TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2008 – 2012
Đề Tài
TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở HẬU GIANG
Cán bộ hướng dẫn
Nguyễn Hữu Lạc
Bộ môn: Luật hành chính
Sinh viên thực hiện
Thị Mỹ Anh
MSSV: 5085786
Lớp: Tư pháp 1- k34
Cần Thơ
Tháng 5/2012
NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
. ...........................................................................................................................................
. ...........................................................................................................................................
. ...........................................................................................................................................
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
Hậu Giang ...................................................................................................................... 19
2.2. Đặc điểm tình hình địa lý tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Hậu Giang................. 23
2.2.1.
Đặc điểm vị trí địa lý .................................................................................... 23
2.2.2.
Đặc điểm dân cư .......................................................................................... 24
2.2.3.
Đặc điểm kinh tế - xã hội ............................................................................. 24
2.2.4.
Về văn hóa - xã hội ...................................................................................... 25
2.2.5. Về giáo dục và y tế .............................................................................................. 28
2.3. Thực trạng tuyên truyền, giáo dục pháp luật......................................................... 29
2.3.1. Khái quát tình hình thực trạng tuyên truyền, giáo dục pháp luật ..................... 29
2.3.1.1. Thực trạng về đối tượng............................................................................... 29
2.3.1.2. Thực trạng về chủ thể................................................................................... 32
1
2.3.2. Đánh giá thực trạng công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở tỉnh Hậu
Giang........................................................................................................................... 34
2.4. Trách nhiệm tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật của các cơ quan nhà nước
dân, do dân, vì dân, với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh”. Không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường pháp
chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao dân trí và trình độ hiểu biết pháp luật cho mọi thành
viên trong xã hội.
Cùng với việc chú trọng xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ,
Nhà nước đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm đưa pháp luật đi vào cuộc sống, bảo đảm
cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm minh, thống nhất và công bằng. Một
trong những biện pháp có tầm quan trọng đặc biệt đó là tuyên truyền phổ biến, giáo
dục pháp luật. Đây là một biện pháp không thể thiếu được trong quá trình xây dựng và
thực hiện pháp luật, nhằm hình thành một cách bền vững ý thức tôn trọng pháp luật,
thực hiện “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” của người dân.
Hậu Giang là một tỉnh được chia tách từ tỉnh Cần Thơ (cũ) theo Nghị Quyết số
22/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội khoá XI và Nghị định số
05/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 01 năm 2004 của Chính phủ.
Theo Quyết định số 301/2006/QĐ-UBDT ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Ủy
ban Dân tộc về việc công nhận 3 khu vực vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo
trình độ phát triển và Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 3 năm 2007 của
Thủ tướng Chính phủ thì tỉnh Hậu Giang có 21 xã, 31 ấp đồng bào dân tộc thiểu số
thuộc khu vực II. Đa số đồng bào dân tộc thiểu số ở Hậu Giang chủ yếu sinh sống ở
vùng sâu, vùng xa, vì vậy, các điều kiện để tiếp nhận thông tin, nhất là thông tin pháp
lý, văn bản pháp luật rất hạn chế cho nên ý thức pháp luật không cao, nhiều vụ vi
phạm Luật hình sự, Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Giao thông đường
bộ và đường thủy… thường xuyên xảy ra với mức độ ngày càng nghiêm trọng làm ảnh
hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh.
Vấn đề đặt ra hiện nay là phải tăng cường tuyên truyền phổ biến, giáo dục đưa
pháp luật vào cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số, để họ hiểu và làm theo pháp
luật, giảm bớt những hủ tục lạc hậu, những vụ vi phạm pháp luật qua đó nâng cao đời
sống vật chất và văn hoá tinh thần, góp phần ổn định tình hình an ninh, trật tự ở địa
phương. Với những lý do trên người viết chọn vấn đề: “tuyên truyền, giáo dục pháp
với thực tế để tìm hiểu, quan sát và thu thập những giá trị thực tiễn để tạo nên bài viết.
