MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ
HỌC CỦA HỌC VIÊN HỆ ĐẠI HỌC Ở HỌC VIỆN
QUÂN Y
14
1.1. Các khái niệm cơ bản
14
1.2. Nội dung quản lý hoạt động tự học của học viên hệ đại học
ở Học viện Quân y
24
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tự học của học
viên hệ đào tạo đại học ở Học viện Quân y
30
Chương 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ
HỌC CỦA HỌC VIÊN HỆ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC Ở
HỌC VIỆN QUÂN Y
38
2.1. Khái quát chung về Học viện Quân y
38
2.2. Thực trạng hoạt động tự học của học viên hệ đào tạo đại học
ở Học viện Quân y
43
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động tự học của học viên hệ đào tạo
đại học ở Học viện Quân y
49
Chương 3. BIỆN PHÁP VÀ KHẢO NGHIỆM BIỆN PHÁP QUẢN
LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC VIÊN HỆ ĐÀO
TẠO ĐẠI HỌC Ở HỌC VIỆN QUÂN Y
trình tự học giúp học viên từng bước chiếm lĩnh tri thức chung của nhân
loại cho riêng mình một cách tự giác, tích cực và độc lập đã trở thành một
yếu tố quyết định chất lượng đào tạo ở các nhà trường Đại học hiện nay. Vì
vậy nghiên cứu về tự học để nâng cao hiệu quả tự học trong hoạt động dạy
học ở Đại học càng trở nên quan trọng và cấp thiết.
Tự học ở Đại học là một trong những hình thức tổ chức dạy học cơ
bản có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân nhưng có quan hệ
chặt chẽ với quá trình dạy học. Nội dung của tự học rất phong phú, bao
gồm toàn bộ những công việc học tập do cá nhân và có khi do tập thể học
viên tiến hành ngoài giờ học chính khóa hoặc do bản thân học viên độc lập
tiến hành ngay trong giờ chính khóa như: Đọc sách ghi chép theo cách
riêng, làm bài tập, tham gia các hoạt động thực tế …
3
Thực tiễn cho thấy, ngoài việc hoàn thành các nhiệm vụ học tập theo
chương trình đào tạo, nhờ tự học, học viên còn nâng cao trình độ văn hóa
chung cho mình để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống đặt ra. Ngoài ra, nếu tổ
chức tốt công tác tự học sẽ giúp cho học viên phát triển tính tự giác, tích
cực và tính độc lập nhận thức, khắc phục tính thụ động, ỷ lại vào thầy hoặc
người khác; làm quen với cách làm việc độc lập - tiền đề, cơ sở để nâng
cao học vấn đáp ứng sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong thực tiễn
công tác sau này; bồi dưỡng hứng thú học tập, rèn luyện ý chí phấn đấu,
đức tính kiên trì, óc phê phán, nâng cao niềm tin và năng lực bản thân.
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của tự học, những năm qua. Dưới
sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thường vụ, Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện
Quân y đã có chủ trương, biện pháp cụ thể nâng cao chất lượng đào tạo.
Đặc biệt, vấn đề tự học, tự nghiên cứu của học viên được tạo điều kiện tối
đa, giúp các em có những trải nghiệm thực tiễn, lĩnh hội kiến thức, rèn
luyện kỹ năng, tay nghề và bản lĩnh của người thầy thuốc tương lai. Kết
nghiên cứu một cách cụ thể và hệ thống. Từ những lý do trên, chúng tôi lựa
chọn “Quản lý hoạt động tự học của học viên hệ đào tạo đại học ở Học
viện Quân y” làm đề tài nghiên cứu với mong muốn đưa ra những kiến giải
khoa học trước thực trạng nêu trên, góp phần nâng cao chất lượng quản lý
hoạt động dạy học, chất lượng giáo dục và đào tạo ở HVQY hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
* Những tư tưởng và nghiên cứu về tự học trên thế giới
Trong lịch sử giáo dục, vấn đề tổ chức hoạt động tự học được quan
tâm từ rất sớm. Ý tưởng dạy học coi trọng người học, chú ý đến tự học đã
có từ thời cổ đại, tuy chưa đề cập trực tiếp đến vấn đề tự học nhưng đã
bước đầu khẳng định vai trò và ý nghĩa to lớn của việc tự tìm tòi học hỏi,
khám phá, trang bị tri thức cho bản thân. Tuỳ theo từng giai đoạn lịch sử và
mức độ phát triển của xã hội mà ý tưởng này đã phát triển và trở thành
quan điểm dạy học tiến bộ ngày nay.
