MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN
CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN ĐẦM DƠI TỈNH CÀ MAU
10
1.1. Đồng bào dân tộc thiểu số và những vấn đề cơ bản về công tác
giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn
huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau
10
1.2. Thực trạng, nguyên nhân và một số kinh nghiệm công tác giáo
dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện
Đầm Dơi tỉnh Cà Mau
34
Chương 2. YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG
CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐẦM
DƠI TỈNH CÀ MAU HIỆN NAY
55
càng phát triển hiện đại thì nhu cầu nắm pháp luật của người dân càng cao, do đo
càng đặt ra yêu cầu cao cho công tác tuyên truyền, phổ biến GDPL. Ở nước ta hiện
nay, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, nhất là yêu cầu xây dựng Nhà nước
pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, đòi hỏi công tác
GDPL noi chung, GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà
Mau noi riêng phải được đặc biệt coi trọng. Ý thức được điều đo, những năm gần
đây công tác này đã được các ngành, các cấp đặc biệt quan tâm lãnh, chỉ đạo đạt
được nhiều kết quả, gop phần thiết thực vào nâng cao nhận thức pháp luật của đồng
bào, nhờ đo mà đời sống của đồng bào không ngừng được cải thiện và nâng lên về
mọi mặt. Trình độ hiểu biết pháp luật, hiểu biết quyền và nghĩa vụ của công dân
từng bước được nâng lên; đồng bào luôn tin tưởng và tích cực thực hiện đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước.
Tuy nhiên, bên cạnh đo một số cán bộ trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng,
bộ máy chính quyền, ban ngành địa phương còn nhận thức chưa đầy đủ về công tác
này, chưa thấy rõ vai trò, sự cần thiết phải tuyên truyền, GDPL cho đồng bào, còn
đùn đẩy, dựa dẫm, ỉ lại lẫn nhau. Một bộ phận đồng bào DTTS co thoi quen sống và
làm việc theo lối duy tình, coi trọng phong tục tập quán hơn pháp luật, tình trạng
“phép vua thua lệ làng” còn khá phổ biến; mặt khác do trình độ dân trí của đồng bào
dân tộc nhìn chung thấp, điều kiện tiếp cận và khả năng nhận thức về pháp luật rất
hạn chế, ý thức tự giác chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước, qui chế, qui định của địa phương còn chưa cao.
Để đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do
Nhân dân, vì Nhân dân, bảo đảm cho mọi quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân
theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; đồng thời để thực hiện quyền làm
chủ của Nhân dân và gop phần đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù
địch, chống cộng đang lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc,
sắc tộc để ráo riết triển khai chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ; kích
3
hoa”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp.
4
- Dương Thế Bằng (2006) xây dựng môi trường văn hoa pháp luật của đơn vị
học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội ở Học viện Chính trị quân sự hiện
nay, luận văn Thạc sĩ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị quân sự.
- Phạm Duy Nghĩa (2008), “Gop phần tìm hiểu văn hoa pháp luật”, Tạp chí
khoa học – Đại học Quốc gia Hà nội.
- Nguyễn Thị Hồi (2008), “Ý thức pháp luật và văn hoa pháp luật”, Tạp chí
Dân chủ và Pháp luật.
Sau khi các tác giả đi sâu luận giải môi trường văn hoa pháp luật, văn hoa
pháp lý, ý thức pháp luật, và những vấn đề co liên quan đến văn hoa pháp luật, nêu
lên được những thực trạng và kinh nghiệm xây dựng kiến thức pháp luật, đồng thời
các tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả về pháp luật, nhằm
nâng cao nhận thức cho các tổ chức, các lực lượng; xây dựng đồng bộ các thành tố
và phát huy tác dụng của văn hoa pháp luật; Duy trì nghiêm việc thực hiện pháp luật
Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội, các chế độ quy định của đơn vị; tích cực
đấu tranh ngăn chặn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật Nhà nước, các
chế độ quy định của đơn vị; tích cực đấu tranh ngăn chặn những hiện tượng, hành vi
vi phạm pháp luật Nhà nước. Tuy nhiên, do goc độ nghiên cứu, nên các công trình
trên chưa đi sâu nghiên cứu đến vấn đề phổ biến, GDPL cho Nhân dân, cho đồng
bào DTTS noi chung ở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau noi riêng.
