BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CAO THỊ NGỌC YẾN
PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH NGHỆ AN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ VƢƠNG LONG
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ
và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin
cậy, chính xác và trung thực. Những kết luận
khoa học của luận văn chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số
19
Chương 2: THỰC TRẠNG PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG
BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH NGHỆ AN HIỆN NAY
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Nghệ An
24
24
2.2. Kết quả đạt đƣợc và nguyên nhân của hoạt động phổ biến, giáo dục
pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số
29
2.3. Hạn chế và nguyên nhân của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật
cho đồng bào dân tộc thiểu số
44
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHỔ
BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
THIỂU SỐ Ở TỈNH NGHỆ AN HIỆN NAY
54
3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng
bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Nghệ An
UBND
: Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
bảng
2.1
Thành phần các dân tộc tỉnh Nghệ An
25
2.2
Số lƣợng chƣơng trình tuyên truyền PBGDPL
33
2.3
Kết quả hoạt động của tổ hòa giải cơ sở năm 2013
luật và pháp luật có vị trí tối thƣợng trong đời sống xã hội. Để thực hiện đƣợc điều
đó đòi hỏi các chủ trƣơng, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc phải thực
sự đi vào cuộc sống, trở thành hành vi thực tế, hợp pháp của từng chủ thể, các cơ
quan nhà nƣớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng
và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.
Phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) là cầu nối để chuyển tải pháp luật
vào cuộc sống, là khâu đầu tiên của hoạt động thực thi pháp luật và là phƣơng tiện
không thể thiếu trong việc nâng cao tri thức pháp luật, ý thức tôn trọng, chấp hành
pháp luật của mọi tầng lớp nhân dân. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của hoạt động
PBGDPL, Đảng và Nhà nƣớc ta rất quan tâm và thƣờng xuyên chỉ đạo, tổ chức thực
hiện hoạt động PBGDPL một cách có hiệu quả. Trong rất nhiều văn kiện của Đảng
và pháp luật của Nhà nƣớc đã đề cập đến vấn đề PBGDPL.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI - Đại hội của đƣờng lối đổi mới toàn
diện đất nƣớc khẳng định rõ vai trò của hoạt động PBGDPL:
Coi trọng công tác giáo dục, tuyên truyền, giải thích pháp luật,
đƣa việc dạy pháp luật vào hệ thống các trƣờng của Đảng, của Nhà nƣớc
kể cả các trƣờng phổ thông, đại học, của các đoàn thể nhân dân. Cán bộ
quản lý các cấp từ trung ƣơng đến đơn vị cơ sở phải có kiến thức pháp
luật, cần sử dụng nhiều hình thức và biện pháp để giáo dục, nâng cao ý
thức chấp hành pháp luật và làm tƣ vấn pháp luật cho nhân dân [16].
Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng về
tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động PBGDPL, nâng cao ý thức chấp
hành pháp luật của cán bộ, nhân dân đã khẳng định: “Phổ biến, giáo dục pháp luật là
một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tƣ tƣởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ
2
thống chính trị đặt dƣới sự lãnh đạo của Đảng” [18]. Đặc biệt là sự ra đời của Luật
PBGDPL năm 2012 đã một lần nữa khẳng định vai trò to lớn của PBGDPL và sự quan
3
bào DTTS gặp rất nhiều khó khăn. Bởi vậy, quan tâm PBGDPL cho đồng bào
DTTS nói chung và giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc ở tỉnh Nghệ An nói
riêng là vấn đề cần thiết.