5
Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa ra đời đã quan tâm đến hoạt động học tập cho tất cả mọi người. Hoạt động
học tập của ngưòi học ngày càng được cải tiến theo hướng tự học, khơi dậy và
phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo của người học, biến quá trình đào tạo
thành quá trình tự đào tạo là mục tiêu cơ bản của ngành giáo dục.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, nhà
giáo dục lớn đã trực tiếp đào tạo ra nhiều thế hệ học trò xuất sắc, những
chiến sĩ cách mạng kiên cường cho cách mạng Việt Nam. Cuộc đời của
Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về mọi mặt, trong đó có tấm
gương về tự học - thực hiện việc tự học trong suốt cuộc đời của mình.
Người dạy “về cách học phải lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo
giúp vào” chính là quy luật và cũng là lời dạy mà Hồ Chủ Tịch đã rất nhấn
Bộ: “Nghiên cứu hoạt động tự học của học viên sư phạm” (1994) cũng đi
đến khẳng định: Vị trí và quan hệ của tự học trong hoạt động dạy - học ở
đại học: Hoạt động tự học không thể tách rời khỏi hoạt động dạy và vai trò
chỉ đạo của giảng viên. Kỹ năng tự học gồm: Kỹ năng định hướng, kỹ năng
giao tiếp, kỹ năng nhận thức, kỹ năng thiết kế và tổ chức, kỹ năng tự kiểm
tra, kỹ năng tự đánh giá, tự điều chỉnh.
Hay như tác giả Võ Quang Phúc cũng đã chỉ ra [30]: Tự học là yếu tố
“trội” của học, với những đặc điểm riêng của nó, trong mối quan hệ dạy học - tự
học.
Có 05 kiểu tự học: Tự học độc lập mò mẫm; Tự thân vận động; Tự
học có sự hướng dẫn từ trước; Tự học có sự hướng dẫn từ xa; Tự học trong
hoạt động dạy - học.
Có 04 nhóm kỹ năng tự học: Kỹ năng lập kế hoạch tự học; Kỹ năng
nghe và ghi bài trên lớp; Kỹ năng ôn tập; Kỹ năng đọc sách.
Nhận thức được vai trò của tự học, quản lý hoạt động tự học nâng cao
chất lượng học tập của học viên trong nhà trường quân đội, nhiều tác giả đã
quan tâm nghiên cứu. Tiêu biểu như:
Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Sư phạm - tâm lí “Những phương hướng tổ
chức hoạt động tự học của sinh viên các trường quân sự” của tác giả Trịnh
Quang Từ đã tập trung nghiên cứu đưa ra các phương hướng tổ chức hoạt động
tự học như: Xây dựng một hệ thống bài tập nhận thức theo hướng tăng dần độ
khó, chỉ ra cho sinh viên biết tự kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động tự học.
7
Cùng với các biện pháp trên, tác giả đã xây dựng hệ thống KNTH cho sinh viên
quân sự.
Luận án Tiến sĩ Giáo dục học “Những giải pháp cơ bản bồi dưỡng
phương pháp tự học cho sinh viên đào tạo sĩ quan ở các trường đại học quân
Hùng (2014) về đề tài: “Quản lý hoạt động tự học của học viên trong đổi mới
phương pháp dạy học ở Trường Sĩ quan Chính trị” [23], từ lý luận và thực
tiễn quản lý hoạt động tự học của học viên trong đổi mới phương pháp dạy
học ở Trường Sĩ quan Chính trị. Tác giả đã xác định 5 biện pháp cơ bản đó là:
Tăng cường giáo dục, xây dựng động cơ, thái độ tự học đúng đắn cho học
viên; chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện kế hoạch tự học của học viên theo xu
thế đổi mới phương pháp dạy học; đổi mới các hình thức, phương pháp quản
lý hoạt động tự học của học viên; đổi mới phương pháp, hình thức kiểm tra,
đánh giá kết quả tự học của học viên; bảo đảm cơ sở vật chất và môi trường
thuận lợi đáp ứng nhu cầu tự học trong đổi mới phương pháp dạy học.