5. Kết cấu đề tài
Trong đề tài ngoài lời nói đầu, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo thì đề tài
có bố cục như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho
nhân dân các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay.
Chương 2: Thực trạng tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào
dân tộc thiểu số ở tỉnh Hậu Giang.
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp cơ bản của việc tăng cường tuyên
truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Hậu Giang.
Cán Bộ Hướng Dẫn: Nguyễn Hữu Lạc
2
Sinh Viên Thực Hiện: Thị Mỹ Anh
Tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Hậu Giang
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT CHO NHÂN DÂN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về tuyên truyền, giáo dục pháp luật
1.1.1.Khái niệm tuyên truyền, giáo dục pháp luật
1.1.1.1. Khái niệm tuyên truyền
Tuyên truyền, theo tiếng La tinh (Prataganda) là truyền bá, truyền đạt một quan
điểm nào đó. Thuật ngữ tuyên truyền được sử dụng để biểu đạt các hoạt động nhằm tác
động đến suy nghĩ, tư tưởng của người khác và định hướng hành động của họ theo một
khuynh hướng nhất định.
Theo Đại từ điển bách khoa toàn thư Liên Xô (cũ), thuật ngữ tuyên truyền có hai
cũng đồng thời xuất hiện hoạt động tuyên truyền. Tuyên truyền gắn liền với các hình
thái kinh tế - xã hội khác nhau. Ngôn ngữ chính là phương tiện truyền thông sơ khai
nhưng quan trọng bậc nhất của con người. Qua những tín hiệu âm thanh giản đơn, con
người có sự trao đổi tình cảm, tạo sự giao tiếp trong sinh hoạt, lao động sản xuất. Hoạt
động tuyên truyền chính là hoạt động của con người tác động đến con người. Vì vậy
nó là hoạt động xã hội đặc biệt, bởi chủ thể tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền đều
là con người.
1.1.1.2. Khái niệm giáo dục pháp luật
Giáo dục pháp luật là vấn đề lý luận cơ bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
khoa học giáo dục cũng như trong sự nghiệp giáo dục ở nước ta. Khái niệm giáo dục
pháp luật thường được quan niệm là một dạng hoạt động gắn liền với việc triển khai
thực hiện pháp luật cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Chính vì vậy, quan
niệm về giáo dục pháp luật ở nước ta vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Song để có một
cách nhìn nhận đúng đắn khoa học về giáo dục pháp luật, trước hết chúng ta cần xem
xét một số quan niệm về giáo dục pháp luật cơ bản sau đây:2
- Quan niệm thứ nhất cho rằng: Giáo dục pháp luật là một bộ phận của giáo dục
chính trị tư tưởng, đạo đức. Theo quan niệm này khi tiến hành giáo dục chính trị tư
tưởng, các quan điểm, đường lối chủ trương của Đảng cho nhân dân thì tự nó sẽ hình
thành nên ý thức pháp luật. Điều đó có ý nghĩa là khi làm tốt công tác giáo dục chính
trị tư tưởng, giáo dục đạo đức sẽ đạt được sự tôn trọng pháp luật của nhân dân. Hay
nói cách khác, sự hình thành ý thức pháp luật là hệ quả tất yếu của việc giáo dục chính
trị tư tưởng hay giáo dục đạo đức.
- Quan niệm thứ hai: Xem giáo dục pháp luật chỉ đơn thuần là hoạt động phổ
biến tuyên truyền, giải thích pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng
như đài phát thanh, truyền hình và sách báo. Chỉ cần làm tốt công tác thông tin tuyên
truyền pháp luật như vậy là có thể làm tốt công tác giáo dục pháp luật.
