LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý PHÁT TRIỂN đội NGŨ GIÁO VIÊN của HIỆU TRƯỞNG các TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG HUYỆN đà bắc, TỈNH hòa BÌNH - Pdf 42

2
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1

3
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
CỦA HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA
BÌNH
Các khái niệm cơ bản của đề tài
Nội dung quản lý phát triển đội ngũ giáo viên của hiệu
trưởng các trường trung học phổ thông
Những yếu tố tác động đến quản lý phát triển đội ngũ
giáo viên của hiệu trưởng các trường trung học phổ
thông huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình
Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên và quản lý phát
triển đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng các trường trung
học phổ thông huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình
YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ PHÁT
TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CỦA HIỆU
TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH
Các yêu cầu đề xuất biện pháp

14

2.2. Biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên của hiệu
trưởng các trường trung học phổ thông huyện Đà Bắc,

96
100
104


3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến nguồn lực con người, xem
nguồn lực con người là nhân tố quyết định sự phát triển bền vững của đất
nước. Chính vì vậy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta
luôn coi trọng nhiệm vụ giáo dục và đào tạo. Nghị quyết Hội nghị Trung
ương lần thứ 2 (khóa VIII) xác định: “giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu,
là động lực phát triển kinh tế xã hội” [6, tr. 38]. Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ XI tiếp tục khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu... Đổi
mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện
đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế
QLGD, phát triển ĐNGV và CBQL là khâu then chốt” [8, tr.130, 131].
Trong hệ thống giáo dục quốc dân hiện nay, giáo dục bậc THPT có vai
trò quan trọng góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài cho đất nước. Mục tiêu của giáo dục THPT nhằm trang bị cho HS kiến
thức phổ thông cơ bản và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật, công nghệ,
hướng nghiệp để tiếp tục học lên bậc giáo dục nghề nghiệp, cao đẳng, đại học
hoặc đi vào thực tiễn cuộc sống.
Đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo, ĐNGV luôn được xem là lực
lượng nòng cốt, là nhân tố quan trọng quyết định chất lượng giáo dục, biến
mục tiêu giáo dục thành hiện thực. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng
khẳng định “ Không có thầy giáo thì không có giáo dục… không có giáo dục,
không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế- văn hoá”. Chỉ thị 40-CT/TW
của Ban Bí thư Trung ương Đảng cũng chỉ rõ: " Phải tăng cường xây dựng đội

các giải pháp phát triển phẩm chất, năng lực của họ [15, tr.10-13].
Trong bài tham luận “Nghề và nghiệp của người giáo viên” đăng tải trong
Kỷ yếu Hội thảo Nâng cao chất lượng đào tạo toàn quốc lần thứ 2, tác giả Nguyễn
Thị Mỹ Lộc đã đề cấp tính chất nghề nghiệp, động cơ của người GV. Từ đó, đề
xuất những yêu cầu về năng lực chuyên môn của người GV với tư cách là nền tảng
mô hình đào tạo GV thế kỷ XXI, [25, tr.1-4].


6
Trong bài viết “Chất lượng GV và những chính sách cải thiện chất lượng
GV” đăng trên Tạp chí Phát triển giáo dục số 2 năm 2003, tác giả Nguyễn Thanh
Hoàn đã trình bày khái niệm chất lượng GV, đặc điểm và năng lực đặc trưng của
một GV qua sự phân tích 22 năng lực cụ thể trên góc độ tiếp cận năng lực giảng
dạy và giáo dục, trên cơ sở đó, đề xuất những chính sách cải thiện và duy trì chất
lượng GV ở cấp vĩ mô và vi mô. [19, tr.6-9].
Tác giả Bùi Minh Hiền cho rằng, phát triển ĐNGV phải coi trọng ba
vấn đề chủ yếu: đủ về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng và đồng bộ về cơ
cấu. Tác giả đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên trong đó nhấn
mạnh đến sự gương mẫu của lãnh đạo nhà trường và xây dựng hệ thống thông
tin quản lý giáo dục minh bạch công khai. [17, tr.18].
Nghiên cứu về ĐNGV được triển khai ở nhiều góc độ khác nhau, đặc
biệt vấn đề quản lý ĐNGV và quản lý phát triển ĐNGV được quan tâm nhiều
nhất. Tuy nhiên các công trình đó chủ yếu đi sâu vào những nội dung nhất
định, chưa đề cấp để các biện pháp đồng bộ phát triển ĐNGV theo quy định
chuẩn nghề nghiệp.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề quản lý phát triển
ĐNGV trong trường THPT. Trong số đó có một số đề tài như: Cơ sở lý luận
khoa học QLGD (1984) của tác giả M.I. Kônđacốp [30]; Những vấn đề cốt yếu
về quản lý (1992) của tác giả Harlđ- Koontz [16].
Ở nước ta, một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến những vấn đề