Tác giả Lê Văn Cao (2016), về đề tài: “Quản lý hoạt động tự học của học
viên cao học hệ quân sự ở Học viện Chính trị hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ
Quản lý Giáo dục, Học viện Chính trị [5]. Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý
luận, thực tiễn quản lý hoạt động tự học của học viên cao học, từ đó đề
xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên cao học hệ quân
sự ở Học viện Chính trị góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trình độ
Thạc sĩ cho đội ngũ cán bộ chính trị, giảng viên và cán bộ nghiên cứu khoa
học xã hội và nhân văn quân sự, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo của
Học viện Chính trị hiện nay. Ngoài ra, có các tác giả với các nghiên cứu
như: Luận văn Thạc sĩ của tác giả Hoàng Văn Thượng: “Một số biện pháp nâng
cao chất lượng hoạt động tự học của giáo viên tiểu học huyện Quan Hóa - tỉnh
Thanh Hóa”; luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Lý: “Những biện pháp
nâng cao kết quả hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng Sư phạm Kon
Tum”
Như vậy, vấn đề tự học trong quá trình dạy học đã được nhiều nhà
khoa học, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau,
các tác giả đã chỉ ra vai trò, tầm quan trọng của hoạt động tự học, các kỹ
9
Đề tài tập trung nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lý hoạt động tự
học của học viên quân sự hệ đào tạo đại học ở Học viện Quân y. Các số liệu
điều tra, khảo sát tính từ năm 2012 đến nay.
5. Giả thuyết khoa học
Chất lượng và hiệu quả quá trình tự học của học viên phụ thuộc vào
nhiều yếu tố. Nếu trong quản lý hoạt động tự học của học viên các chủ thể
quản lý chặt chẽ công tác giáo dục, xây dựng động cơ, thái độ học tập đúng
đắn cho học viên; chỉ đạo xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch tự học cho
học viên; quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên, thúc đẩy giảng viên
cải tiến phương pháp giảng dạy giúp học viên tự học có hiệu quả; kết hợp
đồng bộ giữa quản lý chủ thể và vai trò của tự quản lý trong tự học của học
viên; thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của học viên thì có
thể nâng cao chất lượng tự học, hình thành năng lực tự học của học viên,
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của Học viện.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về giáo dục, QLGD, trực tiếp là các chủ trương quan
điểm về đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT, nâng cao chất lượng, quản lý
dạy học, phát huy vai trò của tự học tập của mỗi người. Đề tài sử dụng các
quan điểm tiếp cận hệ thống - cấu trúc, quan điểm logic - lịch sử và quan
điểm thực tiễn để luận giải các nhiệm vụ của đề tài.
* Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu khoa học, các văn kiện,
nghị quyết, văn bản pháp quy của Đảng, Nhà nước, Ngành liên quan đến
GD&ĐT và quản lý GD&ĐT; các tạp chí, thông tin, sách chuyên khảo tham
viện Quân y nói riêng.
12
8. Kết cấu của đề tài
Cấu trúc luận văn gồm: Phần mở đầu, 3 chương (8 tiết), và kết luận,
kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục.
13
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
CỦA HỌC VIÊN HỆ ĐẠI HỌC Ở HỌC VIỆN QUÂN Y
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Hoạt động tự học của học viên hệ đại học ở Học viện Quân y
Tự học là một trong những hoạt động cơ bản của học viên ở các
trường đại học, nhiều nhà giáo dục cho rằng học ở đại học chủ yếu là tự
học. Chính vì vậy, nâng cao chất lượng tự học của học viên các trường đại
học luôn là một vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Khi nghiên cứu về tự học có rất nhiều các quan niệm khác nhau. Theo
tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức trong cuốn lý luận dạy học đại học thì
“Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học. Đó là một hình
thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và
kỹ năng do chính người đọc tự tiến hành trên lớp hoặc ở ngoài lớp theo hoặc
không theo một chương trình sách giáo khoa đã được quy định” [14, tr. 165].
Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy
nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp
… ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh
vực đó thành sở hữu của mình”. [35, tr. 60]
học tập. Tự học giúp cho học viên hình thành phương pháp tự học phù hợp,
làm phong phú và hoàn thiện hơn vốn hiểu biết của mình. Hình thành phẩm
chất trí tuệ và rèn luyện nhân cách người học. Đồng thời tự học còn rèn
luyện cho học viên có nếp sống văn minh, phương pháp làm việc khoa học,
đức tính kiên trì, óc phê phán và lòng nhiệt tình say mê nghiên cứu. Tự học
là nhân tố quyết định đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập.
Mục đích hoạt động tự học của học viên ở HVQY: Là nắm vững hệ
thống tri thức, thành thạo kỹ xảo, kỹ năng, hình thành thái độ đúng đắn của
một người Bác sĩ trong tương lai theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo của HVQY.
Cụ thể như sau:
15
Về kiến thức: Tự lĩnh hội các kiến thức khoa học cơ bản, y học cơ sở
làm nền tảng cho y học lâm sàng và chuyên khoa; có những kiến thức cơ
bản về chẩn đoán, điều trị, tư vấn và phòng bệnh; có phương pháp luận
khoa học trong công tác phòng bệnh, chữa bệnh và nghiên cứu khoa học;
nắm vững pháp luật và chính sách về bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe
nhân dân.
Về kỹ năng: Lĩnh hội và rèn luyện các kỹ năng như thực hiện được
công tác tư vấn, giáo dục sức khỏe, tổ chức chăm sóc và nâng cao sức khỏe
nhân dân; chẩn đoán, xử lý các bệnh và cấp cứu thường gặp; định hướng
chẩn đoán và điều trị bước đầu một số bệnh chuyên khoa; chỉ định, đánh
giá được một số xét nghiệm, kỹ thuật thăm dò chức năng cơ bản; đề xuất
được các biện pháp xử lý thích hợp để chăm sóc, nâng cao sức khỏe cộng
đồng và bảo vệ môi trường sức khỏe … vv.
Về thái độ: Tự rèn luyện, tự trau dồi các thái độ, phẩm chất như tận
tụy với sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân; tôn
trọng, cảm thông, hết lòng phục vụ người bệnh; tôn trọng, chân thành hợp
tác với đồng nghiệp; giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của ngành;
trong các phòng labo (thực tập cơ sở), và tại bệnh viện (thực tập lâm sàng)
có vị trí vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành phẩm chất và năng
lực của người Bác sĩ trong tương lai. Vì vậy, quản lý hoạt động tự học của
học viên HVQY cần phải coi đây là một nội dung quản lý trọng tâm.
Về nội dung tự học thường xuyên: Là những nội dung tự học diễn ra
hàng ngày, thể hiện ở việc giải quyết các nhiệm vụ tự học cụ thể. Nội dung
hoạt động tự học rất phong phú, có thể kể đến: Nghiên cứu bút ký; đọc và
nghiên cứu giáo trình, tài liệu; ghi chép tài liệu học tập; ghi nhớ tài liệu học
tập; chuẩn bị cho các buổi học sau, bài học sau; trao đổi, tranh luận, học
hỏi; ôn luyện ... vv.
Về nội dung tự học mở rộng: Ngoài những nội dung tự học bắt buộc
theo mục tiêu, yêu cầu, chương trình đào tạo của nhà trường, học viên có
17
thể tự học - tự nghiên cứu những lĩnh vực tri thức theo sở thích, sở
trường cá nhân.
Nội dung tự học thường xuyên có ý nghĩa là phương tiện từng bước
thực hiện và hướng tới nội dung tự học cơ bản. Nội dung tự học cơ bản
biểu hiện cụ thể và được thực hiện thông qua nội dung tự học thường
xuyên. Nội dung tự học mở rộng có tác động tích cực, bổ sung, làm phong
phú hơn cho nội dung tự học cơ bản và nội dung tự học thường xuyên.
Tự học của học viên luôn luôn có mối quan hệ chặt chẽ với các thành
tố của quá trình sư phạm ở đại học như: Mục tiêu, nội dung, phương pháp
giảng dạy, kiểm tra - đánh giá, môi trường tự học ... tác động trực tiếp đến
việc tổ chức hoạt động tự học của học viên.