- Quan niệm thứ ba cho rằng: Giáo dục pháp luật là lấy “trừng trị” để giáo dục
người vi phạm và răn đe giáo dục người khác. Thông qua việc xử lý hành vi vi phạm
1
trong quan niệm thứ nhất; việc hình thành nên ý thức pháp luật của con người được
xem là sản phẩm của quá trình giáo dục chính trị tư tưởng hay giáo dục đạo đức. Nếu
quan niệm như vậy thì vấn đề sẽ không được coi trọng đúng mức, do vậy không được
đặt ra một hoạt động độc lập. Chính quan niệm này trong thực tiễn đã gây ra một hậu
quả kéo dài trong nhiều năm nay ở nước ta dẫn đến không có nội dung, chương trình
giáo dục pháp luật; pháp luật không đến với người dân nên ý thức pháp luật trong xã
hội thấp kém.
Quan niệm thứ hai coi giáo dục pháp luật thực chất là những đợt tuyên truyền, cổ
động không mang tính thường xuyên, liên tục với nội dung, chương trình cụ thể theo
mùa vụ, mỗi khi các văn bản pháp luật mới được ban hành. Khi sửa đổi Hiến pháp, sửa
đổi Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự… thì Nhà nước tổ chức tuyên truyền theo đợt.
Quan niệm giáo dục pháp luật như vậy là thiếu đồng bộ, thiếu liên tục nên hiệu quả
giáo dục không cao.
Các quan niệm thứ ba, thứ tư cũng đều bọc lộ những khiếm khuyết nên trong
thực tiễn đã không tạo ra khả năng triển khai hoạt động giáo dục một cách rộng rãi. Có
thể nói các ý kiến trên khó có thể khái quát một cách đầy đủ nội hàm của khái niệm
này.
Trong khoa học sư phạm thì giáo dục được hiểu theo hai nghĩa đó là nghĩa rộng
và nghĩa hẹp.
Cán Bộ Hướng Dẫn: Nguyễn Hữu Lạc
5
Sinh Viên Thực Hiện: Thị Mỹ Anh
Tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Hậu Giang
- Theo nghĩa rộng: Giáo dục là sự ảnh hưởng, tác động của những điều kiện
khách quan (như chế độ xã hội, trình độ phát triển kinh tế, môi trường sống…) và của
C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 1995.
Nguyễn Minh Đoan, ý thức pháp luật, Nxb Tư Pháp, năm 2008, Tr. 168.
5
Phạm Hàn Lâm, “Giáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc ít người ở tỉnh Đắk Lắk - Thực trạng và giải
pháp”, luận văn Thạc sĩ luật học, năm 2001, tr. 14 - 15 - 16.
4
Cán Bộ Hướng Dẫn: Nguyễn Hữu Lạc
6
Sinh Viên Thực Hiện: Thị Mỹ Anh
Tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Hậu Giang
pháp luật, mục đích đặt ra là không ngừng nâng cao nhận thức về Nhà nước, về pháp
luật và đặc biệt là về pháp luật thực định. Trong điều kiện ở nước ta hiện nay, thực tế
cho thấy rằng Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao dân trí, nhất
là dân trí pháp lý. Tuy nhiên, do đặc điểm và điều kiện ở một số vùng sâu, vùng xa nên
nhân dân các dân tộc ít người có hạn chế về hiểu biết pháp luật. Vì thế việc xác định
đúng đắn mục đích tuyên truyền giáo dục pháp luật có ý nghĩa thực tiễn đặc biệt quan
trọng.
- Hai là: Hình thành, làm sâu sắc và từng bước mở rộng hệ thống tri thức pháp
luật cho đối tượng. Thông qua tuyên truyền giáo dục pháp luật, người tuyên truyền
giáo dục được trang bị những tri thức cơ bản về pháp luật như giá trị của pháp luật, vai
trò điều chỉnh của pháp luật, các chuẩn mực pháp luật trong từng lĩnh vực đời sống.
Hình thành tri thức pháp luật là nền móng cơ bản để xây dựng tình cảm pháp luật.
Trên cơ sở kiến thức pháp luật được trang bị đã hình thành mở rộng và làm sâu sắc tri
thức pháp luật, giúp người dân am hiểu hơn về pháp luật và biết cách đánh giá một
theo chức năng nhiệm vụ của mình tham gia vào việc truyền thụ, tuyên truyền phổ
biến pháp luật như giảng dạy, trình bày, giải thích pháp luật được gọi là chủ thể, những
người được truyền thụ học tập, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật gọi là đối tượng.