* Nhóm các công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến công tác giáo
dục, phổ biến pháp luật.
- Phùng Văn Tửu (4/1985), “GDPL để tăng cường pháp chế xã hôi chủ nghĩa
và xây dựng con người mới”, Tạp chí Giáo dục lý luận.
- Nguyễn Trọng Bích (4/1989), “Giáo dục ý thức pháp luật”, Tạp chí Xây
dựng Đảng.
Về hình thức GDPL, các tác giả đã đề cập các hình thức chủ yếu là: phổ biến, noi
chuyện về pháp luật, tổ chức các câu lạc bộ, các đội thông tin, PB, cổ động, các cuộc
thi tìm hiểu pháp luật; tuyên truyền qua báo chí, phương tiện thông tin đại chúng; giáo
dục qua các hình thức văn học, nghệ thuật; dạy và học trong các nhà trường.
Về hiệu quả GDPL, theo các tác giả được biểu hiện ở tri thức trạng thái tình
cảm pháp luật, động cơ và hành vi tích cực pháp luật của đối tượng sau quá trình
giáo dục; phí tổn vật chất, thời gian, tinh thần trong GDPL. Tuy nhiên, những công
trình trên chưa đi sâu nghiên cứu làm rõ những vấn đề liên quan đến nâng cao chất
lượng GDPL để hình thành tính tự giác chấp hành pháp luật của học viên.
6
- Tổng cục chính trị (2000), Đổi mới công tác phổ biến GDPL trong Quân đội
nhân dân hiện nay, Nxb QĐND, Hà Nội. Công trình đã luận giải làm rõ khái niệm,
vai trò, mục đích, nhiệm vụ của phổ biến, GDPL. Phân tích, luận giải về các thành
tố của PB GDPL và làm rõ đặc điểm của phổ biến, GDPL trong quân đội. Các tác
giả đã đi sâu đánh giá thực trạng của công tác phổ biến GDPL trong quân đội những
năm qua, chỉ rõ những ưu, khuyết điểm, nguyên nhân của no và đưa ra những dự
báo về nhiệm vụ phổ biến GDPL trong quân đội trong thời gian sắp tới.
Về các giải pháp đổi mới công tác phổ biến GDPL trong quân đội giai đoạn
hiện nay, công trình đề cập tới các giải pháp lớn là: Đổi mới nội dung giáo dục; đổi
mới hình thức phương pháp giáo dục; tăng cường công tác tổ chức bảo đảm cho
giáo dục, nhưng chưa đề cập đến vấn đề nâng cao chất lượng GDPL.
- Nguyễn Xuân Quân (2009), Một số vấn đề về xây dựng, quản lý, khai thác tủ
sách pháp luật của đồn biên phòng, Tạp chí khoa học giáo dục Biên phòng, số
9/2009.
Tác giả khẳng định tủ sách pháp luật là công cụ để tuyên truyên, phổ biến,
GDPL, GDPL thông qua tủ sách pháp luật co những thuận lợi và ưu thế riêng. Để
nâng cao hiệu quả GDPL thông qua tủ sách pháp luật, theo tác giả cần: nhận thức
trường; công tác GDPL phải tiến hành thường xuyên; phát huy tinh thần tự nghiên
cứu, học tập pháp luật của đội cán bộ.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn; đề xuất
những giải pháp tăng cường công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện
Đầm Dơi tỉnh Cà Mau hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn làm rõ những vấn đề cơ bản về công tác GDPL cho đồng bào
DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau.
- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm
công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau.
- Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp tăng cường công tác GDPL cho
đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
8
Công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau
hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn
huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau; các tư liệu, số liệu điều tra, khảo sát giới hạn từ năm
2010 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và phương pháp luận nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên những quan điểm, nguyên lý, nguyên
tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lê nin; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường
10
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CÔNG TÁC
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN ĐẦM DƠI TỈNH CÀ MAU
1.1. Đồng bào dân tộc thiểu số và những vấn đề cơ bản
về công tác giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu
số trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau
1.1.1. Huyện Đầm Dơi và đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đầm Dơi
* Khái quát về huyện Đầm Dơi
Huyện Đầm Dơi là một trong 9 huyện, thành phố của tỉnh Cà Mau, được tách
ra từ huyện Ngọc Hiển (Tư Kháng). Địa danh Đầm Dơi gợi lên hình ảnh của vùng
đất chim trời cá nước, nơi co biển Đông rì rào song vỗ, rừng đước xanh thẩm bạt
ngàn, cánh đồng cò bay thẳng cánh. Nhờ chế độ thủy triều mang phù sa từ biển vào
bồi lắng, tích tụ tạo nên hệ sinh thái rừng ngặp mận, với nhiều lớp động thực vật
phong phú. Ngày xưa, Đầm Dơi là nơi co nhiều thú rừng, chim muông, cá đồng, cá
biển…Dân gian co câu: “Dưới sông sấu lội, trên bờ cọp đua”, “Heo rừng đào khoai
lang, khỉ đột cõng bí rợ”…
Đầu thế kỷ XIX, vùng đất này còn hoang dã. Mãi đến sau khi Pháp xâm lược
nước ta mới co dân từ miền trên đổ xuống tìm nơi ẩn náu tránh giặc và tìm kế sinh
nhai. Theo gia phả một số họ tộc dân cư trong vùng co người thuộc dòng dõi anh
hùng Nguyễn Trung Trực và pho soái Lâm Quang Ky. Năm 1868, một nhom nghĩa
quân chống Pháp bị thất trận phải rút về đầm chim lánh nạn. Về sau, cứ vào mùa
thu hàng năm, cháu chắt của các vị anh hùng dân tộc đến đền thờ ông tại Rạch Giá
để cúng bái, chiêm ngưỡng. Các nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng, con người Đầm
Dơi co tính khí hào hiệp, dũng cảm do co nguồn gốc từ anh hùng Nguyễn Trung
Trực và các nghĩa quân chống pháp khác.
Các thế hệ con người Đầm Dơi từ xưa đã đổ biết bao mồ hôi, nước mắt và
nghĩa Việt Nam quyết định thành lập huyện Đầm Dơi. Sau nhiều lần chia tách địa
giới hành chính cấp xã, huyện Đầm Dơi hiện nay co 15 xã và 1 Thị trấn. Đầm Dơi
là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, co cả ba loại tài nguyên quý giá là ruộng, biển
và rừng. Đầm Dơi còn giữ được nghề nuôi co đồng truyền thống ở Thanh Tùng,
nghề dệt chiếu ở Tân Duyệt. Ngoài ra người dân ngày xưa co nghề săn thú, cá sấu,
gác kèo ong, đan lưới, dệt vải, đong đáy, xây lò,… Nơi đây còn giữ vẻ đẹp văn hoa
12
dân gian qua điệu hát câu hò. Nhờ sớm co phong trào văn nghệ nảy sinh nhiều tài
năng sáng tác, co nhạc sỹ, nghệ sỹ tầm cở quốc gia. Trải qua hơn một thế kỷ, kể từ
thời mới khai hoang, bằng lao động cần cù và sáng tạo, người Đầm Dơi biết giữ gìn,
kế thừa bản sắc văn hoa dân tộc, luôn sống co tình nghĩa, thủy chung, “nhường cơm
sẻ áo, giúp nhau khi tối lửa tắt đèn và hết lòng vì bạn lúc khuynh nguy”, đoàn kết,
thủy chung trở nên nếp sống của mọi người. Đầm Dơi là huyện thuộc vùng kinh tế
ven biển của tỉnh, cách trung tâm tỉnh lỵ Cà Mau 30 km về hướng Đông Nam; diện
tích tự nhiên gần 83.000 ha, co 15 xã, 1 thị trấn, với 139 ấp - khom; co 43.234 hộ,
với 192.860 khẩu; huyện co chiều dài bờ biển trên 25 km, hệ thống sông ngòi chằng
chịt, co 4 cửa sông lớn thông ra biển: Gành Hào, Giá Cao, Giá Lồng Đèn, Hố Gùi...;
nhân dân sống chủ yếu là nuôi trồng, khai thác thuỷ sản và thương mại, dịch vụ.
Về chính trị: Hệ thống chính trị của huyện gồm các cơ quan cấp huyện:
Huyện uỷ, HĐND, UBND, UBMTTQ, Hội nông dân, Hội liên hiệp phụ nữ, Đoàn
thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Liên đoàn lao động và các tổ chức xã hội khác. Ở
15 xã và 01 thị trấn của huyện tương ứng co các tổ chức giống như huyện.