trường THPT Thịnh Long tỉnh Nam Định theo chuẩn nghề nghiệp GV trung học
của Bộ GD&ĐT” (2010). Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng
ĐNGV của trường THPT ở một huyện ven biển tỉnh Nam Định, đề xuất những
biện pháp mang tính đặc thù cho việc quản lý ĐNGV của Nhà trường.
Trong lĩnh vực quân sự, đã có một số công trình đề tài, luận văn nghiên cứu
về phát triển ĐNGV và quản lý phát triển ĐNGV.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Xuân Hường “Một số giải pháp quản
lý phát triển đội ngũ giáo viên trường Trung học Phòng Không” (2002) và luận
văn thạc sĩ của tác giả Trương Quang Tùng “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên


8
trường Trung cấp Kỹ thuật Hải quân hiện nay” (2011) đã luận giải cơ sở lý luận
và thực tiễn của quản lý phát triển ĐNGV các nhà trường trung cấp chuyên
nghiệp trong quân đội, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý phát triển ĐNGV, góp
phần nâng cao chất lượng đào tạo ở các nhà trường quân đội.
Tác giả Vũ Văn Nghi với đề tài luận văn thạc sĩ “Phát triển đội ngũ giáo
viên chuyên môn kỹ thuật trường Trung cấp Kỹ thuật Xe máy, Tổng cục Kỹ
thuật” (2012) đã đi sâu phân tích tính đặc thù của việc phát triển ĐNGV chuyên
môn kỹ thuật từ đó đề xuất 4 biện pháp phát triển ĐNGV chuyên môn kỹ thuật,
trong đó đáng lưu ý là mỗi biện pháp đề xuất, tác giả đều nêu ra cách thức quản lý
phát triển ĐNGV.
Tóm lại, các công trình và các luận văn nêu trên đã luận giải ở nhiều
khía cạnh khác nhau về phát triển ĐNGV và quản lý phát triển ĐNGV với tư
cách là chủ thể của hoạt động giáo dục đào tạo trong các nhà trường. Các
công trình đều khẳng định tầm quan trọng của phát triển ĐNGV và quản lý
phát triển ĐNGV. Đã làm rõ được nhiều vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn của
phát triển ĐNGV và quản lý phát triển ĐNGV.
Qua việc nghiên cứu, tham khảo các công trình nghiên cứu nêu trên,
có thể rút ra một số nhận xét sau đây:

quản lý phát triển ĐNGV ở các trung học phổ thông huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa
Bình hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn và đề xuất các biện pháp quản
lý phát triển ĐNGV của hiệu trưởng các trường THPT huyện Đà Bắc, tỉnh
Hòa Bình, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý phát triển ĐNGV của hiệu
trưởng các trường THPT.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng ĐNGV và thực trạng quản lý phát triển
ĐNGV của hiệu trưởng các trường THPT huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.