1.2.3.1. Chủ thể của tuyên truyền, giáo dục pháp luật
Trong lý luận và giáo dục học chủ thể của tuyên truyền, giáo dục pháp luật là
những thầy giáo, cô giáo và tất cả những người làm công tác tuyên truyền khác. Theo
từ điển Tiếng Việt: chủ thể nói chung được hiểu “là đối tượng gây ra hành động mang
tính tác động trong quan hệ đối lập với đối tượng bị chi phối bởi hành động tác động,
gọi là khách thể”.6 Vận dụng vào công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, ta có thể
hiểu thế nào là chủ thể của tuyên truyền, giáo dục pháp luật. Hay nói cách khác, chủ
thể của tuyên truyền pháp luật được hiểu là tất cả những người, mà theo chức năng,
nhiệm vụ hay trách nhiệm xã hội, đã tham gia góp phần vào việc thực hiện các mục
tiêu tuyên truyền, giáo dục pháp luật. Việc xác định chủ thể, đối tượng tuyên truyền
giáo dục pháp luật có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn. Trong mối quan hệ và sự tác
động qua lại giữa chủ thể và đối tượng trong quá trình tuyên truyền giáo dục pháp luật,
chủ thể khi tiến hành mọi hoạt động tuyên truyền thì sự tác động đó có ý thức, có mục
đích, có kế hoạch hướng đến đối tượng tuyên truyền giáo dục. Trên cơ sở đó, chủ thể
xác định những nhu cầu, khả năng và điều kiện tiếp nhận tác động tuyên truyền, giáo
dục pháp luật của đối tượng cũng như các yêu cầu đòi hỏi khách quan với các chủ thể
tuyên truyền trong việc xác định nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp để tiếp
cận tuyên truyền và tiến hành tuyên truyền có hiệu quả nhất.
1.2.3.2. Đối tượng của tuyên truyền, giáo dục pháp luật
Vấn đề đối tượng của tuyên truyền, giáo dục pháp luật có quan hệ chặt chẽ với
chủ thể, vì chủ thể khi tiến hành hoạt động tuyên truyền thì phải xác định đối tượng là
ai, cơ quan, tổ chức hay cá nhân, công dân nào, trình độ tuổi tác. Trên cơ sở xác định
đúng đắn đối tượng cần tuyên truyền thì chủ thể mới lựa chọn hình thức và phương
pháp thích hợp. Chẳng hạn đối tượng là cán bộ, công chức Nhà nước thì khi tuyên
truyền, giáo dục phải khác với nhân dân các dân tộc ít người. Có như vậy, chủ thể mới
mang lại hiệu quả cao trong công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật.
Đối tượng của tuyên truyền, giáo dục pháp luật có thể là những cá nhân công dân,
giáo dục pháp luật cho đối tượng cán bộ công chức là một vấn đề vừa cấp bách vừa lâu
dài, phải thường xuyên, liên tục mới có thể đáp ứng đòi hỏi của quá trình quản lý nhà
nước bằng pháp luật ở nước ta.
- Học sinh, sinh viên: Đối tượng này là những công dân trẻ, khỏe, thông minh và
sáng tạo, là chủ nhân tương lai của đất nước. Học sinh, sinh viên đang thực sự là lực
lượng xung kích trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, công nghệ. Tuy nhiên, ý thức
pháp luật của họ vẫn còn nhiều hạn chế. Do vậy tình trạng vi phạm pháp luật đã xảy ra
trong các trường học hiện nay rất đáng kể cũng như ngoài xã hội. Các tệ nạn xã hội
như ma túy, cờ bạc, lối sống buông thả… phần nhiều lại do thanh thiếu niên mác phải.
Vì thế tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho đối tượng học sinh - sinh viên cũng là một
yêu cầu khách quan của xã hội đang được Nhà nước ta thật sự quan tâm và coi trọng.