Về công tác xây dựng Đảng: Huyện Đầm Dơi co 67 tổ chức cơ sở đảng và
4.180 đảng viên, co tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn thực hiện nghiêm
túc Nghị quyết Trung ương 4 (Khoa XI) “Một số vấn đề cấp bách xây dựng Đảng
hiện nay”; luôn co ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong
gương mẫu, hiệu quả trong lãnh, chỉ đạo; kịp thời cụ thể hoa và triển khai, quán triệt
đạt chuẩn Quốc gia. Huyện co 01 bệnh viện Đa khoa với 150 giường bệnh, 01 phòng
khám đa khoa khu vực và 15 trạm y tế xã, thị trấn. Đội ngũ cán bộ, thầy thuốc huyện
co trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng và co y đức phục vụ nhân dân.
Về Quốc phòng, an ninh:
Với vị trí là huyện ven biển, co hệ thống kênh ngòi chằng chịt, nên huyện
Đầm Dơi không chỉ co giá trị trong phát triển kinh tế, mà còn co giá trị quan trọng
về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Thực tế những năm qua, tình hình an ninh
chính trị- trật tự an toàn xã hội của huyện luôn được giữ vững. Phong trào bảo vệ
an ninh Tổ quốc và giữ gìn trật tự xã hội, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hoa”, xây dựng mô hình tự quản về an ninh trật tự ở những nơi công
cộng luôn được duy trì thực hiện tốt.
14
* Đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau
Quan niệm:
Đồng bào DTTS ở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau là một bộ phận hợp thành đại
gia đình các dân tộc Việt Nam, bao gồm chủ yếu là các dân tộc: Hoa, Tày, Ê Đê,
Chăm, Mường, Thái, người Khmer, chiếm đại đa số trong cộng đồng dân cư, có
lịch sử truyền thống và sinh sống lâu đời ở huyện Đầm Dơi, là bộ phận dân cư có
nhiều sắc thái văn hóa đặc thù, là lực lượng giữ vị trí, vai trò hết sức quan trọng
trong công cuộc xây dựng và phát triển địa phương về mọi mặt, đồng thời góp phần
làm phong phú thêm văn hóa bản địa của đại phương.
Cơ cấu thành phần:
Dân tộc Khmer: là dân tộc đông nhất, chiếm tỷ lệ 92% dân số trong đồng bào
DTTS ở huyện Đầm Dơi, sống tập trung ở năm xã Tân Duyệt, Thanh Tùng, Quách
Phẩm Bắc, Ngọc Chánh và Trần Phán. Người Khmer co lịch sử truyền thống rất lâu
đời, họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây
Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn
(tỳ bà, nhị, nguyệt...), chập choã... Hát "sơn ca" (sán cố) là hình thức được nhiều
người ưa chuộng, nhất là tầng lớp thanh niên. Tổ chức văn nghệ dân gian truyền
thống mang tính nghiệp dư đã co từ lâu là các "nhạc xã". Múa lân, sư tử, rồng... là
những loại hình nghệ thuật mang tính quần chúng sâu rộng được trình diễn hàng
năm, vào những ngày lễ lớn, ngày lễ tết.
Dân tộc Tày: tỷ lệ dân số chiếm 0,3% trong đồng bào DTTS, sống rải rác
trên địa bàn huyện. Người Tày co mặt ở Việt Nam từ rất sớm, co thể từ nửa cuối
thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các
tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái
Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Sau này, do được xoa bỏ
nhiều tập tục cổ xưa, người Tày được ra khỏi làng, làm ăn xa, gặp gỡ giao lưu với
văn hoa bên ngoài, và do điều kiện kinh tế hoặc cưới hỏi nên cư trú và sống ổn định
tại địa phương khác trong đo co huyện Đầm Dơi. Hàng năm co nhiều ngày tết với
những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7,
cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn
trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức
trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa
nước. Người Tày co nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối
rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối
16
hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong
hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi co khách đến bản. Ngoài
múa trong nghi lễ ở một số địa phương co múa rối với những con rối bằng gỗ khá
độc đáo. Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông,
kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng,
đánh chắt, chơi ô...