10
- Đề xuất các biện pháp quản lý phát triển ĐNGV của hiệu trưởng các
trường THPT huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Quản lý ĐNGV các trường THPT huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý phát triển ĐNGV của hiệu trưởng các trường THPT huyện Đà
Bắc, tỉnh Hòa Bình.
* Phạm vi, giới hạn nghiên cứu
Đề tài tập trung khảo sát thực trạng ĐNGV và thực trạng quản lý phát
triển ĐNGV của hiệu trưởng 03 trường THPT huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.
Các tài liệu, số liệu điều tra, khảo sát trong 5 năm: Từ năm 2010 đến
năm 2014.
5. Giả thuyết khoa học
Phát triển ĐNGV các trường THPT là một trong những nhiệm vụ

chức dạy học ở trường THPT.
Mặt khác, việc phát triển ĐNGV trường THPT cũng là một hệ thống
bao gồm nhiều khâu, nhiều chức năng có liên hệ mật thiết với nhau và có mối
quan hệ với việc phát triển các hoạt động của giáo dục và đào tạo .
Theo cách tiếp cận phức hợp, luận văn được nghiên cứu dựa vào nhiều
nguồn lý thuyết khác nhau như tâm lý học, giáo dục học, khoa học QLGD, lý
thuyết phát triển nguồn lực… làm cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp quản lý
phát triển ĐNGV của hiệu trưởng các trường THPT nhằm nâng cao chất lượng
phát triển đội ngũ này để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ GD &ĐT.
* Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành công trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng tổng hợp các
phương pháp nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn của khoa học giáo dục như:
- Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết bao gồm:
Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các văn bản nghị quyết,
các chỉ thị, hướng dẫn của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Giáo dục và
Đào tạo tỉnh Hòa Bình, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Đà Bắc, các cơ


12
quan chức năng huyện Đà Bắc và các báo cáo, các tài liệu tổng kết của các
trường THPT huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình liên quan đến các vấn đề giáo dục
đào tạo và quản lý phát triển ĐNGV THPT huyện Đà Bắc.
Nghiên cứu các tác phẩm về tâm lý học, giáo dục học, khoa học
QLGD… trong và ngoài nước. Các công trình nghiên cứu khoa học QLGD
của các nhà lý luận, các nhà QLGD, các nhà giáo… có liên quan đế đề tài như
các luận văn, luận án, các báo cáo khoa học, các chuyên khảo, các bài báo.
Các tài liệu trên được phân tích, nhận xét, tóm tắt và trích dẫn phục vụ trực
tiếp cho việc giải quyết các nhiệm vụ của đề tài.
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm:
+ Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động quản lý của hiệu

tra, khảo sát.
7. Ý nghĩa của đề tài
- Đề tài góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý phát triển ĐNGV
trường THPT.
- Đánh giá đúng thực trạng ĐNGV và thực trạng quản lý phát triển
ĐNGV của hiệu trưởng các trường THPT huyện Đà Bắc, xác định rõ nguyên
nhân của những thành tựu, hạn chế.
- Luận văn được nghiên cứu thành công có thể dùng làm tài liệu tham
khảo cho hiệu trưởng các trường THPT trong quản lý phát triển ĐNGV.
8. Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu gồm: Mở đầu; phần nội dung (2 chương, 7 tiết);
Kết luận và Kiến nghị; Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục.


14
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CỦA HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH
1.1. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1. Đội ngũ giáo viên trung học phổ thông
* Giáo viên
Giáo viên là chức danh nghề nghiệp của những người đảm nhiệm việc
dạy học trong các trường phổ thông, trường dạy nghề. Giáo viên có nhiệm vụ
truyền thụ các tri thức quy định trong chương trình dạy học của bậc học, cấp
học, bồi dưỡng tư tưởng tình cảm, đạo đức để học sinh phát triển nhân cách
toàn diện.
Tại Mục 1, Điều 70, Chương IV, Luật Giáo dục (Đã được sửa đổi, bổ
sung năm 2009) định nghĩa: “Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục mầm
non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp nghề, trung