Có như vậy, học sinh, sinh viên sau khi ra trường sẽ có kiến thức khoa học vững vàng,
có lối sống lành mạnh và ý thức pháp luật được nâng cao.
- Các chủ doanh nghiệp, người quản lý, cán bộ công đoàn ở các doanh nghiệp:
Trong sự nghiệp đổi mới nền kinh tế ở nước ta, chính sách phát triển kinh tế nhiều
thành phần của Đảng và Nhà nước ta là nhất quán ổn định lâu dài. Nhà nước tạo ra
môi trường pháp luật bình đẳng nhằm bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp cũng như sự
tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp trong mọi thành phần kinh tế. Song, Nhà
Cán Bộ Hướng Dẫn: Nguyễn Hữu Lạc
9
Sinh Viên Thực Hiện: Thị Mỹ Anh
Tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Hậu Giang
nước cũng đòi hỏi nghiêm ngặt các doanh nghiệp, các thương nhân phải hoạt động sản
xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật. Tuy nhiên trên thực tế việc sản xuất, kinh
doanh vẫn bị ảnh hưởng của cơ chế cũ và trật tự lỏng lẽo. Bởi không ít các doanh
nghiệp, các thương nhân, đặc biệt là những người sản xuất nhỏ hay làm kinh tế gia
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật Hà Nội, 1991, tr. 25.
Cán Bộ Hướng Dẫn: Nguyễn Hữu Lạc
10
Sinh Viên Thực Hiện: Thị Mỹ Anh
Tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Hậu Giang
Việc xác định nội dung của tuyên truyền, giáo dục pháp luật là vấn đề đặc biệt
quan trọng. Nói chung nó là một phạm vi rộng bao gồm kiến thức pháp luật cơ bản
như lý luận khoa học về pháp luật, các nghành luật, các văn bản pháp luật thực định.
Ngoài ra, nội dung của tuyên truyền, giáo dục pháp luật còn bao hàm các thông tin về
việc thực hiện pháp luật, về việc điều tra, xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, cả
về nghiên cứu điều tra xã hội học pháp luật. Các thông tin hướng dẫn hành vi pháp luật
cụ thể của công dân như thực hiện quyền và nghĩa vụ theo pháp luật, các quy định và
thủ tục để bảo vệ các lợi ích của Nhà nước và xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp
tập thể và công dân. Đối với nhân dân ở nước ta nói chung và ở tỉnh Hậu Giang nói
riêng, theo người viết nội dung của tuyên truyền, giáo dục pháp luật cụ thể là:8
- Đối với nông dân: Tập trung phổ biến, hướng dẫn các trình tự, thủ tục thực hiện
các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, trong đó chú trọng quyền liên quan đến
việc chuyển quyền sử dụng đất như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế
chấp quyền sử dụng đất; giao đất, thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
giải tỏa, đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất; xử lý vi phạm hành chính, giải
quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong quản lý, sử dụng đất đai; nghĩa vụ nộp thuế,
bảo vệ đê điều, các công trình thủy lợi.
- Đối với đồng bào dân tộc thiểu số: Tập trung phổ biến, hướng dẫn thực hiện các
quy định pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, các trình tự, thủ tục về giao đất rừng,
nhiệm của mình trước pháp luật, khắc phục và loại bỏ tư tưởng coi pháp luật là một cái
gì đó trừu tượng, ít gắn bó đến cuộc sống hằng ngày và từ đó tự tước bỏ quyền làm
chủ và tự tách mình ra khỏi xã hội. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã
đặt ra: “kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc, đẩy
lùi tiêu cực, bất công và các tệ nạn xã hội”.10 Mục tiêu phương hướng đó chỉ đạt được
khi mà công tác tuyên truyền được chú trọng thường xuyên, và trình đội dân trí của
mỗi thành viên trong xã hội không ngừng được nâng cao.