Dân tộc Mường: tỷ lệ dân số chiếm 0,05% trong đồng bào DTTS địa bàn
đời ở miền trung Tây Nguyên. Dấu vết về nguồn gốc hảo đảo của dân tộc Ê Đê đã
phản ánh lên từ các sử thi và trong nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình dân
gian. Cho đến nay, cộng đồng Ê Đê vần còn là một xã hội đang tồn tại những truyền
thống đậm nét mẫu hệ ở nước ta. Ngày nay địa bàn cư trú ở tỉnh Đắc Lắc, phía nam
tỉnh Gia Lai và miền tây Phú Yên, Khánh Hòa. Sau này do gia nhập nền kinh tế
phát triển, người Ê Đê đến nơi khác sinh sống, làm ăn và cư trú ổn định. Người Ê
Đê ăn tết vào tháng chạp (tháng 12 lịch âm) khi mùa màng đã thu hoạch xong
(không vào một ngày nhất định, tùy theo từng buôn). Sau tế ăn mừng cơm mới
(hmạ ngắt) rồi mới đến tết (mnăm thun) ăn mừng vào mùa bội thu, đo là tết lớn
nhất, nhà giàu co khi mỗ trâu, bò để cúng tế thần lúa, nhà khác thì mổ lợn gà. Vị
thần lớn nhất là đấng sáng tạo Aê Điê và Aê Đu rồi đến thần đất (yang lăn), thần lúa
(yang mđêi) và các thần khác. Phổ biến quan niệm vạn vật hữu linh. Các vị thần
nông được coi là phúc thần. Sấm, xét, giông bão, lũ lụt và ma quái được coi là ác
thần. Nghi lễ theo đuỗi ca đời người và nghị lễ cầu phúc, lễ mừng sức khỏe cho
từng cá nhân. Ai tổ chức được nhiều nghi lễ lớn hiến sinh bằng nhiều trâu, bò, chè
quý (vò ử rược cần) thì người đo càng được dân làng kính nể. Người Ê Đê co hình
thức kể khan rất hấp dẫn. Về văn chương, khan là sử thi, trường ca cổ xưa; về hình
thức biểu diễn là loại ngâm kể kèm theo một số động tác để truyền cảm. Về dân ca
co hát đối đáp, hát đố, hát kể gia phả …Nền âm nhạc Ê Đê nổi tiếng là bộ cồng
chiêng, gồm sáu ciêng bằng, ba chiêng núm, một chiêng giữ nhịp và một trống cái
mặt da. Không co một lễ hội nào, một sinh hoạt văn hoa nào của cộng đồng, lại co
thể vắng mặt tiếng cồng chiêng. Bên cạnh cồng chiêng là các loại nhạc cụ bằng tre
nứa, vỏ bầu khô như các dân tộc khác ở Trường Sơn, Tây Nguyên, nhưng với ít
nhiều kỹ thuật riêng mang tính độc đáo.
Dân tộc Chăm: tỷ lệ dân số chiếm 0,1% trong đồng bào DTTS địa bàn huyện.
Cư trú tại hai xã Quách Phẩm Bắc và Tân Thuận.
18
nhân tố con người) nhằm hình thành những phẩm chất, kỹ năng nhất định của đối
tượng giáo dục.
Hiểu theo nghĩa hẹp: Giáo dục là quá trình tác động định hướng của nhân tố chủ
quan lên khách thể giáo dục, nhằm truyền bá những kinh nghiệm đấu tranh và sản
xuất, những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, để họ co đầy đủ khả năng tham
gia vào lao động và đời sống xã hội.
Tuy nhiên, khái niệm GDPL co thể tiếp cận theo nghĩa hẹp, dựa trên hai yếu tố
cơ bản như sau: thứ nhất, GDPL là sự hình thành ý thức của con người là một quá
trình chịu ảnh hưởng và sự tác động của các điều kiện khách quan lẫn các nhân tố
chủ quan. Thứ hai: xây dựng khái niệm GDPL dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa "cái
chung" và "cái riêng", "cái đặc thù"; trong mối quan hệ này giáo dục noi chung là
"cái chung" "cái phổ biến" đồng thời cũng là "cái riêng" no vừa phải mang những
đặc điểm chung vừa phải mang tính thể hiện những nét đặc thù của hoạt động giáo
dục. GDPL là phạm trù thuộc về "cái riêng" cái đặc thù trong mối quan hệ với giáo
dục là "cái chung", "cái phổ biến".