Theo Từ điển Tiếng Việt thì đội ngũ là: “Số đông người sắp xếp có thứ
tự” [2, tr. 321].
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Đội ngũ là một tập thể người gắn kết
với nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh
thần và hoạt động theo một nguyên tắc” [1, tr. 21].
Các khái niệm về đội ngũ tuy khác nhau, nhưng đều thống nhất cho
rằng: Đội ngũ là một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực
lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hoặc
không cùng, nhưng đều có chung một mục đích nhất định.
Vậy đội ngũ là tập hợp gồm nhiều cá thể, hoạt động qua sự phân công,
hợp tác lao động, có chung mục đích, lợi ích và ràng buộc với nhau bằng
trách nhiệm pháp lý.
Trong giáo dục, khái niệm đội ngũ được sử dụng rộng rãi như: đội ngũ
giáo viên, đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ học sinh, đội ngũ sinh viên…
Từ điển Văn hóa Giáo dục Việt Nam định nghĩa: “Đội ngũ giáo viên là
tập thể những người đảm nhiệm công tác giáo dục và dạy học có đủ tiêu


16
chuẩn đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ quy định. Là lực lượng quyết định
hoạt động giáo dục của nhà trường” [22, tr. 103-105].
Từ những phân tích trên, có thể hiểu khái niệm đội ngũ giáo viên trung
học phổ thông như sau: Đội ngũ giáo viên trung học phổ thông là tập hợp
những người thực hiện các nhiệm vụ dạy học ở các trường trung học phổ
thông, đã được đào tạo nghiệp vụ sư phạm, có đầy đủ tiêu chuẩn phẩm chất
đạo đức và năng lực chuyên môn, nhiệp vụ theo quy định của Bộ Giáo dục và
quy chuẩn nghề nghiệp.
Đội ngũ giáo viên trung học phổ thông là lực lượng lao động tri thức,
một bộ phận tinh hoa của đất nước, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Họ là
lực lượng nòng cốt của chương trình cải cách và đổi mới giáo dục, là những

Nội dung phát triển ĐNGV THPT mang tính toàn diện ở mỗi cá nhân
và của cả đội ngũ.
Đối với mỗi GV, đó là sự phát triển về phẩm chất chính trị, tư tưởng
đạo đức, biểu hiện ở nhận thức, hành vi và thái độ chuẩn mực của người
thầy. Đồng thời phát triển ở họ những kiến thức về dạy học hiện đại, những
kiến thức chung về chính trị, xã hội và nhất là trình độ chuyên môn nghiệp
vụ sư phạm.
Đối với ĐNGV, sự phát triển thể hiện đủ về số lượng mà biểu hiện cụ
thể là phải cân đối với số lượng học sinh của năm học, khóa học theo quy
định của Bộ GD&ĐT.
Hiện nay theo quy định của Nhà nước định mức 2,25 giáo viên đứng
lớp cho 1 lớp học (Thông tư liên tịch số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV).
Định mức này bao hàm cả giáo viên dạy các môn văn hoá cơ bản, dạy thể
dục, giáo dục quốc phòng an ninh... Đơn thuần về số lượng thì việc xác định
số giáo viên cần có cho một trường THPT theo công thức: Số giáo viên cần
có = số lớp học x 2,25 giáo viên/ lớp.
Sự phát triển về chất lượng của ĐNGV phải toàn diện, đồng bộ cả về
phẩm chất chính trị, tư tưởng đạo đức, lối sống, thái độ nghề nghiệp và trình
độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm.
ĐNGV THPT phải đạt những chuẩn mực về những nội dung sau:


19
- Chuẩn về đạo đức tư cách của người thầy ở trường THPT. Biểu hiện ở thái
độ sư phạm đúng đắn, yêu nghề, tận tụy, gắn bó với nghề, thương yêu học sinh, có
bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức và lối sống trong sạch của người thầy.
- Chuẩn về trình độ chuyên môn. ĐNGV phải được đào tạo và có trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của lĩnh vực dạy học theo quy định của
Bộ GD&ĐT. Có kỹ năng kỹ xảo sư phạm để thiết kế tổ chức quá trình dạy
học, đảm bảo cho quá trình dạy học đạt chất lượng cao.