Như đã đề cập ở trên, việc xác định nội dung tuyên truyền phải dựa trên nhu cầu,
điều kiện, đặc điểm của đối tượng được tuyên truyền giáo dục mới có hiệu quả. Trên
thực tế, nội dung của tuyên truyền, giáo dục pháp luật phù hợp hay không còn phải căn
cứ vào thực trạng ý thức pháp luật của người dân, vào điều kiện, khả năng tiếp thu của
họ để xác định nội dung tuyên truyền cho phù hợp với người dân.
Đối với đồng bào các dân tộc ít người ở Hậu Giang, ngoài những nội dung tuyên
truyền, giáo dục pháp luật nêu trên, Nhà nước cần hướng dẫn nhân dân thực hiện các
tập quán sinh hoạt tốt đẹp, các luật tục còn phù hợp với pháp luật Nhà nước. Đồng thời
chỉ ra cho nhân dân thấy được những hủ tục lạc hậu, những luật tục trái với lợi ích
cộng đồng và trái với pháp luật Nhà nước trong điều kiện đổi mới hiện nay.
1.1.4.2. Hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục pháp luật
Tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật được hiểu là hoạt động có định hướng,
có tổ chức, có chủ định nhằm đạt mục đích hình thành ở đối tượng được tác động tri
thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với đòi hòi của hệ thống pháp luật hiện
hành, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội và nâng
cao trình độ văn hoá pháp lý của công dân. Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật là
cách thức tổ chức hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, cách tiến hành một hoạt
động cụ thể để đạt được mục đích hình thành ở đối tượng tình cảm, tri thức và hành vi
pháp lý phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật.
Đối tượng tuyên truyền, giáo dục pháp luật một khi đã tiếp nhận được tri thức
pháp luật và làm biến đổi về chất trong nhận thức của họ thì bản thân mục đích và
nội dung của tuyên truyền pháp luật không thể tự nó đi vào nhận thức. Vấn đề là ở
Phương pháp giảng dạy pháp luật là cách thức, biện pháp mà chủ thể sử dụng
để truyền đạt nội dung pháp luật tác động đến đối tượng nhằm mục đích nâng cao
nhận thức pháp luật, tình cảm và lòng tin cũng như thói quen xử sự theo pháp luật.
1.2. Khái quát chung về các dân tộc Việt Nam
1.2.1. Đại gia đình các dân tộc Việt Nam
Cả nước hiện có 54 dân tộc anh em. Trong số 54 dân tộc, có những dân tộc vốn
sinh ra và phát triển trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thưở sơ khai, có những dân tộc từ
nơi khác lần lượt di cư đến nước ta. Do vị trí địa lý nước ta có điều kiện giao lưu hết
sức thuận lợi với các nước bạn nên nhiều dân tộc ở các nước xung quanh vì nhiều
nguyên nhân đã di cư từ Bắc xuống, từ Nam lên, từ Tây sang, chủ yếu từ Bắc xuống,
rồi định cư trên lãnh thổ nước ta. Những đợt di cư nói trên kéo dài mãi cho đến trước
11
Trần Ngọc Đường - Dương Thị Thanh Mai, Bàn về giáo dục pháp luật, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995,
tr. 75.
12
Thông tư của Bộ Tư Pháp số 01/2003/TT-BTP ngày 14 tháng 3 năn 2003 hướng dẫn thực hiện quyết định số
13/2003/QĐ-TTg ngày 17/1/2003 của Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt chương trình phổ biến, giáo dục pháp
luật từ năm 2003 đến năm 2007, Phần II. Về kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật của bộ, nghành, địa phương.
Cán Bộ Hướng Dẫn: Nguyễn Hữu Lạc
13
Sinh Viên Thực Hiện: Thị Mỹ Anh
Tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Hậu Giang
Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thậm chí có bộ phận dân cư còn chuyển đến nước
[Truy cập
ngày 12 – 12 – 2011].
14
Trang tin điện tử, Đại gia đình các dân tộc Việt Nam,
[truy cập ngày 12-12-2011].