Với mong muốn tìm hiểu và đánh giá thực trạng PBGDPL cho đồng bào
DTTS ở Nghệ An thời gian qua, trên cơ sở đó tìm ra giải pháp để nâng cao hiệu quả
của hoạt động này trong thời gian tới, tôi chọn đề tài “Phổ biến, giáo dục pháp luật
cho đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Nghệ An hiện nay” để nghiên cứu làm luận
văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, PBGDPL là vấn đề hết sức quan trọng. Việc
nghiên cứu về PBGDPL dƣới góc độ khoa học pháp lý đƣợc nhiều nhà khoa học
Việt Nam quan tâm. Có thể khái quát các công trình nghiên cứu đó theo hai nhóm
vấn đề sau:
Nhóm 1: Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về giáo dục pháp luật
và nghiên cứu giáo dục pháp luật trong mối quan hệ với các hiện tượng khác;
nhóm này có một số công trình sau:
- “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong thời kỳ đổi
mới”, Đề tài khoa học cấp Bộ, mã số 92-98-223-ĐT của Viện Nghiên cứu Khoa học
pháp lý, Bộ Tƣ pháp. Đề tài đã làm rõ những vấn đề lý luận cũng nhƣ thực tiễn về
giáo dục pháp luật trong thời kỳ đổi mới, từ đó đƣa ra các giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả giáo dục pháp luật trong điều kiện đổi mới của đất nƣớc ta hiện nay;
- “Bàn về giáo dục pháp luật” của các tác giả Trần Ngọc Đƣờng và Dƣơng
Thanh Mai, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995. Đề tài đã khái quát những mục
tiêu, yêu cầu, nội dung cũng nhƣ các hình thức, phƣơng tiện và phƣơng pháp tổ
chức giáo dục pháp luật phù hợp trong điều kiện đổi mới ở nƣớc ta nhằm nâng cao
ý thức pháp luật và hình thành lối sống theo pháp luật của nhân dân;
- “Ý thức pháp luật và giáo dục pháp luật ở Việt Nam”, Luận án Phó tiến sĩ
luật học, Nguyễn Đình Lộc (bảo vệ ở Liên Xô năm 1977). Luận án làm rõ các khái
Công Sỹ, 2006. Luận văn đã phân tích trên phƣơng diện lý luận về PBGDPL, ý thức
pháp luật, mối liên hệ giữa phƣơng pháp, nội dung, cách thức phổ biến với đặc điểm
đặc thù của thanh thiếu niên DTTS và thực trạng PBGDPL cho đối tƣợng này hiện
nay, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của PBGDPL trong
5
thanh thiếu niên DTTS vùng Tây Bắc.
Các đề tài này đều chỉ đề cập đến PBGDPL ở những khía cạnh khác nhau,
cho các đối tƣợng khác nhau. Tuy nhiên, trong số các công trình trên, chƣa có công
trình nào đề cập riêng về “Phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
thiểu số ở tỉnh Nghệ An hiện nay” nhƣ công trình này.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là PBGDPL cho đồng bào DTTS tỉnh
Nghệ An sinh sống tập trung ở 11 huyện là Kỳ Sơn, Tƣơng Dƣơng, Con Cuông,
Anh Sơn, Tân Kỳ, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Thanh Chƣơng và
Thị xã Thái Hòa.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về ý thức pháp luật và thực trạng PBGDPL
ở 11 huyện, thị xã miền núi có đồng bào DTTS đang cƣ trú tập trung nhất là Kỳ
Sơn, Tƣơng Dƣơng, Con Cuông, Anh Sơn, Tân Kỳ, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ
Hợp, Nghĩa Đàn, Thanh Chƣơng và Thị xã Thái Hòa từ đó nhận định khái quát
chung cho đồng bào DTTS cả tỉnh Nghệ An.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài đƣợc nghiên cứu trên cơ sở phƣơng pháp luận là chủ nghĩa duy vật
biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, đƣờng lối chính sách
của Đảng Cộng sản Việt Nam về PBGDPL. Ngoài ra, luận văn đƣợc nghiên cứu
trên cơ sở sử dụng kết hợp một số phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể nhƣ: phân tích,
luận văn có 3 chƣơng.
Chương 1: Cơ sở lý luận về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân
tộc thiểu số.
Chương 2: Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
thiểu số ở tỉnh Nghệ An hiện nay.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục
pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Nghệ An hiện nay.
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. KHÁI NIỆM, MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1.1. Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
thiểu số
Phổ biến, giáo dục pháp luật là một hoạt động xã hội xuất hiện gắn liền với
sự ra đời của pháp luật, khi pháp luật ra đời thì PBGDPL là cầu nối đƣa pháp luật
tiếp cận với ngƣời dân. Vai trò của pháp luật càng ngày càng đƣợc nâng cao thì hoạt
động PBGDPL càng đƣợc chú trọng.