Từ hướng tiếp cận như trên co thể quan niệm: Công tác GDPL là hoạt động có
định hướng, có tổ chức, có chủ định của các chủ thể GDPL để cung cấp tri thức
pháp luật, bồi dưỡng tình cảm, niềm tin và hành vi hành động tuân theo pháp luật
cho đối tượng giáo dục nhằm mục đích hình thành ở họ ý thức, niềm tin pháp luật
đúng đắn và thói quen hành động phù hợp với các quy định pháp luật và đòi hỏi
của nền pháp chế XHCN.
Từ khái niệm GDPL noi chung, mặc dù tiếp cận từ goc độ rộng hay hẹp của
giáo dục, thì GDPL cho đồng bào DTTS cũng là hoạt động mang đầy đủ những
thuộc tính chung nhất của giáo dục, tuy nhiên đối với đồng bào DTTS thì hoạt động
này còn co những đặc điểm riêng biệt co tính đặc thù về cả mục đích, nội dung, hình
thức, phương pháp và chủ thể giáo dục.
Theo đo, co thể quan niệm: Công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn
huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau là toàn bộ các hoạt động có mục đích, có chủ trương,
* Nội dung công tác GDPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn
huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau
Pháp luật là một trong những phương tiện hàng đầu để Nhà nước quản lý xã
hội, là công cụ để công dân thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp cũng như nghĩa
21
vụ của mình. Công tác GDPL là khâu đầu tiên trong hoạt động thực thi pháp luật, là
cầu nối truyền tải pháp luật vào cuộc sống. Đây là một hoạt động thường xuyên,
liên tục và lâu dài của chủ thể tác động lên đối tượng giáo dục. Trong những năm
qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm, chú trọng công tác GDPL, nhiều Nghị
quyết quan trọng của Ban chấp hành Trương ương Đảng cộng sản Việt Nam, nhất là
các nghị quyết qua các kỳ Đại hội của Đảng như: Nghị quyết Đại hội V, VI, VII,
VIII, IX, X, XI, XII của Đảng điều xác định vai trò, tầm quan trọng của công tác
GDPL và trách nhiệm của cơ quan đảng, nhà nước và các đoàn thể, tổ chức xã hội
trong việc tuyên truyền, phổ biến, GDPL, tăng cường pháp chế xã hội.
Nội dung công tác GDPL cho đồng bào DTTS ở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau
bao gồm tất cả các khâu, các mặt cụ thể như: từ xác định chủ trương, biện pháp lãnh
đạo, chỉ đạo của các cấp ủy; biện pháp quản lý điều hành của các cấp chính quyền;
quy trình, cách thức tổ chức tiến hành tuyên truyền, phổ biến GDPL của các cơ
quan chức năng, và đội ngũ cán bộ chuyên trách, báo cáo viên, tuyên truyền viên
phổ biến GDPL ở các cấp.
Trong đo, việc xác định, lựa chọn đúng nội dung GDPL; cụ thể hoa xây dựng
GDPL phù hợp với đặc điểm tâm lý, tập quán sinh hoạt và trình độ nhận thức của
Nhân dân đồng bào DTTS trên địa bàn là vấn đề trong tâm, bao trùm toàn bộ công
tác GDPL. Theo đo, nội dung GDPL cho đồng bào DTTS ở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà
Mau phải toàn diện, tuy nhiên từng đối tượng cụ thể cần lựa chọn những nội dung
cụ thể cho thích hợp, song hiện nay cần tập trung co trọng điểm vào tuyên truyền,
phổ biến GDPL cho đồng bào DTTS những nội dung chủ yếu sau:
nội dung chương trình GDPL do trên qui định, chủ động đề ra chủ trương, biện
pháp lãnh đạo chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể, cụ thể hoa và
tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc nội dung, chương trình GDPL do trên quy
định bảo đảm phù hợp với tình hình mọi mặt của địa phương và đặc điểm đồng bào
DTTS; tích cực tuyên truyền giáo dục các chủ trương, chính sách của Đảng, hiến
pháp, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn địa phương, thông qua các hành động
chuẩn mực, mô phạm của các cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đoàn thể trong thực
tiễn để tác động đến nhận thức, niềm tin, hành vi chấp hành pháp luật của đồng bào.