15
Nguyễn Đức Bình, Mấy vấn đề lớn trong nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 về văn hóa, tạp chí Cộng sản, số
16, năm 1998, tr. 98.
Cán Bộ Hướng Dẫn: Nguyễn Hữu Lạc
14
Sinh Viên Thực Hiện: Thị Mỹ Anh
Tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Hậu Giang
Thống nhất trong đa dạng là nét riêng, độc đáo của nền văn hoá các dân tộc Việt Nam.
Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam trong thời kỳ mới phải hướng vào
việc củng cố và tăng cường sự thống nhất, nhân lên sức mạnh tinh thần chung của toàn
dân tộc. Ðồng thời phải khai thác và phát triển mọi sắc thái và giá trị văn hoá của các
dân tộc, đáp ứng nhu cầu văn hoá tinh thần ngày càng cao và nhu cầu phát triển từng
dân tộc.
Thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc của Đảng, các dân tộc vốn gắn bó với
nhau trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, nay lại càng gắn bó đoàn kết với nhau
hơn trong công cuộc xây dựng đất nước. Những thành tựu đạt được trên là cơ sở vững
chắc góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, nâng cao dân trí, nâng cao đời sống,
Tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Hậu Giang
- Về công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở địa phương Luật Tổ chức Hội
đồng nhân dân và ủy ban nhân dân quy định quyền hạn của ủy ban nhân dân như sau:17
Cấp tỉnh: Tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân
dân cùng cấp; tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở địa
phương.
Cấp huyện: Chỉ đạo, tổ chức công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiểm tra
việc chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước
cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Cấp xã: Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật; giải quyết các vi phạm pháp
luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật.
- Trong Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg ngày 07/01/1998 của Thủ tướng Chính phủ
về việc tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay.
- Quyết định số 03/1998/QĐ-TTg đã chỉ rõ “chú trọng hình thức tuyên truyền
miệng trong việc phổ biến, triển khai thực hiện các văn bản pháp luật cần thiết cho
từng đối tượng, nhất là cán bộ chính quyền cấp cơ sở, các tầng lớp nhân dân” và “xác
định rõ các biện pháp phổ biến, giáo dục pháp luật cho từng đối tượng như tuyên
truyền miệng, biên soạn tài liệu, các phương tiện thông tin đại chúng…”
- Ngày 17/1/2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 13/2003/QĐTTg phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2003 đến năm 2007
trong đó dành một mục lớn quy định các hình thức, biện pháp phổ biến, giáo dục pháp
luật chủ yếu.
- Thông tư số 01/2003/TT-BTP ngày 14/3/2003 quy định một số hình thức phổ
biến, giáo dục pháp luật như phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống loa truyền
thanh cơ sở, tủ sách pháp luật, biên soạn tài liệu pháp luật, cuộc thi tìm hiểu pháp luật,
câu lạc bộ pháp luật, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, giáo dục pháp luật trong nhà
trường.
- Để tiếp tục đưa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật lên một tầm cao mới, đáp
luật, đặc biệt là các hoạt động phối hợp, là những mốc quan trọng đánh dấu bước phát
triển mới của công tác phổ biến giáo dục pháp luật.