Trong khoa học pháp lý hiện nay còn nhiều quan điểm, quan niệm khác
nhau về khái niệm PBGDPL, do cách tiếp cận của các tác giả ở các khía cạnh, góc
độ khác nhau. Xét về mặt ngữ nghĩa thì PBGDPL là một từ ghép gồm hai từ: phổ
biến pháp luật và giáo dục pháp luật. Có thể có một số quan niệm sau:
Thứ nhất: "phổ biến là làm cho đông đảo mọi ngƣời biết đến một vấn đề,
một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông qua hình thức nào đó" hoặc
Khi tiến hành bất cứ một hoạt động nào đó, các chủ thể tiến hành luôn đặt
ra những mục đích nhất định mà mình mong muốn đạt đƣợc và hƣớng tới việc thực
hiện những mục đích đó. Do đó việc xác định mục đích của mỗi hoạt động có ý
nghĩa hết sức quan trọng nhằm đánh giá hiệu quả và là cơ sở để xây dựng nội dung,
hình thức phù hợp với mục đích đặt ra.
Mục đích của PBGDPL hiện nay bao gồm:
Một là, hình thành và từng bƣớc mở rộng hệ thống tri thức pháp luật cho
mọi công dân (mục đích nhận thức). Tri thức pháp luật là tiền đề để hình thành nhận
thức đúng đắn và lựa chọn hành vi hợp pháp, tích cực. Tri thức pháp luật không thể
là sự hiểu biết đơn giản, phiến diện về một vài khía cạnh pháp luật nào đó mà nó
mang tính hệ thống, logic. Do đó, PBGDPL là hoạt động có vai trò quan trọng đối
với quá trình mở rộng khối lƣợng tri thức pháp lý, nâng cao khả năng hiểu biết pháp
luật một cách toàn diện, thống nhất đối với chủ thể.
Hai là, hình thành nên lòng tin, tình cảm đối với pháp luật (mục đích cảm
xúc). Mục đích cảm xúc của PBGDPL bao gồm: giáo dục tình cảm công bằng, giáo
dục tình cảm trách nhiệm, giáo dục tình cảm không khoan nhƣợng đối với những
hành vi vi phạm pháp luật và giáo dục tình cảm pháp chế. Lòng tin chỉ có giá trị
đích thực khi nó đem lại thái độ chủ động trong xử sự phù hợp với pháp luật và
đƣợc hình thành trên tri thức pháp luật cần thiết, bởi: “có đƣợc lòng tin vào tính
10
công bằng của pháp luật, con ngƣời sẽ có các hành vi hợp pháp phù hợp với các đòi
hỏi của quy phạm pháp luật một cách độc lập và tự nguyện. Lòng tin vào tính công
bằng của pháp luật sẽ hƣớng dẫn hành vi hợp pháp của con ngƣời” [22].
Ba là, hình thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự hợp pháp, tích cực
(mục đích hành vi). Việc hình thành những thói quen, hành vi hợp pháp do giáo dục
pháp luật mà có thƣờng tồn tại dƣới dạng cụ thể sau: thói quen tuân thủ pháp luật,
thực hiện nghĩa vụ pháp luật và sử dụng pháp luật. Hành vi xử sự của mỗi cá nhân
độ nhận thức thấp nên đối với đồng bào DTTS việc nâng cao nhận thức pháp luật
cho họ cần phải xác định ở mức độ các tri thức pháp luật tối thiểu, căn bản về nhà
nƣớc, pháp luật, quyền và nghĩa vụ của mình trong mối quan hệ với nhà nƣớc, với
công dân khác. Sau những kiến thức cơ bản về nhà nƣớc và pháp luật là những kiến
thức cơ bản về các lĩnh vực mà đồng bào DTTS dễ vi phạm nhiều nhất.
Hai là, mục đích cảm xúc. PBGDPL cho đồng bào DTTS nhằm hình thành
cho họ lòng tin, tình cảm vào pháp luật cũng nhƣ các cơ quan bảo vệ pháp luật có ý
nghĩa quan trọng, vì nếu thiếu điều đó thì dù có hiểu biết về pháp luật cũng dễ hành
động chệch khỏi các chuẩn mực pháp luật vì lợi ích riêng tƣ. Hành vi, xử sự phù
hợp với các quy định của pháp luật của đồng bào DTTS một phần xuất phát từ tình
cảm tự nhiên tuân theo tập quán, khi các tập quán này phù hợp với pháp luật. Tuy
nhiên không phải phong tục, tập quán nào cũng tốt đẹp, cũng phù hợp với những
chuẩn mực của pháp luật, mà bên cạnh đó có những phong tục, tập quán đi ngƣợc
lại với một số chuẩn mực của pháp luật, do đó, để ngƣời dân tiếp nhận, tin vào pháp
luật để thay thế cho một số phong tục, tập quán của cộng đồng mình và thay đổi xử
sự cho phù hợp với pháp luật không phải là điều dễ dàng. Vì thế, muốn hình thành
tình cảm của đồng bào DTTS đối với pháp luật cần phải củng cố những tình cảm tự
nhiên của họ đối với pháp luật, đồng thời xây dựng mới những tình cảm chƣa có
dựa trên sự hiểu biết mới về pháp luật. Việc hình thành lòng tin đối với pháp luật
chính là xây dựng lòng tin của họ đối với Đảng, chính quyền cấp cơ sở.