Thông qua các hoạt động của các cơ quan chuyên trách, các báo cáo viên,
tuyên truyền viên và các phương tiện thông tin đại chúng, tích cực tiến hành tổ chức
23
tuyên truyền, phổ biến, GDPL của nhà nước, các quy chế, quy định của địa phương
cho đồng bào dân tộc thiểu số bằng nhiều hình thức, phương pháp phong phú, sinh
động, thiết thực phù hợp với đặc điểm tâm lý, trình độ nhận thức của từng đối tượng
đồng bào, sát với tình hình mọi mặt của địa phương, cơ sở.
Thông qua các hoạt động phong phú, sinh động theo chức năng, nhiệm vụ của
các cấp chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị xã hội và các tổ chức xã hội nghề nghiệp để tuyên truyền GDPL cho đồng bào DTTS.
Tổ chức tốt các hoạt động văn hoa, văn nghệ, các hoạt động tập thể, sinh hoạt
cộng đồng, tôn giáo, lễ hội truyền thống, thông qua các hoạt động này để thu hút,
tập trung đồng bào, qua đo vừa thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt đời sống tinh thần, vừa
kết hợp tuyên truyền, phổ biến, GDPL cho đồng bào DTTS.
Thông qua pháp huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng
viên trong thực hiện cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao theo đúng hiến pháp
và pháp luật để tuyên truyền, phổ biến, GDPL cho đồng bào.
Thông qua các sinh hoạt cộng đồng của từng dân tộc và phát huy vai trò của
những người co uy tín trong cộng đồng các dân tộc, các vị chức sắc, chức việc trong
các tôn giáo để tuyên truyền, GDPL cho giáo dân là đồng bào DTTS.
mới, văn minh, tiến bộ đến với đồng bào, đưa pháp luật đi vào đời sống, sinh hoạt
của đồng bào. Đây là quá trình đấu tranh quyết liệt giữa những giá trị văn hoa mới,
văn minh, tiến bộ với những tập tục cổ hủ, lạc hậu đã ăn sâu, bám rễ vào đời sống
văn hoa, tinh thần của đồng bào. Quá trình đấu tranh này diễn ra hết sức quyết liệt,
phức tạp, không hề đơn giản, đòi hỏi các chủ thể GDPL cần phải kết hợp chặt chẽ
giữa tuyên truyền, phổ biến, GDPL với đấu tranh, phê phán, xoa bỏ những tập tục
lạc hậu, mê tí, dị đoan, những nề thoi không còn phù hợp với nền văn hoa mới, nhất
là những tập tục trái với các quy phạm pháp luật trong các tộc người. Đặc biệt,
trong giai đoạn hiện nay cần tăng cường giáo dục cho đồng bào DTTS nắm vững
Hiến pháp năm 2013 và những văn bản pháp luật mới ban hành, trọng tâm là pháp
luật về dân chủ ở cơ sở, về đời sống văn hoa mới, xây dựng nông thôn mới, đời
sống văn hoa mới; về quốc phòng, an ninh; về hội nhập, mở cửa; về trách nhiệm,
nghĩa vụ của công dân…, đồng thời phải đi đôi với đấu tranh bài trừ mê tín, dị
đoan, kiên quyết xoa bỏ những tập tục phản văn hoa, trái pháp luật để xây dựng lối
sống mới, đời sống văn hoa mới trong đồng bào.
25
Hai là, công tác GDPL cho đồng bào DTTS ở huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau là
giáo dục cho đối tượng đặc thù, đòi hỏi nội dung giáo dục phải hết sức thiết thực, các
chủ thể giáo dục phải hết sức cụ thể, tỉ mỉ và tiến hành kiên trì, thường xuyên liên tục.
Đặc điểm chung của đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Đầm Dơi là trình độ
văn hoa hạn chế, đời sống kinh tế, chính trị, văn hoa tinh thần chậm phát triển so
với các dân tộc đông người. Trình độ kiến thức pháp luật của đồng bào nhìn chung
rất hạn chế, cuộc sống, sinh hoạt cộng đồng chịu sự chi phối trực tiếp, mạnh mẽ bởi
các tập tục đã tồn tại lâu đời; một bộ phận khá đông bào còn chưa am hiểu pháp
luật, chưa thấy rõ vai trò quan trọng của pháp luật trong cuộc sống; ý thức sống và
làm việc theo hiến pháp, pháp luật chưa cao; chưa nắm chắc được quyền, nghĩa vụ
của công dân nên quá trình tham gia vào các quan hệ pháp lý rất hạn chế, phần đông