đặt ra đối với việc phòng chống bạo
lực gia đình trên địa bàn xã Vĩnh Hoà, huyện Ninh Giang
Để hạn chế bạo lực gia đình, người làm công tác xã hội cần phải khuyến khích sự
lên tiếng của nạn nhân. Tuy nhiên hầu hết trên địa bàn xã phụ nữ đều vì mặc cảm, vì con
cái, không muốn “Vạch áo cho người xem lưng” làm xấu hổ gia đình nên thường cố gắng
chịu đựng. Có những việc không giải quyết được trong nội bộ gia đình, nạn nhân cần
phải công bố cho cộng đồng, chính quyền đoàn thể biết để bảo vệ giúp mình, hầu hết họ
vẫn cam chịu mà chưa dám nên tiếng nhờ đến những địa chỉ tin cậy để bảo vệ quyền lợi
giúp mình. Cũng như bao người phụ nữ khác của Việt Nam các chị em phụ nữ của xã
Bài tập điều kiện tốt nghiệp
25
Trương Thị Hằng Lớp Đại học CTXH - K6B