Ba là, mục đích hành vi. Đối với đồng bào DTTS, hầu hết sự tuân thủ pháp
luật của họ không phải lúc nào cũng thể hiện đúng tình cảm, sự tôn trọng của họ đối
với pháp luật, có thể nói, phần lớn ngƣời dân thƣờng cho rằng “pháp luật” là những
mệnh lệnh mà ngƣời ta cần phải tuân thủ, là hình phạt, là trừng trị… còn một số
ngƣời khác thì cho rằng, pháp luật chỉ là để giải quyết các tranh chấp, vì vậy, ngƣời
dân thƣờng chỉ quan tâm tới pháp luật khi bản thân họ phải rơi vào tình thế sự việc
miễn cƣỡng, lợi ích bị xâm hại, dính líu tới pháp luật (kiện cáo, tranh chấp, bị phạt,
12
không sáng tạo, thêm hoặc bớt từ ngữ, thay đổi từ ngữ của các văn bản. Đối với
13
đồng bào DTTS, khi trình độ văn hóa cũng nhƣ trình độ nhận thức pháp lý còn hạn
chế thì việc nhận biết đƣợc độ chính xác của văn bản là điều rất khó, do đó, nếu văn
bản đƣợc sử dụng không đảm bảo đƣợc tính chuẩn xác, cũng nhƣ tính trung thực thì
sẽ dẫn đến việc gây hiểu lầm, nhận thức sai lệch và dẫn tới những hành vi đi ngƣợc
lại với nội dung văn bản.
Thứ ba, bảo đảm tính đại chúng. Văn bản đƣợc sử dụng PBGDPL phải dễ
hiểu, dễ nhớ, sử dụng những từ ngữ đại chúng, tránh dùng những thuật ngữ khó
hiểu. Đối với cộng đồng DTTS, khi PBGDPL cần sử dụng những hình thức,
phƣơng pháp phù hợp với trình độ văn hóa, nhận thức, cần phải giải thích từ ngữ
trong các văn bản luật dựa trên việc sử dụng ngôn ngữ thông dụng trong đời sống
thƣờng ngày của đồng bào.
Thứ tư, các hình thức PBGDPL phải phù hợp với nhu cầu, lứa tuổi, trình độ
của đối tƣợng đƣợc PBGDPL và truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân
tộc. PBGDPL phải biết lồng ghép với những hoạt động phục vụ đời sống tinh thần
của đồng bào, biết cách tận dụng tối đa các phong tục, tập quán tốt đẹp để hoạt động
PBGDPL đạt hiệu quả tốt hơn.
Thứ năm, phải gắn việc PBGDPL với thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của cộng đồng DTTS. Ở mỗi địa phƣơng tùy theo những đặc trƣng, tình hình
cụ thể mà đƣa ra những chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội khác nhau. Các hoạt
động khác trong phạm vi địa phƣơng đó đều hƣớng tới việc thực hiện những mục
tiêu chung của địa phƣơng, vì thế, PBGDPL phải đƣợc thực hiện phù hợp với nhiệm
vụ đó. Việc nâng cao nhận thức pháp luật sẽ đóng góp vào việc hoàn thành mục tiêu
kinh tế - xã hội của địa phƣơng đã đƣợc đề ra.
1.2. CHỦ THỂ, ĐỐI TƢỢNG CỦA PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
môn, nghiệp vụ của mình, hoặc lồng ghép hoạt động PBGDPL với các hoạt động xã
hội nhƣ: Cơ quan, tổ chức (Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân; Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; tổ chức hành nghề về pháp
luật; cơ sở đào tạo luật; các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân...); cá nhân
(đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp; cán bộ, công chức,
viên chức và cán bộ, chiến sĩ trong lực lƣợng vũ trang nhân dân; già làng, trƣởng bản...).