Tự học của học viên ở HVQY vừa có những điểm chung như: Tự học
của học viên đại học, vừa có nét riêng trong môi trường học tập ở
HVQY, đó là:
Hoạt động tự học của học viên hệ đào tạo đại học ở Học viện Quân y
thường (thường xuyên tiếp xúc với tử thi, giải phẫu). Cũng do tính quy
định của mục tiêu đào tạo mà không gian học tập của học viên có những
đặc điểm khác so với các đối tượng đào tạo khác, ngoài việc tự học tập,
nghiên cứu ở nhà, học tập trên giảng đường … học viên thường phải thực
hành, thực tập, lĩnh hội kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp thông qua việc thí
nghiệm, thực nghiệm, quan sát, thực hành thực tế trong phòng thí nghiệm,
đặc biệt là hoạt động thực tế ở các bệnh viện. Do đặc điểm hoạt động của
học viên rộng, phân tán, bởi vậy công tác quản lý HĐTH của học viên gặp
nhiều khó khăn. Để nâng cao hiệu quả quản lý, công tác giáo dục chính trị
tư tưởng, định hướng nghề nghiệp nhằm phát huy vai trò tích cực tự giác
trong học tập của học viên luôn có ý nghĩa quan trọng, góp phần trực tiếp
vào nâng cao chất lượng học tập của họ.
Ngoài ra, phương pháp, phương tiện tự học của học viên ở HVQY
cũng có những yếu tố khác biệt. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đào tạo,
19
học viên phải thực hiện nhiều hành động học tập. Ngoài thực hiện quy trình
học tập chung, học viên luôn phải coi trọng thực hành thực tập, ôn luyện
thường xuyên liên tục. Qua đó phát triển các kỹ năng nhận biết, so sánh,
phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa, luyện tập kỹ năng nghề
nghiệp đáp ứng với yêu cầu đòi hỏi của ngành y.
Về phương tiện tự học của học viên cũng rất đa dạng, ngoài giấy, bút,
sách, giáo trình, máy vi tính thông thường còn có những tài liệu, phương
tiện học tập mang tính đặc trưng nghề nghiệp như mô hình cơ thể người,
xác người, kính hiển vi, dụng cụ thực hành, phòng học kỹ thuật, người
bệnh, bệnh viện … Đặc điểm này đòi hỏi công tác quản lý HĐTH của học
viên phải rất cụ thể, chu đáo trên tất cả các mặt. Từ công tác kế hoạch, công
tác điều hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra đôn đốc … đều phải được tiến
hành một cách khoa học. Thực hiện không đúng những yêu cầu trong công
học. Chủ động, tích cực trao đổi với giảng viên, người hướng dẫn về
những phần kiến thức khó, kiến thức không hiểu và những phần kiến thức
người học muốn đi sâu tìm hiểu rõ hơn.
1.1.2. Quản lý hoạt động tự học của học viên hệ đào tạo đại học ở
Học viện Quân y
Quản lý là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại
khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi
quốc gia, mọi thời đại. Thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa
có một định nghĩa thống nhất. Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều định nghĩa
quản lý từ các góc độ khác nhau:
Theo Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là quá trình gây tác động của chủ thể
quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung”. [2, tr. 16]
Theo Trần Hồng Quân: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ
đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị
quản lý) trong tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục
đích của tổ chức”. [32, tr. 176]
21
Tác giả Hà Sỹ Hồ cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động có định
hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các
thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận
hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã
định”. [22, tr. 25]
Như vậy, quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản
lý một cách có định hướng, có chủ định nhằm làm cho tổ chức vận hành, đạt
mục tiêu mong muốn bằng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.
Từ những cách tiếp cận về quản lý, chúng ta thấy các khái niệm quản
lý có điểm chung đó là: Quản lý bao giờ cũng tồn tại với tư cách là một hệ
thống bao gồm có hai yếu tố: Chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Chủ
Chủ thể quản lý hoạt động tự học của học viện hệ đào tạo đại học ở
HVQY là: Ban Giám đốc, đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý phòng đào tạo,
ban khảo thí, tập thể học viên và chính bản thân mỗi học viên. Trong đó
quan trọng nhất là sự tự quản lý của mỗi học viên, của đội ngũ giảng viên và
cán bộ quản lý trực tiếp, vì vậy để nâng cao chất lượng tự học của học viên
thì công tác quản lý cần phát huy được vai trò của các nhân tố này.