Qua việc phân tích những vấn đề lý luận cơ bản của tuyên truyền, giáo dục pháp
luật và tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc ít người của nước
ta hiện nay cho thấy: tuyên truyền, giáo dục pháp luật là một hoạt động có định
hướng, có tổ chức nhằm cung cấp tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm và hành vi
hợp pháp cho đối tượng tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nhằm nâng cao ý thức pháp
luật đúng đắn và thói quen hành động phù hợp với các quy định của pháp luật. Từ đó
tạo ra một trật tự xã hội, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Tuyên truyền, giáo dục pháp luật là quá trình nhằm nâng cao dân trí pháp lý. Vì
vậy, để đạt được mục đích đó, chủ thể tuyên truyền pháp luật phải tìm hiểu, nghiên
cứu các đối tượng tuyên truyền, giáo dục pháp luật để áp dụng hình thức và phương
pháp tuyên truyền phù hợp nhằm mang lại hiệu quả cao. Vì thế, khi tiến hành tuyên
truyền phải phân loại đối tượng, đặc biệt là nhân dân các dân tộc ít người thì phải có
phương pháp tuyên truyền phù hợp, dễ nhớ, dễ hiểu tránh lấy tư duy vòng vo, trừu
tượng. Khi tuyên truyền cho nhân dân các dân tộc ít người ở Hậu Giang còn phải chú
ý đến đặc điểm đối tượng. Trên cơ sở đó, chủ thể tuyên truyền sẻ lựa chọn nội dung
pháp luật nào phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở địa phương, ưu tiên cho việc
tuyên truyền giáo dục pháp luật đối với những lĩnh vực nào mang tính chất cấp bách,
Cán Bộ Hướng Dẫn: Nguyễn Hữu Lạc
17
Sinh Viên Thực Hiện: Thị Mỹ Anh
Tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Hậu Giang
thời sự liên quan đến đời sống hàng ngày của họ. Những nội dung cơ bản của tuyên
truyền, giáo dục pháp luật được phân tích ở chương 1 sẽ là cơ sở cho việc phân tích
đánh giá thực trạng tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc ít
hoặc tạm trú ở tỉnh Hậu Giang. Họ là học sinh, họ là nông dân, công nhân, là người lao
động khác ở các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội trong phạm vi một tỉnh. Đây là
đối tượng có tính “phổ biến” trong đó có tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho các học
sinh trong nhà trường từ cấp tiểu học đến phổ thông trung học.
Theo báo cáo tổng kết công tác của tỉnh Hậu Giang hiện nay trong tỉnh có 7.533
hộ đồng bào dân tộc thiểu số cùng sinh sống. Trong khi cả nước có 54 dân tộc anh em,
Vì vậy đặc điểm tâm lý dân tộc bản sắc từng dân tộc, hoàn toàn khác nhau. Trình độ
học vấn nói chung của đa số các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hậu Giang là chưa cao. Đa số
nhân dân các dân tộc ít người đều không biết tiếng nói và chữ viết của người Kinh, đây
là hạn chế lớn nhất khi tiếp thu những kiến thức về pháp luật.
Tâm lý dân tộc ít người thường hay tự ti, bảo thủ, gồm cả tư tưởng cục bộ dân
tộc, địa phương chủ nghĩa, các cộng đồng, các cụm dân cư, các dòng họ có phong tục
18
Phạm Hàn Lâm, Giáo dục pháp luật cho dân tộc ít người ở Đăk Lắk-thực trạng và giải pháp, luận văn Thạc sỹ
luật học, năm 2001, tr. 30.
Cán Bộ Hướng Dẫn: Nguyễn Hữu Lạc
19
Sinh Viên Thực Hiện: Thị Mỹ Anh
Tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Hậu Giang
tập quán riêng biệt.19 Nhân dân các dân tộc ít người vẫn còn sử dụng hệ thống luật tục.
Luật tục vừa mang tính dân tộc vừa mang tính khu vực. Luật tục có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến đời sống đồng bào dân tộc. Luật tục có tính tiến bộ, tích cực được Nhà nước
thừa nhận và cộng đồng các cư dân tự giác tuân theo. Bên cạnh đó, vẫn còn các hủ tục
nặng nề, lạc hậu như thách cưới, tang ma, lấy nhiều vợ, tảo hôn… Vì thế, ở nhiều vùng
21
Điều 16, khoản 1, Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, Nxb. pháp lý Hà Nội, năm 2003.
22
Điều 1, điều 2. Thông Tư 18/ 2010/ TT-BTP, Quy chế về báo cáo viên pháp luật,
/>A%20KY.doc. [truy cập ngày 20-12-2012].
Cán Bộ Hướng Dẫn: Nguyễn Hữu Lạc
20
Sinh Viên Thực Hiện: Thị Mỹ Anh