Phát triển ĐNGV là vấn đề cốt lõi của việc phát triển nguồn lực con
người, nguồn lực quý báu nhất có vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội.
1.1.3. Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng các
trường trung học phổ thông
Quản lý là một hoạt động có từ rất lâu, gắn liền với sự xuất hiện
của xã hội loài người. Ngày nay hoạt động quản lý càng trở nên phổ biến
và tiếp tục khẳng định vai trò của mình trong các hoạt động của đời sống
xã hội.
Nói đến hoạt động quản lý người ta hay nhắc đến ý tưởng sâu sắc của
C.Mác (1818-1883): “Một người độc tấu vĩ cầm điều khiển lấy mình, còn một
dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [26, tr. 480]
Theo quan niệm của các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc
“quản lý” được hiểu là “quá trình tác động có chủ hướng, có chủ đích của chủ thể
quản lý (người quản lý) đến khách thể (người bị quản lý) trong một tổ chức, nhằm
làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [3, tr.11].
Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, song có thể hiểu: quản lý là
một loại hoạt động xã hội, luôn gắn liền với một nhóm người hay một tổ chức xã
hội nào đó. Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của chủ
thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua các chức năng quản lý là kế hoạch
hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra giúp cho hệ thống ổn định, thích ứng, tăng
trưởng và phát triển.
Quản lý ĐNGV và quản lý phát triển ĐNGV là một bộ phận quan trọng
của quản lý giáo dục đào tạo trong các nhà trường.


21
Cũng như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý phát triển ĐNGV và
quản lý phát triển ĐNGV của hiệu trưởng vẫn còn nhiều điểm chưa hoàn toàn
thống nhất.

chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao
bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, trách nhiệm, tay nghề của
nhà giáo thông qua việc quản lý, phát triển đúng định định hướng và có hiệu
quả giáo dục để phát triển đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu ngày càng
cao của sự nghiệp CNH,HĐH đất nước.
Yêu cầu quản lý phát triển ĐNGV
Quản lý phát triển ĐNGV phải quán triệt sâu sắc nhiệm vụ cách mạng,
đường lối quan điểm giáo dục đào tạo của Đảng, Nhà nước, yêu cầu xây dựng
phát triển ĐNGV các nhà trường THPT trong thời kỳ mới.
Quản lý phát triển ĐNGV phải bám sát nhiệm vụ chính trị của nhà
trường là đào tạo những chủ nhân tương lai của đất nước.
Quản lý phát triển ĐNGV phải toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng
điểm, đảm bảo đủ về số lượng, cơ cấu hợp lý, chất lượng cao.
Đặc biệt tập trung xây dựng ĐNGV về phẩm chất, đạo đức nhà giáo,
phong cách sư phạm mẫu mực và có năng lực sư phạm, chuyên môn tốt.
Quản lý phát triển ĐNGV phải tiến hành bằng nhiều nội dung, hình
thức và biện pháp phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của địa phương và
thực tiễn của nhà trường.
1.1.4. Hiệu trưởng trường trung học phổ thông và vai trò của hiệu
trưởng trong phát triển và quản lý phát triển đội ngũ giáo viên
Điều 54 Chương III Luật Giáo dục ghi rõ: “ Hiệu trưởng là người chịu
trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận.
Hiệu trưởng các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân phải được
đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý trường học.
Tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng; thủ tục bổ nhiệm,
công nhận hiệu trưởng trường đại học do Thủ tướng Chính phủ quy định; đối
với các trường ở các cấp học khác do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy





24
ĐNGV, trên cơ sở đó quyết định đúng đắn các chủ trương, biện pháp quy
hoạch, kế hoạch bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp và sử dụng ĐNGV.
Hai là, hiệu trưởng có vai trò quan trọng trong tổ chức thực hiện phát
triển ĐNGV và trực tiếp quản lý phát triển ĐNGV
Hiệu trưởng là người trực tiếp tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo
dục nhằm nâng cao nhận thức và vai trò, trách nhiệm của các tổ chức và của
các giáo viên đối với phát triển ĐNGV của nhà trường. Hiệu trưởng chính là
người chỉ đạo tổ chức hoạt động, đồng thời là người “khởi động” và duy trì
sức mạnh của các tổ chức, của mỗi giáo viên trong việc huy động tiềm năng,
trí tuệ của tập thể và của từng người, đảm bảo cho ĐNGV của nhà trường
được phát triển đủ về số lượng, có chất lượng cao, có cơ cấu hợp lý về giới,
về trình độ đào tạo chuyên môn và về tuổi...
Trong các mối quan hệ, hiệu trưởng như một chiếc cầu nối giữa giáo
viên của nhà trường với các tổ chức, với các cơ quan quản lý cấp trên. Sự duy
trì các mối quan hệ của hiệu trưởng sẽ đảm bảo đầy đủ những thông tin về
ĐNGV để các cơ quan chức năng nắm bắt một cách chính xác, kịp thời,
khách quan và trung thực từ đó có những quyết sách đúng đắn trong việc
tuyển dụng, bố trí, đề bạt, bồi dưỡng và sử dụng ĐNGV.
Ba là, hiệu trưởng là người đảm bảo cho sự tự phát triển và tự bồi
dưỡng của ĐNGV
Theo tác giả Bùi Minh Hiền: “Quản lý ngày nay là một nghề, người
quản lý không phải được thừa kế theo kiểu cha truyền con nối, càng không
phải được ngồi vào chức vụ nào đó do lọt vào mắt xanh của cơ quan cấp
trên” [17, tr. 281-282].
Như vậy, hiệu trưởng với tư cách là người đứng đầu, quản lý nhà
trường, với chức trách của mình phải được đào tạo, phải có những kỹ năng
quản lý. Một trong những kỹ năng cần thiết là kỹ năng phát huy tiềm năng,

Hiệu trưởng trường THPT với tư cách là người đứng đầu nhà trường có
chức năng lãnh đạo và quản lý nhà trường. Trong quản lý phát triển ĐNGV của
nhà trường, hiệu trưởng phải thực hiện những nội dung cơ bản sau:
1.2.1. Xây dựng quy hoạch đội ngũ giáo viên


26
Quy hoạch (lập kế hoạch nói chung) quản lý phát triển ĐNGV là một
tiến trình đề ra và thực hiện các công việc về nhân lực để đảm bảo đủ số
lượng, chất lượng, cơ cấu ĐNGV đáp ứng nhu cầu của nhà trường và đảm
bảo việc bố trí sử dụng đội ngũ có hiệu quả.
Trong quy hoạch người hiệu trưởng cần lưu ý tính toán số lớp trong
trường theo định mức học sinh/ lớp và định mức giáo viên/lớp theo Thông tư
liên tịch số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV, từ đó tính ra số giáo viên cần có.
Căn cứ vào số GV đang có, số giáo viên sẽ về hưu, nghỉ ốm, nghỉ đẻ để lập
kế hoạch tuyển dụng, bổ sung GV cho đủ số lượng.
Người hiệu trưởng phải tiến hành điều tra, khảo sát phẩm chất, trình độ
chuyên môn nghiệp vụ của GV. Trên cơ sở đó lập kế hoạch đào tạo bồi dưỡng
GV về phẩm chất chính trị, về chuyên môn nghiệp vụ sư phạm để chuẩn hóa
hoặc nâng chuẩn cho GV.
Xây dựng kế hoạch hoàn thiện cơ cấu GV bảo đảm tính đồng bộ và cơ
cấu về giới tính, độ tuổi, trình độ đào tạo, năng lực chuyên môn nghiệp vụ để
ĐNGV bổ sung cho nhau những mặt mạnh, mặt yếu, đảm bảo cho đội ngũ
hoàn thành nhiệm vụ giáo dục đào tạo đặt ra.
1.2.2. Tuyển chọn đội ngũ giáo viên
Tuyển chọn ĐNGV là quá trình sử dụng các phương pháp nhằm chọn
lựa, quyết định xem trong số những người dự tuyển, ai là người đủ tiêu
chuẩn làm việc trong nhà trường nhằm đảm bảo nhu cầu về số lượng GV
như bản quy hoạch đề ra.
Kế hoạch tuyển chọn phải căn cứ vào nhu cầu cần bổ sung GV và chỉ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status