Đối với đồng bào DTTS thì trong đời sống văn hóa - xã hội của họ vai trò
của trƣởng bản, già làng, những ngƣời có uy tín trong cộng đồng các DTTS có ảnh
hƣởng rất lớn. Những ngƣời có uy tín trong cộng đồng DTTS:
15
Là ngƣời tiêu biểu, có ảnh hƣởng trong dòng họ dân tộc, thôn và
cộng đồng dân cƣ nơi cƣ trú; có mối liên hệ chặt chẽ, gắn bó với đồng
bào dân tộc, hiểu biết về văn hóa truyền thống, phong tục, tập quán dân
tộc; có khả năng quy tụ, tập hợp đồng bào dân tộc thiểu số trong phạm vi
nhất định, đƣợc ngƣời dân trong cộng đồng tín nhiệm, tin tƣởng, nghe và
làm theo [15].
Do đó, họ nhƣ là một biểu tƣợng, là chỗ dựa tinh thần của cộng đồng DTTS,
họ đóng vai trò “kép”, vừa là đối tƣợng vừa là chủ thể PBGDPL. Vì vậy, cần thu
hút và tranh thủ sự ủng hộ của họ trong PBGDPL là rất cần thiết. Pháp luật Việt
Nam cũng đã ghi nhận vai trò của các chủ thể này, đồng thời tạo điều kiện để các
chủ thể này tham gia một cách tích cực vào hoạt động PBGDPL.
1.2.2. Đối tƣợng của phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc
thiểu số
Đối tƣợng của PBGDPL là các cá nhân hay các nhóm, cộng đồng dân cƣ
trực tiếp hay gián tiếp nhận đƣợc những tác động của các hoạt động PBGDPL do
các chủ thể PBGDPL tiến hành nhằm đạt đƣợc các mục đích đề ra. Các đối tƣợng sẽ
có những đặc điểm khác nhau về trình độ nhận thức, về tâm lý, nghề nghiệp, lứa
xác định bao gồm phạm vi tƣơng đối rộng, đó là:
- Các thông tin về pháp luật, gồm cả kiến thức cơ bản và văn bản pháp luật
thực định; các thông tin về việc thực hiện pháp luật, về tình hình vi phạm pháp luật
và tội phạm, về việc điều tra, xử lý các vi phạm pháp luật.
- Các thông tin liên quan đến kết quả nghiên cứu, điều tra xã hội học về
thực hiện, áp dụng pháp luật; về vị trí, tác động của từng văn bản pháp luật đối với
đời sống kinh tế xã hội, đối với từng đối tƣợng; phản ánh những nhu cầu, nguyện
vọng, ý kiến, đề xuất của nhân dân, của các chuyên gia pháp luật và các ngành khác
trong việc xây dựng, thực hiện và hoàn thiện pháp luật.
- Các thông tin hƣớng dẫn hành vi pháp luật cụ thể của công dân nhƣ:
Quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, các quy trình, thủ tục để bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp…
Tuy nhiên, trong thực tiễn, nội dung chủ yếu của PBGDPL đƣợc xác định
theo những cấp độ khác nhau tùy thuộc từng loại đối tƣợng, phù hợp với những nhu
cầu, đặc điểm của đối tƣợng mà hoạt động giáo dục pháp luật hƣớng tới. Nội dung
PBGDPL theo quy định của Luật PBGDPL năm 2012 bao gồm nội dung chung cho
công dân và nội dung cho một số đối tƣợng đặc thù.
17
Nội dung PBGDPL chung cho công dân bao gồm:
- Quy định của Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm là các
quy định của pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, bình
đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trƣờng, lao động, giáo dục, y tế, quốc
phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền hạn và
trách nhiệm của cơ quan nhà nƣớc, cán bộ, công chức, các văn bản quy phạm pháp
luật mới đƣợc ban hành.
- Các điều ƣớc quốc tế mà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên, các thỏa thuận quốc tế.
tài liệu pháp luật; thông qua các phƣơng tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh,
internet, pa-nô, áp-phích, tranh cổ động; đăng tải trên Công báo; đăng tải thông tin
pháp luật trên trang thông tin điện tử; niêm yết tại trụ sở, bảng tin của cơ quan, tổ
chức, khu dân cƣ; tổ chức thi tìm hiểu pháp luật; thông qua công tác xét xử, xử lý vi
phạm hành chính, hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công
dân và hoạt động khác của các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc; thông qua hoạt
động trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở; lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn
nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị và các đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật
và các thiết chế văn hóa khác ở cơ sở; thông qua chƣơng trình giáo dục pháp luật
trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân; các hình thức PBGDPL
khác phù hợp với từng đối tƣợng cụ thể mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền có thể áp dụng để bảo đảm cho công tác PBGDPL đem lại hiệu quả (Điều 11,
Luật PBGDPL năm 2012).