Đối tượng quản lý học viện hệ đào tạo đại học ở HVQY là: Toàn bộ
hoạt động tự học của học viên và các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự
học có thể diễn ra một cách thuận lợi, có hiệu quả.
Nội dung quản lý học viện hệ đào tạo đại học ở HVQY bao gồm: Quản
lý các hoạt động giáo dục động cơ, thái độ, phương pháp, kỹ năng tự hoc
cho học viên; quản lý kế hoạch tự học và thực hiện kế hoạch tự học; quản
lý nội dung và phương pháp tự học; quản lý các điều kiện đảm bảo cho
hoạt động tự học; quản lý việc kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học.
Phương pháp và công cụ quản lý hoạt động tự học của học viện hệ đào
tạo đại học ở HVQY rất đa dạng như nhóm các phương pháp hành chính,
phương pháp kích thích động viên … tương ứng với các phương pháp quản
lý có các công cụ quản lý như quản lý bằng mệnh lệnh, chỉ thị, điều lệnh
23
quản lý bộ đội, qui chế giáo dục đào tạo của nhà trường … nhưng với đặc
điểm riêng của hoạt động tự học của học viên HVQY thì các phương pháp
và công cụ quản lý cần chú ý nhiều đến việc phát huy tính tự giác, chủ
động, tích cực của học viên, đồng thời cần tổ chức các hoạt động tự học
một cách khoa học, hợp lý, chú trọng việc lập kế hoạch và thực hiện kế
hoạch tự học của học viên.
1.2. Nội dung quản lý hoạt động tự học của học viên hệ đào tạo đại
học ở Học viện Quân y
Quản lý là một hoạt động tương đối phức tạp, để hoạt động này đạt
đó kế hoạch phải được xác định với tính hướng đích cao. Tức là kế hoạch
dài hạn, ngắn hạn thậm chí từng môn, từng học phần, từng tuần, từng ngày
phải được tạo lập thật rõ ràng, nhất quán cho từng thời điểm, từng giai
đoạn cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình. Vấn đề kế
tiếp là phải chọn đúng trọng tâm, những vấn đề cốt lõi để ưu tiên tác động
và dành nhiều thời gian cho nó. Nếu việc học dàn trải thiếu tập trung thì
chắc chắn hiệu quả sẽ không cao. Sau khi đã xác định được trọng tâm, phải
sắp xếp các phần việc một cách hợp lý, logic cả về nội dung lẫn thời gian,
đặc biệt cần tập trung hoàn thành dứt điểm từng phần, từng hạng mục theo
thứ tự ưu tiên thể hiện chi tiết trong kế hoạch. Điều đó sẽ giúp quá trình
tiến hành việc học được trôi chảy, thuận lợi. Kế hoạch tự học giúp cho
người học thực hiện các nhiệm vụ tự học một cách khoa học và hiệu quả.
Từ đó quản lý việc xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch tự học sẽ góp
phần nâng cao hiệu quả học tập của học viên.
Kế hoạch tự học của học viên HVQY ngoài việc thể hiện các nội dung
tự học trên lớp, ở nhà, học viên còn phải thể hiện cả nội dung tự học ở các
phòng thực hành labo và ở bệnh viện. Cán bộ quản lý cần đặc biệt quan
tâm tới việc thiết lập các mục tiêu và thực hiện các mục tiêu học tập của
học viên ở phòng labo và ở bệnh viện vì đây là nội dung tự học rất quan
trọng đóng vai trò then chốt trong việc hoàn thiện năng lực của học viên.
25
Ba là, tổ chức thực hiện kế hoạch tự học cho học viên hệ đào tạo đại
học ở HVQY.
Trong mục tiêu đào tạo của các trường cao đẳng, đại học nói chung,
mỗi ngành học đều có mục tiêu đào tạo riêng, bao gồm kiến thức cơ sở, cơ
bản và chuyên ngành. Đó là những nội dung học tập bắt buộc trong trường,
nhiệm vụ của học viên là phải hoàn thành nội dung học tập đó trong thời
gian quy định. Ngoài nội dung bắt buộc trong khung chương trình, học viên