Để hoạt động PBGDPL đƣa lại hiệu quả tốt nhất thì việc lựa chọn và sử
dụng cách thức PBGDPL cho đồng bào DTTS cũng cần phải dựa trên những căn cứ
khác nhau nhƣ: căn cứ vào mục tiêu; căn cứ vào nội dung giáo dục; căn cứ vào đặc
điểm của đồng bào; lựa chọn phƣơng pháp phải phù hợp với chủ thể, đối tƣợng
PBGDPL; thời gian, thời lƣợng; các điều kiện đảm bảo thực hiện các phƣơng pháp
đó trên thực tế...
Đối với hoạt động PBGDPL cho ngƣời dân ở vùng DTTS cần đƣợc chú
trọng thực hiện thông qua hòa giải ở cơ sở, trợ giúp pháp lý lƣu động; tƣ vấn pháp
luật, cung cấp miễn phí thông tin, tài liệu pháp luật bằng tiếng dân tộc cho đồng bào
DTTS; lồng ghép PBGDPL trong các hoạt động văn hóa truyền thống.
19
1.4. HIỆU QUẢ VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ PHỔ
BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
20
tƣợng xã hội nhất định. Đó chính là các lợi ích xã hội đạt đƣợc do thực hiện các quy
định pháp luật của các đối tƣợng đƣợc PBGDPL. Hiệu quả xã hội của PBGDPL phụ
thuộc rất nhiều vào chất lƣợng của các quy định pháp luật mà cụ thể là tính hợp lý,
công bằng, sự thể hiện các loại lợi ích của cá nhân, cộng đồng, xã hội. Hiệu quả xã
hội của PBGDPL còn đƣợc thể hiện trên một phạm vi rộng hơn, lan tỏa ra cả những
ngƣời xung quanh chứ không chỉ đối với những ngƣời đƣợc trực tiếp PBGDPL.
Đây cũng chính là giá trị to lớn của PBGDPL. Pháp luật chỉ có hiệu lực thực sự khi
đƣợc mọi ngƣời dân tiếp nhận và thi hành một cách tự giác.
Theo quan điểm của PGS.TS. Nguyễn Minh Đoan thì hiệu quả PBGDPL
cần đƣợc xem xét cả ở chi phí đầu tƣ về vật chất, thời gian, công sức... sự tƣơng
quan giữa chi phí đầu tƣ và kết quả đạt đƣợc chính là biểu hiện rõ nhất của hiệu quả
cũng nhƣ tính cần thiết của hoạt động PBGDPL. Để đánh giá hiệu quả này trong
giai đoạn hiện nay thì cần chú trọng những tiêu chí cơ bản sau: mục đích, mục tiêu,
yêu cầu của hoạt động PBGDPL; những kết quả thực tế do hoạt động PBGDPL
mang lại; những chi phí cho quá trình tiến hành hoạt động PBGDPL.
Kết hợp hai quan điểm trên về các tiêu chí đánh giá hiệu quả PBGPL có thể
thấy rằng hiệu quả PBGDPL cho đồng bào DTTS thể hiện ở chỗ với điều kiện cơ sở
vật chất không quá ít, cũng không quá nhiều; kinh phí để thực hiện PBGDPL tiết
kiệm nhất; đội ngũ nguồn nhân lực không quá đông; thời gian giành cho PBGDPL
không nhiều... nhƣng có thể tác động đến toàn bộ đồng bào DTTS nhằm đạt đƣợc
mục đích của PBGDPL (nâng cao nhận thức pháp luật, thái độ, tình cảm với pháp
luật và hình thành hành vi xử sự hợp pháp trên thực tế). Ngoài ra, hiệu quả
PBGDPL cho đồng bào DTTS còn thể hiện ở các lợi ích xã hội đạt đƣợc do thực
hiện các quy định pháp luật của đồng bào DTTS và phạm vi tác động của nó.
1.4.2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật
cho đồng bào dân tộc thiểu số
Phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào DTTS đó là cả một quá trình và
trong quá trình đó có nhiều yếu tố ảnh hƣởng, tác động đến hiệu quả của hoạt động